cool hit counter

Sách


Lời giới thiệu Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp
Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa Thiền định phóng quang và đàm kinh nhập diệu
Nguyện hương Đoạn phiền não – tâm bình an
Đảnh lễ Phật Giàu đạo đức, giàu tuệ giác
Lễ Phật quá khứ Giới đức pháp thân
Đảnh lễ Phật hiện tại An trụ tịch diệt tướng
Lễ Phật vị lai Ý nghĩa Phật Đản theo kinh Pháp Hoa
Đảnh lễ Bồ tát Phật giáo và dân tộc Việt Nam
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh hoằng thông liệt vị Tổ sư Hoằng pháp ở thế kỷ XXI
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh thủ hộ thiện thần Dòng chảy miên viễn của Thiền
Sám hối Đức Phật sống mãi với chúng ta
Phát nguyện Đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật
Ý nghĩa thọ trì 7 phẩm Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Chùa mục đồng ở Nam bộ
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ nhất Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định của mọi thành công
Ý nghĩa phẩm Pháp sư Phật giáo, con đường dẫn đến sự sống hòa bình, phát triển, an lạc, hạnh phúc cho nhân loại.
Ý nghĩa phẩm Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15 Sức sống Thiền của Trần Thái Tông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 Sống trong tỉnh giác
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17 Quan niệm về kinh tế trong Phật giáo
Ý nghĩa phẩm Phổ Môn thứ 25 Những nét đẹp của Phật giáo Lý Trần
Ý nghĩa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28 Nghệ thuật trong Phật giáo
Hồi hướng Ý nghĩa nhà lửa tam giới trong kinh pháp hoa
Ý nghĩa tụng thủ hộ thần chú Ý nghĩa lễ tắm Phật
Ý Nghĩa Quy Y Tam Bảo Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm
Năm Giới Của Người Phật Tử Tại Gia Ý nghĩa Vu Lan  
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Pháp Hoa Và Tụng Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Sám Hối Nhứt Phật thừa
Ý Nghĩa Tụng Kinh Dược Sư Và Niệm Phật Dược Sư Quán tứ niệm xứ
Ý Nghĩa Niệm Phật Di Đà Tứ chánh cần
Lời nói đầu Tứ như ý túc
I. Lý do chọn 21 ngày tu gia hạnh Phổ Hiền
Ngũ căn ngũ lực
II. Ý nghĩa của sự khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày thành đạo của Phật Di Đà là ngày 17 tháng 11 và kết thúc vào ngày thành đạo của Phật Thích Ca là ngày mùng 8 tháng 12 Thất Bồ đề phần
III. Kết luận Thúc liễm thân tâm
Lời tựa Tùy duyên  
Tổng luận Thanh tịnh hóa thân tâm
Pháp hội 1 : Tam Tụ Luật Nghi Nhứt thiết Chúng sanh Hỷ kiến Bồ Tát
Pháp hội 2: Vô Biên Trang Nghiêm Đà la ni Chánh kiến
Pháp hội 3 : Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Tam quy và pháp niệm Phật
Pháp hội 5: Vô Lượng Thọ Như Lai Hài hòa để cùng tồn tại và phát triển
Pháp hội 6: Bất Động Như Lai Hạnh khiêm cung và bát kỉnh pháp
Pháp hội 7: Mặc Giáp Trang Nghiêm An lạc hạnh  
Pháp hội 8: Pháp Giới Thể Tánh Vô Sai Biệt Những kinh nghiệm giảng dạy
Pháp hội 9 : Đại Thừa Thập Pháp Kinh nghiệm giảng dạy Kinh Hoa Nghiêm
Pháp hội 10: Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn Một số đề tài gợi ý cho những bài thuyết giảng của Tăng Ni sinh Khóa Giảng sư
Pháp hội 11: Xuất Hiện Quang Minh & Pháp hội 12 : Bồ Tát Tạng Nổ lực tự học để kế thừa và phát huy được tinh ba của Thầy, Tổ.
Pháp hội 14: Phật Thuyết Nhập Thai Tạng Một số phương hướng cho ngành Hoằng pháp
Pháp hội 15: Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký Vài suy nghĩ về Hoằng pháp trong thời hiện đại
Pháp hội 16: Bồ Tát Kiến Thiệt Hoằng pháp trong thế kỷ 21
Pháp hội 17: Phú Lâu Na Nhà Hoằng pháp và giáo dục tiêu biểu trong thế kỷ XX
Pháp hội 18: Hộ Quốc Bồ Tát Hoằng pháp ở thế kỷ 21(thuyết giảng ngày 20 – 24 tháng 6 năm 2007)
Pháp hội 19: Úc Già Trưởng Giả Điểm chung nhứt của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền
Pháp hội 20: Vô Tận Phục Tạng Mô hình Hoằng pháp tại nước nhà trong thời đại ngày nay
Pháp hội 21: Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La Tư cách của vị trụ trì
Pháp hội 23: Ma Ha Ca Diếp Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại
Pháp hội 24: Ưu Ba Ly Ý nghĩa trụ trì
Pháp hội 25: Phát Thắng Chí Nguyện Trụ trì, người giữ chùa
Pháp hội 26: Thiện Tý Bồ Tát Kinh nghiệm làm trụ trì
Pháp hội 27 : Thiện Thuận Bồ Tát Tam pháp ấn
Pháp hội 28: Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả Nét đẹp của Phật giáo Nam Tông Khơ Me
Pháp hội 29: Ưu Đà Diên Vương Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện đại
Pháp hội 30: Diệu Huệ Đồng Nữ Điều thiết yếu của người tu : Sức khỏe tốt, trí sáng suốt và trái tim nhân ái
Pháp hội 31: Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di An trụ pháp tịch diệt
Pháp hội 32: Vô Úy Đức Bồ Tát Hoằng pháp và trụ trì
1. Lời tựa Đạo đức hành chánh
2. Khái niệm về kinh Duy Ma Ba điểm quan trọng đối với tân Tỳ kheo
3. Quán chúng sanh theo kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (Thuyết giảng tại chùa Phổ Quang)
4. Bất Nhị pháp môn trong kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (thuyết giảng tại chùa An Phước)
5. Ý nghĩa phẩm Phật Hương Tích trong kinh Duy Ma Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ : Học, tu và làm việc
6. Quan niệm về đức Phật trong kinh Hoa Nghiêm Truyền trao giới pháp và lãnh thọ giới pháp đúng như pháp.
7. Ý nghĩa lễ Phật theo kinh Hoa Nghiêm Giới tánh Tỳ kheo
8. Ý nghĩa phương tiện theo kinh Pháp Hoa Lời tựa       
9. Ý nghĩa thí dụ ba xe và nhà lửa trong kinh Pháp Hoa Tiểu sử
10. Ý nghĩa hóa thành dụ trong kinh Pháp Hoa Giới tánh tỳ kheo  
11. Pháp sư của kinh Pháp Hoa Hoằng pháp và trụ trì  
12. Ý nghĩa Long Nữ dâng châu trong kinh Pháp Hoa An lành và tĩnh giác
13. An Lạc Hạnh theo kinh Pháp Hoa Nghĩ về sự thành đạo của Đức Phật
14. Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất Mùa Xuân đọc kinh Hoa Nghiêm
15. Cảm niệm về Bồ Tát Phổ Hiền Sự lớn mạnh của Phật giáo song hành với thành phố phát triển 300 năm
Lời tựa Khai Thị 2009 Những quan niệm về Đức Phật
Xuân trong Phật đạo Thế giới tâm thức và thế giới hiện thực
Phước Lộc Thọ Pháp phương tiện
Hạnh xuất gia Tụng kinh, lạy Phật, sám hối và thiền quán
Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo Đức hạnh của vị Tỳ kheo
Hạnh nguyện Quan Âm Hành trình tâm linh : nẻo về vĩnh hằng của người tu
Tàm Quý Ý nghĩa Phật Đản PL. 2542 - 1998
Họa phước vô môn Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật
An cư kiết hạ Nương nhờ đức từ của Tam bảo
Phật giáo và vấn đề tác hại của thuốc lá Ý nghĩa Kim Cang thừa trong Phật giáo
Phật giáo và bảo vệ môi trường Cảm nghĩ về Đức Phật A Di Đà
Phật giáo và thiếu nhi Ý nghĩa Vu Lan 1998
Nói không với ma túy Bồ Tát Đạo
Đạo đức ở tại gia Mùa An cư : sáu thời tịnh niệm
Mỉm cười trong đau khổ Tinh thần Phật giáo Đại thừa
Phật giáo và dân số Phật giáo hướng về tương lai
Kính lão đắc thọ Ý nghĩa lễ Vu Lan PL 2542 - 1998 (thuyết giảng tại trường hạ chùa Hội Khánh)
Hành trì giới luật Chơn thân – huyễn thân
Ý nghĩa Vu lan Tư cách của vị trụ trì  
Hạnh nguyện Địa Tạng Bồ tát Tâm từ bi của Đức Phật
Nối vòng tay lớn 9 tuần tu học đồng đăng Cửu Phẩm Liên Hoa
Niềm vui của tuổi già Những việc cần làm trong 3 tháng An Cư
Kiến thức và trí tuệ Những việc cần làm trong 3 tháng an cư Suy nghĩ về linh hồn trong Phật giáo
Tình người Hoằng pháp   
Hạnh nguyện Bồ tát hay Bồ tát đạo Tìm hiểu ngôn ngữ của Đức Phật
Tha lực và tự lực Mùa Xuân trên đất Bắc
Hạnh nguyện Dược Sư Lời tựa        
Ơn Thầy Ý nghĩa cầu an
Vượt qua mặc cảm Hạnh nguyện Phổ Hiền
Lời tựa Lược giải Kinh Hoa Nghiêm Bản chất Niết bàn
Nghề nghiệp chân chánh Niềm tin chân chánh
CHƯƠNG I – LỊCH SỬ KINH HOA NGHIÊM
        I - Khái niệm về lịch sử kinh Hoa Nghiêm
Hóa giải hận thù
    II - Lịch sử truyền thừa và phát triển kinh Hoa Nghiêm Phật giáo và hòa bình thế giới
  III - Nội dung kinh Hoa Nghiêm Quốc thái dân an
CHƯƠNG II - Ý NGHĨA ĐỀ KINH HOA NGHIÊM Giải tỏa oan ức
CHƯƠNG III – QUAN NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT THEO KINH HOA NGHIÊM
       I - Quan niệm về Đức Phật trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
Vững trước khen chê
   II - Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Ý nghĩa sức mạnh hòa hợp
  III - Quan niệm về Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm Âm siêu dương thạnh
CHƯƠNG IV – BỒ TÁT ĐẠO
      I - Bồ tát Thập Tín
Thực tập nhẫn nhục
  II - Bồ tát Thập Trụ Thành công và thất bại
 III - Bồ tát Thập Hạnh Chiến thắng chính mình
IV - Bồ tát Thập Hồi hướng Thân cận người trí
 V - Bồ tát Thập Địa hay Thập Thánh Sống hạnh viễn ly
VI - Bồ tát Thập Định Ý nghĩa bờ bên kia
VII - Bồ tát Thập Thông Hương thơm đức hạnh
VIII - Bồ tát Thập Nhẫn Tòa án lương tâm
CHƯƠNG V – PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI Củng cố niềm tin
   1- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Đức Vân Tỳ kheo Giá trị cuộc sống
   2- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Vân Tỳ kheo Giáo dục con cái
   3- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Trụ Tỳ kheo Vượt qua tật bệnh
   4- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Di Già Đền ơn đáp nghĩa
   5- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Giải Thoát Thân phận con người
   6- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Tràng Tỳ kheo Sức mạnh của ý chí
   7- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hưu Xã Ưu bà di Quan niệm về Tịnh Độ
   8- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa Cư trần lạc đạo
   9- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thắng Nhiệt Bà la môn Làm mới cuộc sống
   10- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Từ Hạnh đồng nữ Lời tựa        
   11- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Kiến Tỳ kheo Ăn chay lợi cho sức khỏe và tâm linh
   12- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tự Tại Chủ đồng tử Chuyển hóa sanh thân thành pháp thân
   13- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Cụ Túc Ưu bà di Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam
   14- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Minh Trí Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị Tổ sư người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam
   15- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Pháp Bửu Kế Mật tông tại Việt Nam
   16- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Phổ Nhãn Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng
   17- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Vô Yểm Túc Phật giáo đi vào cuộc sống
   18- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Đại Quang Sự hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ
   19- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bất Động Ưu bà di Sức mạnh hòa hợp
   20- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Biến Hành ngoại đạo Tác động hỗ tương giữa thân và tâm
   21- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Ưu Bát La Hoa Tận dụng phương tiện hiện đại trong việc hoằng pháp
   22- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thuyền trưởng Bà Thi La Tứ chánh cần  
23.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Vô Thượng Thắng hay Di Lặc Bồ Tát Tu thiền tại Việt Nam
24- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân Vai trò của ni giới Việt Nam trong xã hội hiện đại
25- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với bà Tu Mật Đa nữ Ý nghĩa hóa thân Phật thuyết pháp
26- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Tỳ Sắc Chi La Ý nghĩa kệ dâng y
28.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Chánh Thu Ý nghĩa tập trung phân thân
27.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Quán Tự Tại Ý nghĩa tịnh độ
29- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thần Đại Thiên Cầu nguyện mùa vu lan
30- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Địa thần An Trụ Cư sĩ Phật giáo
31- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với chủ Dạ thần Bà San Bà Diễn Để Đạo đức Phật giáo trong tương lai
32- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Dạ thần Khai Phu Nhứt Thiết Thọ Hoa và Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Nhứt Thiết Chúng Sanh Điểm chung nhứt của Phật giáo nam truyền và bắc truyền  
33- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thọ thần Diệu Đức Viên Mãn Giới luật của người Phật tử tại gia
34- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ tát Di Lặc Bồ đề quyến thuộc
35- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Mối tương quan với thế giới siêu hình
36- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Phổ Hiền Bồ tát Chân tinh thần Phật giáo Bắc tông
CHƯƠNG VI – PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI – PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN Trồng căn lành và sám hối
16. Niết bàn theo kinh Pháp Hoa Lợi ích của an cư kiết hạ
17. Giáo dục của Phật Giáo Đại Thừa Tứ niệm xứ, tứ chánh cần
18. Những điều kiện tu Bồ Tát đạo Mùa xuân vĩnh hằng
19. Ngôi chùa tâm linh Kiến trúc Phật giáo
20. Hành trình về chân linh Kiến trúc Phật giáo  
21. Tu tâm Niềm tin của người phật tử Việt Nam
22. Canh tâm điền Sự an lạc trong gia đình
23. Đường về Yên Tử Báo đáp ơn nghĩa sinh thành
24. Nếp sống của một vị danh tăng Quan niệm về tịnh độ của kinh Di Đà
25. Ý nghĩa Phật Đản Pl.2538 (Tứ Nhiếp Pháp) Tam pháp ấn  
26. Ý nghĩa lễ đức Phật thành đạo Tinh thần từ bi hỷ xả, con đường tốt nhất đi đến hòa bình, phát triển và an lạc cho nhân loại
27. Phật giáo Việt Nam đang hướng về phía trước trên tinh thần vô ngã vị tha Từ bi và hòa bình trong Phật ngọc
28. Xuân hoan hỷ Tình yêu và giới tính theo tinh thần Pháp Hoa
29. Xuân trong cửa thiền Xây chùa, tô tượng, đúc chuông
30. Xuân của hành giả Pháp Hoa Xuân trong cửa đạo
Lời tựa lược giải kinh Pháp Hoa Bồ Tát Thích Quảng Đức, một bậc danh tăng siêu việt của thế kỷ 20
Lịch sử kinh Pháp Hoa Cái chết đối với người phật tử
Kinh đại thừa vô lượng nghĩa Giáo dục ở tự viện
Phẩm 1: Tựa Giới định tuệ
Phẩm 2: Phương tiện Khắc phục nghiệp, giữ chánh niệm, trụ chánh định
Phẩm 3: Thí dụ Khởi nghiệp mưu sinh theo Phật giáo
Phẩm 4: Tín giải Lễ Phật theo bổn môn Pháp Hoa
Phẩm 5: Dược thảo dụ Ngôi chùa tâm linh
Phẩm 6: Thọ ký Nhập không môn, vào vô lượng nghĩa định
Phẩm 7: Hóa thành dụ Nữ giới Phật giáo và sự kết nối toàn cầu
Phẩm 8,9: Ngũ bá đệ tử thọ ký, thọ học vô học nhơn ký Pháp phục của tăng ni Việt Nam
Phẩm 10: Pháp sư Phật giáo và môi trường sinh thái  
Phẩm 11: Hiện bảo tháp Phật giáo và phù đổng Thiên Vương
Phẩm 12: Đề Bà Đạt Đa Thâm nhập không môn
Phẩm 13: Trì Trụ định, hành trang tối thiểu của người tu
Phẩm 14: An lạc hạnh Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng
Phẩm 15: Tùng Địa Dũng Xuất Tu vô lượng nghĩa kinh, sống trong vô lượng nghĩa định, thâm nhập hội Pháp Hoa.
Phẩm 16: Như Lai thọ lượng Vô lượng nghĩa kinh và vô lượng nghĩa xứ tam muội
Phẩm 17: Phân biệt công đức Xây dựng đạo đức của người tu
Phẩm 18: Tùy hỷ công đức Yếu nghĩa của phẩm pháp sư, kinh Pháp Hoa
Phẩm 19: Pháp sư công đức Hướng đi của Phật giáo Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
Phẩm 20: Thường bất khinh Bồ Tát Những điều tâm đắc về hoằng pháp ( thuyết giảng tại Bình Định)
Phẩm 21: Như Lai thần lực Ý nghĩa Phật đản PL. 2550-2006
Phẩm 22: Đà La Ni Mỹ thuật Phật giáo
Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát bổn sự Vai trò của người phụ nữa trong kinh Hoa Nghiêm
Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát Những tư tưởng hòa bình, hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam
Phẩm 25: Phổ môn Đức Phật hằng hữu trong mỗi chúng ta
Phẩm 26: Diệu Trang nghiêm vương bổn sự Vai trò của Tăng già trong thời hiện đại
Phẩm 27: Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát Phật giáo trong nền toàn cầu hóa
Phẩm 28: Chúc lụy Giáo dục Phật giáo
Preface Một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa
Lời tựa lược giải kinh Duy Ma Ý nghĩa cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa
Tổng luận lược giải kinh Duy Ma Tịnh độ
Phẩm 1: Phật quốc Hóa thành dụ
Phẩm 2: Phương tiện   Phật giáo Nam tông vá Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Phẩm 3: Thanh văn Phật giáo trong lòng nhân dân miền Nam
Phẩm 4: Bồ Tát Vị trí của Pháp sư Huyền Trang trong Phật giáo
Phẩm 5: Văn Thù Sư Lợi thăm bệnh Xuân về trên cõi Tịnh
Phẩm 6: Bất tư nghì Vãng sanh cực lạc
Phẩm 7: Quán chúng sanh Cầu siêu bạt độ
Phẩm 8: Phật đạo Công đức của kinh Pháp Hoa
Phẩm 9: Nhập bất nhị pháp môn Nghệ thuật trong Phật giáo  
Phẩm 10: Phật Hương Tích Hoằng pháp ở thế kỷ 21
Phẩm 11: Bồ Tát đạo An cư dưỡng tánh - Thị phi phủi sạch
Phẩm 12: Kiến Phật A Súc Giữ giới và quán chiếu với tứ Thánh đế
Phẩm 13: Pháp cúng dường Gắn tâm với Đức Phật, với giáo pháp và Hiền thánh tăng
Phẩm 14: Chúc lụy Bốn pháp giải thoát
Lời tựa           Gạn sạch phiền não, nghiệp chướng, trần lao
Lịch sử Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Sám hối nghiệp chướng
Ý nghĩa Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Pháp Hoa chân kinh
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ I Ý nghĩa 12 đại nguyện của Đức Phật Dược Sư
Ý nghĩa phương tiện và chân thật Vũ trụ quan theo Phật giáo
Ý nghĩa Thí Dụ Sống an lạc, chết siêu thoát
Ý nghĩa phẩm Pháp Sư thứ 10 Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng
Ý nghĩa phẩm An Lạc Hạnh thứ 14 Quan niệm về đức Phật theo kinh Pháp Hoa  
Ý nghĩa phẩm Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ mười lăm Pháp Phật và an toàn giao thông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ mười sáu Đức Phật của chúng ta
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, phẩm Pháp Sư công đức thứ 19 Đạo đức Phật giáo
Bồ Tát hạnh: Dược Vương Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Diệu Trang Nghiêm Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Bồ tát hạnh theo kinh Pháp Hoa
Lời tựa           Mùa xuân của hành giả phát tâm bồ đề
Pháp Hội 33 : Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện Những điều tâm đắc về kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 34 : Công Đức Bửu Hoa Phu Bồ Tát Ý nghĩa Phật Đản PL 2543 - 1999
Pháp Hội 35 : Thiện Đức Thiên Tử Kinh nghiệm hoằng pháp  
Pháp Hội 36 : Thiện Trụ Ý Thiên Tử Tìm hiểu xã hội học Phật giáo
Pháp Hội 37 : A Xà Thế Vương Tử Theo dấu người xưa
Pháp hội 38: Đại Thừa Phương Tiện Những điều cần làm trong mùa An cư
Pháp Hội 39 : Hiền Hộ Trưởng Giả Bốn bậc trưởng lão được kính trọng
Pháp Hội 40 : Tịnh Tín Đồng Nữ Trở về viên minh tánh
Pháp Hội 41 : Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp Điều kiện để có kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 42 : Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại  
Pháp Hội 43 : Phổ Minh Bồ Tát Ý nghĩa an cư kiết hạ
Pháp Hội 44 : Bửu Lương Tụ Bồ tát quả môn
Pháp Hội 45 : Vô Tận Huệ Bồ Tát Mùa an cư - tiến tu tam vô lậu học
Pháp Hội 46 : Văn Thù Thuyết Bát Nhã Công việc của Tỳ kheo chân chánh
Pháp Hội 47 : Bửu Kế Bồ Tát Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ
Pháp Hội 48 : Thắng Man Phu Nhân Bất biến, tùy duyên
Pháp Hội 49 : Quảng Bác Tiên Nhân Bàn về nghi lễ
Pháp Hội 50 : Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm Tu hành đúng như pháp là tối thượng cúng dường
Pháp Hội 52 : Bửu Nữ Chọn pháp tu an lạc
Pháp Hội 53 : Bất Thuấn Bồ Tát Phát huy chân linh
Pháp Hội 54 : Hải Huệ Bồ Tát Nghĩ về Phật giáo Nhật Bản
Pháp Hội 55 : Hư Không Tạng Bồ Tát Ý nghĩa phẩm Tín giải trong kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 56 : Vô Ngôn Bồ Tát Bồ đề tâm  
Pháp Hội 57 : Bất Khả Thuyết Bồ Tát Đức Phật trong nền văn minh Ấn Độ
Pháp Hội 58 : Bửu Tràng Bồ Tát Một chuyến đi về miền đất Phật
Pháp Hội 59 : Hư Không Mục Giác Ngộ với thiên niên kỷ 3
Pháp Hội 60 : Nhựt Mật Bồ Tát Suy nghĩ về số mệnh trong Phật giáo
Pháp Hội 61 : Vô Tận Ý Bồ Tát Thiền trong đời thường
Lời tựa  Hướng về Thánh tích của Phật giáo
Tiểu sử   Lời tựa           
Thọ giới, tu hành, nỗ lực thâm nhập dòng thác trí tuệ Tam vô lậu học  
Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội Quý nhứt trên đời
Thức ăn tinh thần của người tu Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng  
Thực tu, cảm hóa được chư thiên và quần chúng Sinh hoạt trong mùa An cư  
Trau dồi giới đức, siêng tu tam vô lậu học Suy nghĩ về ý mã tâm viên  
Lời tựa    An lạc hạnh   
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2539 -1995 Tam vô lậu học: Giới, Định, Tuệ  
Tam vô lậu học An cư kiết hạ   
Quý nhất trên đời Cơm Hương Tích  
Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng Bồ tát đạo   
Ý nghĩa Vu lan PL. 2539 - 1995 Mùa An cư sáu thời tịnh niệm  
Nhìn về thế kỷ 21 Tinh thần Phật giáo Đại thừa  
Xuân Pháp Hoa Nhân duyên - căn lành  
Hướng về tương lai Chơn thân - huyễn thân  
Ý nghĩa Niết bàn Chín tuần tu học, đồng đăng cửu phẩm Liên hoa  
Internet, những nỗi lo mới Những việc cần làm trong ba tháng An cư  
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2540 -1996 Hành trang của người xuất gia: căn lành và Phật hộ niệm  
Cảm nghĩ về hoài bão của Đức Phật Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật  
Phật giáo và thực tiễn cuộc sống Trở về viên minh tánh  
Sinh hoạt trong mùa An cư Theo dấu người xưa  
Suy nghĩ về ý mã tâm viên Những điều cần làm trong mùa An cư  
Suy nghĩ về hoằng pháp Tu tâm  
An lạc hạnh Bốn bậc trưởng lão được kính trọng  
Tam vô lậu học : Giới-Định-Tuệ Bồ tát quả môn   
An cư kiết hạ   Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ  
Cơm Hương Tích Mùa An cư - tiến tu Tam vô lậu học  
Ý nghĩa lễ Vu lan Bất biến, tùy duyên  
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2540 - 1996 Công việc của Tỳ kheo chân chánh  
Ơn nghĩa đồng bào Phát huy chân linh  
Hướng về những người con tương lai của đất nước Bàn về nghi lễ  
Hãy đến với Chương trình "Hiểu và Thương" Sáu pháp hòa kỉnh trong mùa An cư  
Lòng từ của Bồ tát Quan Âm Đại thừa Phật giáo  
Bồ đề tâm Tu trên ngũ uẩn thân  
Suy tư của người Phật tử về những vấn đề lớn Trụ pháp và lực gia bị của Phổ Hiền  
Đầu tư - vấn đề nan giải Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ: học, tu và làm việc  
Những điều tâm đắc trên đường về Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Lấy từ bi xóa hận thù Hài hòa, con đường an lành  
Thuận lợi và nguy cơ Nếp sống của người tu  
Lá thư Tổng Biên tập Con đường giải thoát  
Lá thư Xuân (trích Nguyệt san GN số 10) Kinh Đại Bảo Tích pháp hội 59: Hư không mục  
Ý Xuân Ý nghĩa sám Pháp Hoa  
Lá thư Xuân (trích Báo GN số 41) Phật giáo Nam tông  
Những suy nghĩ về Hội nghị kỳ 5 khóa III Trung ương Giáo hội Đạo lực
Năm mới với niềm hy vọng mới Năm đặc điểm của người tu
Trách nhiệm và chức vụ Ý nghĩa Tam vô lậu học
Thành quả của Đại hội Phật giáo TP. HCM kỳ V Pháp tu trong ba tháng An cư
Sự đi lên của Phật giáo miền Trung Hướng đi giải thoát
Hướng phát triển tốt đẹp trong mùa An cư Hạnh an lạc
Hướng về ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7 Tỉnh giác là chơn giác
Lễ Vu lan - ngày đền ơn đáp nghĩa của Đông phương Ý nghĩa xuất gia  
Thương tiếc danh tăng An cư và hạnh đầu đà
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2541 - 1997 Cảm niệm Phật A Di Đà
Mừng 52 năm, một chặng đường phát triển của đạo pháp Cùng giúp nhau hoàn thiện tư cách người xuất gia
Vấn đề trẻ hóa lãnh đạo Hành đạo tùy duyên
Phật giáo Việt Nam, một tương lai tươi sáng Nhu đạo và Tịnh độ
Kết quả Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV Những kinh nghiệm tu hành
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VI (1994) Sự hộ niệm của Phật, Bồ tát, Thiên Long Bát Bộ
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VII (1999) Thể nghiệm pháp Phật
Cảm niệm cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa Tịnh độ   
Cảm niệm ân sư Trụ pháp Vô sanh
Đức Pháp chủ là biểu tượng đoàn kết các hệ phái Phật giáo Tu hành là chuyển hóa hữu lậu ngũ uẩn thành vô lậu ngũ uẩn
Cảm niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ Vai trò của nữ tu Phật giáo trong thời Bắc thuộc
Cảm niệm về Hòa thượng Thích Thiện Hào Y báo và chánh báo
Duyên kỳ ngộ Ý nghĩa Tịnh độ   
Hồi tưởng về đức hạnh của Hòa thượng Thích Tâm Thông Tất cả pháp môn tu đều là Phật pháp
Sáng niềm tin Ngộ tánh khởi tu
Một hình ảnh khó quên trong cuộc đời hoằng pháp của tôi Theo dấu chân Phật   
Cảm niệm ân sư (Kỷ niệm lễ chung thất Hòa thượng Thích Trí Đức) Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức
Những kỷ niệm với Hòa thượng Thích Thiện Châu Những khởi sắc của Phật giáo tỉnh Lâm Đồng
Nghĩ về Hòa thượng Thích Thanh Kiểm Trau dồi giới đức, phát triển tuệ lực
Tưởng niệm Ni trưởng Huê Lâm Tu đúng pháp
Ni sư Huỳnh Liên Tâm đức và tuệ đức
Nghĩ về Ni trưởng Như Hòa nhân ngày Tiểu tường An cư là tịnh hóa thân tâm
Lời nói đầu   An trú bây giờ và ở đây
Hoằng pháp Tăng trưởng đạo lực
Những điều tâm đắc về hoằng pháp Đi theo dấu chân Phật và các bậc tiền nhân
Kinh nghiệm hoằng pháp Tâm là Diệu pháp, thân là Liên hoa
Hoằng pháp theo nhân duyên Tu là chuyển nghiệp
Ý nghĩa thuyết pháp Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học.
Giáo dục và hoằng pháp Nương lực Phổ Hiền Bồ tát để tiến tu
Lời tựa      Sống vô ngã vị tha
Ý nghĩa kinh hành niệm Phật Trí tuệ và đạo đức là sức mạnh của người tu
Ý nghĩa tĩnh tâm Tinh thần tùy duyên và bất biến
Lục hòa Làm cho đất nước cũng là làm cho Phật giáo
Sáu pháp ba la mật Bình thường tâm thị đạo và ngôi chùa tâm linh
Tịnh độ theo kinh Duy Ma Học hiểu giáo lý đúng đắn và ứng dụng có hiệu quả vào cuộc sống tu hành
Tam minh Phát huy đạo đức và trí tuệ làm đẹp cho đạo tốt cho đời
Hồi hướng theo kinh hoa nghiêm Ngủ trong tỉnh thức
Xử thế của đạo Phật Sự gắn bó giữa Tăng Ni và Phật tử là điều cần thiết
Tam bảo Nhận ra con người thực của mình để tiến tu
Nhập thế của đạo Phật Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định mọi thành công
Tứ hoằng thệ nguyện Ý nghĩa hồng danh sám hối
Xuân Di Lặc Đoạn phiền não - tâm bình an  
Báo hiếu theo kinh vu lan Giàu đạo đức, giàu tuệ giác  
Phật giáo và pháp luật Giới đức Pháp thân  
Khái niệm về giới luật của người phật tử tại gia An trụ tịch diệt tướng  
Ý nghĩa xuất gia Lắng tâm, tịnh niệm  
Ngọn đuốc xuân Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh  
Ngũ uẩn Ngũ ấm ma trong chúng ta  
Hòa thượng Thích Quảng Đức, một con người bất tử Phát huy đạo lực  
Mông sơn thí thực Sống trong tỉnh giác  
Tính cách pháp lý của giáo hội Tấm gương sáng của Tổ Huệ Đăng  
Những thành quả của giáo hội Phật giáo Việt Nam Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp  
Ý nghĩa đại trai đàn Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội  
Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa Thức ăn tinh thần của người tu  
Lắng tâm, tịnh niệm Thực tu, cảm hóa được chư Thiên và quần chúng  
Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh. Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm  
Ngũ ấm ma trong chúng ta Trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Phát huy đạo lực Tu bồi cội phúc  
Phước đức và trí tuệ Tùy duyên      
Tấm gương sáng của tổ Huệ Đăng Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa  
Tâm tạo ra tất cả Ý nghĩa Nhà lửa tam giới trong kinh Pháp Hoa  
Tu bồi cội phúc Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa  
Tùy duyên  

 

Giáo dục và hoằng pháp

Trước tiên cần khẳng định rằng vấn đề giáo
dục và hoằng pháp của chúng ta cần phải được căn cứ theo tinh thần của đức Phật đã từng thể hiện trong cuộc đời giáo hóa độ sanh của Ngài. Nếu không, chúng ta sẽ đi lệch hướng theo ngoại đạo.

Chúng ta còn nhớ sau khi đức Phật thành đạo ở Bồ đề đạo tràng, Ngài xuống Lộc Uyển lập giáo khai tông; nói cách khác, đức Phật đã từ Phật giới xuống thế giới chúng sanh và lấy con người làm đối tượng đào tạo.

Đức Phật đã dựa trên ba tiêu chuẩn căn bản: đạo đức, tri thức và năng lực độ sanh để xây dựng con người thánh thiện theo Ngài. Và bốn chân lý hay tứ Thánh đế là bài pháp đầu tiên mà đức Phật hướng dẫn các Tỳ kheo phải nắm vững: Đau khổ của con người, nguyên nhân dẫn đến đau khổ, an lạc của chư Phật và nguyên nhân đưa đến an lạc.

         Như vậy, chúng ta thấy rõ bước đầu đức Phật nhắm đến việc xây dựng con người đạo đức, vô nhiễm. Và muốn làm việc ấy thành công, Ngài phải lựa chọn con người có ý hướng thượng mới đào tạo. Vì lẽ ấy, bắt đầu lập giáo khai tông, trước tiên đức Phật đã chọn năm nhà hiền triết có tâm hồn giải thoát để dạy dỗ; đức Phật không vội đào tạo tràn lan, tốn công vô ích.

Dưới sự giáo hóa của đức Phật, chỉ trong một thời gian ngắn, năm nhà hiền triết ở Lộc Uyển đã đắc quả vị La hán, nghĩa là có đạo đức thánh thiện. Sau đó, đức Phật dạy bốn chân lý thì họ liền hiểu được và ứng dụng trong cuộc sống, quét sạch tội lỗi, vô minh, trở thành bậc Thánh trí. Được phước đức, trí tuệ như vậy, đức Phật mới dạy họ việc truyền đạo, tức hoằng pháp.

Con đường hoằng pháp của đức Phật từ đó được mở rộng bởi những người đệ tử đạo đức, tri thức và có sức chịu đựng được mọi khắc nghiệt của thiên nhiên và vượt qua mọi bức bách của cơ thể. Vì thế, bước chân hoằng pháp độ sanh của Thánh đệ tử đến nơi nào đều được người người cung kính, cúng dường.

Nói đơn giản, đức Phật đã giáo dục, đào tạo nên các bậc Thánh nhân và họ đi truyền đạo với tư cách thánh thiện, nên hoàn toàn thành công, không chút chướng ngại. Điển hình là các Ngài đã cảm hóa được các giáo chủ của hàng ngoại đạo nổi tiếng thời ấy là Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, ba anh em Ca Diếp, v.v…

Chỉ với một nhóm nhỏ năm người, các vị đệ tử của đức Phật đã mở rộng giáo đoàn một cách nhanh chóng, lên đến 1.250 vị. Rõ ràng là với tư cách thánh thiện tuyệt vời mới thành tựu được việc hoằng pháp siêu tuyệt như vậy. Điều này hoàn toàn khác hẳn với các tập đoàn đương thời đã lôi kéo, tập họp người một cách ô hợp, điều động sinh hoạt theo cách áp đảo, nên luôn xảy ra những cuộc tranh chấp nội bộ và chống đối lẫn nhau .

Với sự hiện hữu của giáo đoàn gồm 1.250 vị Tỳ kheo thánh thiện, đức Phật bắt đầu xây dựng sinh hoạt tu học theo ba pháp quy y. Tuân thủ ba pháp quy y, nghĩa là họ phải tập trung vào ba việc: phát huy tánh sáng suốt hay trí tuệ (quy y Phật), sống theo chân lý (quy y pháp) và sống hòa hợp với tập thể Tăng đoàn (quy y Tăng). Đó là tuyên ngôn đầu tiên của đức Phật. Ai không tôn trọng ba pháp quy y, không phải là đệ tử Phật.

Trong ba pháp quy y, đức Phật nhấn mạnh đến sự hòa hợp là việc quan trọng nhất. Thật vậy, Ngài dạy rằng tội lớn nhất là tội phá hoại sự hòa hợp của chư Tăng. Phá Phật thì Tăng cứu được, nhưng phá Tăng thì Phật không cứu.

Từ ý thức hòa hợp là chính yếu của người tu, đức Phật dạy thêm sáu pháp hòa kỉnh. Điều thứ nhất là hàng tu sĩ theo Phật phải sống tập thể, vì sống riêng biệt lâu ngày sẽ dễ buông lung theo ý thích cá nhân không tốt và sẽ dẫn đến hành động sai lầm, không ai chỉ bảo, sửa đổi. Đức Phật khẳng định rằng người xuất gia không sống với đại chúng không phải là xuất gia. Vì vậy mà đức Phật đặt ra giới luật chư Tăng phải cấm túc an cư hằng năm.

Sống chung tu học với đoàn thể Tăng già, thì người tu sĩ có thể luận bàn về bốn chân lý của đức Phật đưa ra để làm sáng tỏ những ý chưa thông suốt. Tuy nhiên, không được tranh cãi, gièm pha hay chống phá lẫn nhau. Khi ý kiến tập thể đã xác định việc nào đúng hay sai, mọi người đều phải tùy hỷ, tuân thủ ý kiến tập thể; không được bảo lưu ý riêng của mình. Nhất định phải tuân theo quyết định của đại chúng.

Xét về giới luật, những khuôn phép kỷ cương được tập thể đưa ra, phải tuân thủ, để giữ cho sinh hoạt của Tăng đoàn tồn tại lâu dài; không vì lý do gì mà cá nhân được làm khác.

Trong đại chúng cùng tôn trọng nguyên tắc kiến hòa đồng giải, nghĩa là sự thấy biết và giải thích phải đúng như thật, hợp lý, hợp tình và hợp ý mọi người. Theo pháp Yết ma của Phật, nếu còn một người chưa hòa hợp hay chưa chấp nhận thì việc cũng không thành.

Tất cả năm nguyên tắc hòa hợp nói trên dẫn đến kết quả tất yếu là mọi quyền lợi của đại chúng phải được chia đồng đều cho mọi người trong tập thể; không thể vì quyền lợi của cá nhân nào.

Đó là sáu nguyên tắc sống chung mà đức Phật đưa ra để xây dựng giáo đoàn thanh tịnh, hòa hợp, an vui. Và những người tuân thủ khuôn phép lục hòa kỉnh của Phật dạy thì họ luôn nghĩ đến tập thể và quyền lợi chung, nên tạo được sức mạnh đoàn kết trong Tăng đoàn. Sức sống tốt đẹp như vậy đã khiến cho những tổ chức hay các nhóm tôn giáo khác trong thời Phật tại thế phải kính trọng giáo đoàn do đức Phật lãnh đạo và cuối cùng hàng vua chúa đương thời cũng phải tùy thuận theo.

Có thể khẳng định rằng với phương cách giáo dục và hoằng pháp như trên, đức Phật đã thực hiện được mục tiêu là làm an lạc cho số đông, cho chư Thiên và loài người. Tuy nhiên, sau khi Phật Niết bàn, một số luận sư đã theo kiến giải của ngoại đạo hay của thế gian, họ coi trọng cách giáo dục và hoằng pháp theo hướng mới, nên quên mất phần căn bản giác ngộ theo Phật. Từ đó, họ lý luận, tranh chấp nhau đưa đến việc sản sinh ra các bộ phái Phật giáo không thể nào chấp nhận nhau. Kết quả thảm hại tất yếu của phương cách hoằng pháp sai lầm và chống phá giữa các bộ phái là sự suy yếu cho đến tan rã của Phật giáo. Thật vậy, trái với tinh thần giáo dục theo Phật từ khởi điểm, các bộ phái Phật giáo tưởng rằng họ thừa kế tư tưởng Phật dạy, nhưng thực sự họ đã phạm sai lầm nghiêm trọng làm cho Phật giáo trở thành suy yếu.

Từ sai lầm của họ, chúng ta cần suy nghĩ thêm rằng có những điều mà nhiều người cho là đúng, nhưng thực sự có đúng hay không. Vì chân lý chỉ có Phật hiểu được; kinh Pháp Hoa, phẩm phương tiện, đức Phật cũng dạy rằng giả sử những hiểu biết của người trí thức có nhiều như lúa mè, tre lau tập họp lại cũng không thể nào hiểu được chân lý.

Vì không thể hiểu đúng đắn, thấu suốt ý Phật dạy, không ngộ được yếu chỉ của pháp Phật, nên người ta đã lầm tưởng hoằng truyền đạo pháp, trong khi thực ra họ đã phá đạo, tưởng là xây dựng xã hội nhưng lại làm cho việc xấu xa tệ hại thêm.

Theo căn bản sai lầm như trên, từ khi Phật Niết bàn cho đến nay, vấn đề giáo dục theo đạo Phật đã rơi vào ngõ cụt, vấp phải những lỗi lầm đáng kể và công việc hoằng pháp, truyền bá tư tưởng Phật giáo cho đại chúng cũng đi theo định kiến sai lầm của từng cá nhân hay nhóm người khác nhau. Một người hiểu biết sai và hành động sai thì chỉ một mình họ đọa địa ngục, không đáng kể. Nhưng sai lầm của họ truyền trao cho nhiều người cùng tiến thân trên con đường lầm lạc, gây tổn hại vô cùng cho biết bao thế hệ.

Từ tình trạng suy đồi của Phật giáo về giáo dục và hoằng pháp như vậy, Phật giáo Việt Nam cũng không thể nằm ngoài ảnh hưởng ấy, dẫn đến việc mỗi người tự cho rằng chỉ có tông phái mình là hay, là đúng; cuốicùng xảy ra việc bài bác, tiêu diệt lẫn nhau. Vì vậy có thời kỳ ở nước ta, Phật giáo chẳng còn được quan tâm.

Nhưng từ cuối thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX, người Phật tử mới bắt đầu tỉnh thức trước việc đất nước Việt Nam bị đô hộ và sự suy yếu của Phật giáo. Từ đó, xuất hiện những bài báo khơi lại hào khí của Phật giáo thời Lý Trần, đã đánh bại được quân Mông Nguyên. Có thể nói nhờ áp dụng đúng tinh ba của Phật giáo mà các vua quan Phật tử thời Lý Trần đã tạo được sức mạnh đoàn kết của Phật giáo cùng nối kết với nhân dân tạo thành sức mạnh vô song của cả dân tộc Việt Nam. Như vậy mới có khả năng đánh đuổi giặc ngoại xâm được coi như có sức mạnh tàn phá khiếp sợ đến mức người ta truyền nhau rằng gót giày của họ xâm chiếm đến đâu thì cỏ cũng không mọc nổi.

Trên nền tảng Phật giáo thạnh thì xã hội cũng thạnh, một số nhà cách mạng đã dựa vào Phật giáo để hoạt động. Thí dụ các nhà cách mạng đầu thế kỷ XX như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đều là những người nghiên cứu Phật pháp.

Và dẫn đến thập niên 1930-1940, xuất hiện nhiều phong trào học Phật. Mở đầu là hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học và tờ Pháp Âm là tạp chíPhật giáo đầu tiên được xuất bản bằng chữ Quốc ngữ (1929). Năm 1932, bán nguyệt san Từ Bi Âm của Hội Nam kỳnghiên cứu Phật học ra mắt số đầu tiên.

Cũng năm này, ở Huế thành lập hội An Nam Phật học do bác sĩ Lê Đình Thám làm Hội trưởng. Hội An Nam Phật học cũng xuất bản nguyệt san Viên Âm năm 1933 và mở trường Phật học.

Năm 1934, hội Lưỡng Xuyên Phật học được thành lập với chủ trương phổ biến giáo lý của Phật giáo bằng cách dịch kinh, mở trường Phật học và xuất bản tạp chí Duy Tâm thu hút được nhiều độc giả. Cũng trong năm này, hội Phật giáo Bắc kỳ thành lập tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Hội cũng xuất bản tuần san Đuốc Tuệ.

Năm 1935, Hội Thiên Thai Thiền Giáo tông xuất bản nguyệt san Bát Nhã Âm.

Từ sự khởi sắc như vậy của việc học Phật qua các hội đoàn và tạp chí Phật giáo, các vị cao Tăng nghĩ rằng không thể để sinh hoạt Phật giáo tiếp tục bị tách biệt riêng rẽ. Các ngài đã quyết tâm tập họp, thống nhất các tổ chức Phật học thành Liên đoàn Học xã để đào tạo Tăng Ni. Và trường Phật học đầu tiên được xây dựng năm 1933, nhưng Commis Chấn cản trở không cho hoạt động. Vì vậy, chư Tăng mới quyết định thành lập Liên đoàn Học xã mỗi khóa ba tháng đào tạo từ 80 đến 100 Tăng Ni.

Năm 1935, hội Lưỡng Xuyên Phật học khai giảng trường Lưỡng Xuyên Phật học với trên một trăm vị Tăng. Và chính các vị trong số Tăng Ni tốt nghiệp ở hai trường Phật học này là những người sau này đã thành lập Giáo hội Tăng già Nam Việt và Ni bộ Bắc tông.

Tất cả lớp Tăng sĩ trong các hội Phật giáo nói trên đều mang chí hướng thống nhất Phật giáo để sinh hoạt tu học Phật pháp được truyền đi đúng hướng theo tinh thần đức Phật đã thể hiện ban đầu. Vì vậy, việc vận động thống nhất Phật giáo được thành công qua Đại hội Phật giáo toàn quốc tổ chức tại chùa Từ Đàm, Huế ngày 6-5-1951. Đại biểu của sáu tập đoàn của Phật giáo ba miền: Phật giáo Tăng già Bắc Việt, Việt Nam Phật giáo (Bắc Việt), Giáo hội Tăng già Trung Việt, Việt Nam Phật học (Trung Việt), Giáo hội Tăng già Nam Việt và Hội Phật học Nam Việt đã tham dự và thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam.

Với sự ra đời của Tổng hội Phật giáo Việt Nam thể hiện điểm cao nhất của ý thức thống nhất sinh hoạt Phật giáo. Nhưng giặc Pháp và phát-xít Nhật không muốn giới Phật giáo được phát triển như vậy, nên họ đã ngầm giúp đỡ những tổ chức khác chịu theo sự chi phối của họ để chống phá lại sinh hoạt của Tổng hội Phật giáo.

Nguyệt san Từ Quang là tiếng nói của Tổng hội Phật giáo, ngoài ra còn có báo Liên Hoa ở miền Trung và nguyệt san Phật giáo Việt Nam của miền Nam. Tuy nhiên vì không đủ kinh phí điều hành, nên chỉ ra được 24 số là phải đình bản. Chỉ có tạp chí Từ Quang phổ biến Phật pháp được lâu dài nhất, 25 năm.

Hàng tu sĩ bắt đầu học Phật chính quy qua các trường đào tạo như Phật học đường Báo Quốc hay Phật học đường Nam Việt hoặc hàng Phật tử học Phật pháp qua sách báo gồm những tạp chí nói trên. Từ đó dẫn đến phong trào thống nhất Phật giáo ở cao điểm vào năm 1963.

Trong giai đoạn từ lúc chính quyền Pháp đô hộ nước ta, họ không công nhận Phật giáo, cho đến năm 1963, họ phải công nhận thực thể Phật giáo với tính cách là hiệp hội.

Và năm 1963, có thể nói Phật giáo Việt Nam đủ sức mạnh để yêu cầu xóa bỏ hình thức hiệp hội Phật giáo và phải công nhận Phật giáo như một tôn giáo. Đó là nguyện vọng chính đáng được Tăng Ni Phật tử cả nước ủng hộ, dẫn đến việc ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Đây là Giáo hội duy nhất có hệ thống hành chính từ trung ương đến cấp tỉnh, thành và có hệ thống giáo dục về Phật học viện trong toàn miền Nam.

Cũng chính trong thời kỳ này, trình độ Phật học của Tăng Ni Phật tử được nâng lên cao nhất với sự hoạt động của Trường Đại học Vạn Hạnh đào tạo cấp cử nhân Phật học, do Hòa thượng Minh Châu làm Viện trưởng. Ngoài ra, còn có Cao đẳng chuyên khoa Phật học Huệ Nghiêm do Hòa thượng Trí Tịnh làm Viện trưởng.

Đến đây đánh dấu bước tiến cao nhất của việc giáo dục trong sinh hoạt Phật giáo miền Nam. Và kéo dài cho đến 1981 có thể coi là thời kỳ giáo dục của Phật giáo đạt được đỉnh cao với sự thành công trong việc đào tạo Tăng Ni có trình độ đại học, cùng một số tu sĩ được gởi ra nước ngoài đạt được học vị thạc sĩ, tiến sĩ.

Sau năm 1981, Phật giáo Việt Nam được thống nhất cả nước, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Vấn đề quan tâm nhất của Giáo hội chúng ta vẫn là việc giáo dục Tăng Ni Phật tử. Tâm huyết về giáo dục được cố Hòa thượng Pháp chủ Thích Đức Nhuận thể hiện qua việc xin phép thành lập được ba trường cao cấp Phật học tại ba miền Bắc, Trung, Nam để đào tạo Tăng tài.

Kế tiếp, ở Đại hội Phật giáo toàn quốc kỳ II, Nhà nước lại cho phép giới Phật giáo mở nhiều trường cơ bản Phật học ở các tỉnh và thành phố nhằm đào tạo lớp tu sĩ trẻ có trình độ phổ thông hoạt động cho Phật giáo địa phương.

Ngày nay, có thể nói hệ thống giáo dục của Phật giáo về phần cơ bản đã hoàn chỉnh. Tuy nhiên, điều quan trọng cần xét lại chất lượng đào tạo cũng như việc tuyển chọn người làm Phật ở các giới đàn có đúng với tuyên ngôn ban đầu của đức Phật đặt ra hay không ?

Thực tế cũng đã thấy có nhiều nơi số lượng tu sĩ được đào tạo rất đông, nhưng sử dụng có hiệu quả không được bao nhiêu, thậm chí còn phản tác dụng. Chúng tôi đề nghị Ban Giáo dục cần nghiên cứu phương cách giáo dục cho phù hợp với thời đại ngày nay đồng thời cũng không được trái với đường hướng mà đức Phật đã dạy. Được như vậy, chúng ta mới không vấp phải thất bại đau buồn mà kinh nghiệm lịch sử truyền bá Phật pháp của các nước hoặc của chính chúng ta trong các giai đoạn trước đã lỡ lầm. Thiết nghĩ tuyển chọn đúng người theo đúng tiêu chuẩn mà đức Phật đã đào tạo được hàng Thánh chúng thì chắc chắn Phật pháp phải hưng thạnh.