cool hit counter

Sách


Lời giới thiệu Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp
Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa Thiền định phóng quang và đàm kinh nhập diệu
Nguyện hương Đoạn phiền não – tâm bình an
Đảnh lễ Phật Giàu đạo đức, giàu tuệ giác
Lễ Phật quá khứ Giới đức pháp thân
Đảnh lễ Phật hiện tại An trụ tịch diệt tướng
Lễ Phật vị lai Ý nghĩa Phật Đản theo kinh Pháp Hoa
Đảnh lễ Bồ tát Phật giáo và dân tộc Việt Nam
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh hoằng thông liệt vị Tổ sư Hoằng pháp ở thế kỷ XXI
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh thủ hộ thiện thần Dòng chảy miên viễn của Thiền
Sám hối Đức Phật sống mãi với chúng ta
Phát nguyện Đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật
Ý nghĩa thọ trì 7 phẩm Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Chùa mục đồng ở Nam bộ
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ nhất Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định của mọi thành công
Ý nghĩa phẩm Pháp sư Phật giáo, con đường dẫn đến sự sống hòa bình, phát triển, an lạc, hạnh phúc cho nhân loại.
Ý nghĩa phẩm Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15 Sức sống Thiền của Trần Thái Tông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 Sống trong tỉnh giác
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17 Quan niệm về kinh tế trong Phật giáo
Ý nghĩa phẩm Phổ Môn thứ 25 Những nét đẹp của Phật giáo Lý Trần
Ý nghĩa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28 Nghệ thuật trong Phật giáo
Hồi hướng Ý nghĩa nhà lửa tam giới trong kinh pháp hoa
Ý nghĩa tụng thủ hộ thần chú Ý nghĩa lễ tắm Phật
Ý Nghĩa Quy Y Tam Bảo Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm
Năm Giới Của Người Phật Tử Tại Gia Ý nghĩa Vu Lan  
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Pháp Hoa Và Tụng Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Sám Hối Nhứt Phật thừa
Ý Nghĩa Tụng Kinh Dược Sư Và Niệm Phật Dược Sư Quán tứ niệm xứ
Ý Nghĩa Niệm Phật Di Đà Tứ chánh cần
Lời nói đầu Tứ như ý túc
I. Lý do chọn 21 ngày tu gia hạnh Phổ Hiền
Ngũ căn ngũ lực
II. Ý nghĩa của sự khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày thành đạo của Phật Di Đà là ngày 17 tháng 11 và kết thúc vào ngày thành đạo của Phật Thích Ca là ngày mùng 8 tháng 12 Thất Bồ đề phần
III. Kết luận Thúc liễm thân tâm
Lời tựa Tùy duyên  
Tổng luận Thanh tịnh hóa thân tâm
Pháp hội 1 : Tam Tụ Luật Nghi Nhứt thiết Chúng sanh Hỷ kiến Bồ Tát
Pháp hội 2: Vô Biên Trang Nghiêm Đà la ni Chánh kiến
Pháp hội 3 : Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Tam quy và pháp niệm Phật
Pháp hội 5: Vô Lượng Thọ Như Lai Hài hòa để cùng tồn tại và phát triển
Pháp hội 6: Bất Động Như Lai Hạnh khiêm cung và bát kỉnh pháp
Pháp hội 7: Mặc Giáp Trang Nghiêm An lạc hạnh  
Pháp hội 8: Pháp Giới Thể Tánh Vô Sai Biệt Những kinh nghiệm giảng dạy
Pháp hội 9 : Đại Thừa Thập Pháp Kinh nghiệm giảng dạy Kinh Hoa Nghiêm
Pháp hội 10: Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn Một số đề tài gợi ý cho những bài thuyết giảng của Tăng Ni sinh Khóa Giảng sư
Pháp hội 11: Xuất Hiện Quang Minh & Pháp hội 12 : Bồ Tát Tạng Nổ lực tự học để kế thừa và phát huy được tinh ba của Thầy, Tổ.
Pháp hội 14: Phật Thuyết Nhập Thai Tạng Một số phương hướng cho ngành Hoằng pháp
Pháp hội 15: Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký Vài suy nghĩ về Hoằng pháp trong thời hiện đại
Pháp hội 16: Bồ Tát Kiến Thiệt Hoằng pháp trong thế kỷ 21
Pháp hội 17: Phú Lâu Na Nhà Hoằng pháp và giáo dục tiêu biểu trong thế kỷ XX
Pháp hội 18: Hộ Quốc Bồ Tát Hoằng pháp ở thế kỷ 21(thuyết giảng ngày 20 – 24 tháng 6 năm 2007)
Pháp hội 19: Úc Già Trưởng Giả Điểm chung nhứt của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền
Pháp hội 20: Vô Tận Phục Tạng Mô hình Hoằng pháp tại nước nhà trong thời đại ngày nay
Pháp hội 21: Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La Tư cách của vị trụ trì
Pháp hội 23: Ma Ha Ca Diếp Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại
Pháp hội 24: Ưu Ba Ly Ý nghĩa trụ trì
Pháp hội 25: Phát Thắng Chí Nguyện Trụ trì, người giữ chùa
Pháp hội 26: Thiện Tý Bồ Tát Kinh nghiệm làm trụ trì
Pháp hội 27 : Thiện Thuận Bồ Tát Tam pháp ấn
Pháp hội 28: Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả Nét đẹp của Phật giáo Nam Tông Khơ Me
Pháp hội 29: Ưu Đà Diên Vương Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện đại
Pháp hội 30: Diệu Huệ Đồng Nữ Điều thiết yếu của người tu : Sức khỏe tốt, trí sáng suốt và trái tim nhân ái
Pháp hội 31: Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di An trụ pháp tịch diệt
Pháp hội 32: Vô Úy Đức Bồ Tát Hoằng pháp và trụ trì
1. Lời tựa Đạo đức hành chánh
2. Khái niệm về kinh Duy Ma Ba điểm quan trọng đối với tân Tỳ kheo
3. Quán chúng sanh theo kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (Thuyết giảng tại chùa Phổ Quang)
4. Bất Nhị pháp môn trong kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (thuyết giảng tại chùa An Phước)
5. Ý nghĩa phẩm Phật Hương Tích trong kinh Duy Ma Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ : Học, tu và làm việc
6. Quan niệm về đức Phật trong kinh Hoa Nghiêm Truyền trao giới pháp và lãnh thọ giới pháp đúng như pháp.
7. Ý nghĩa lễ Phật theo kinh Hoa Nghiêm Giới tánh Tỳ kheo
8. Ý nghĩa phương tiện theo kinh Pháp Hoa Lời tựa       
9. Ý nghĩa thí dụ ba xe và nhà lửa trong kinh Pháp Hoa Tiểu sử
10. Ý nghĩa hóa thành dụ trong kinh Pháp Hoa Giới tánh tỳ kheo  
11. Pháp sư của kinh Pháp Hoa Hoằng pháp và trụ trì  
12. Ý nghĩa Long Nữ dâng châu trong kinh Pháp Hoa An lành và tĩnh giác
13. An Lạc Hạnh theo kinh Pháp Hoa Nghĩ về sự thành đạo của Đức Phật
14. Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất Mùa Xuân đọc kinh Hoa Nghiêm
15. Cảm niệm về Bồ Tát Phổ Hiền Sự lớn mạnh của Phật giáo song hành với thành phố phát triển 300 năm
Lời tựa Khai Thị 2009 Những quan niệm về Đức Phật
Xuân trong Phật đạo Thế giới tâm thức và thế giới hiện thực
Phước Lộc Thọ Pháp phương tiện
Hạnh xuất gia Tụng kinh, lạy Phật, sám hối và thiền quán
Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo Đức hạnh của vị Tỳ kheo
Hạnh nguyện Quan Âm Hành trình tâm linh : nẻo về vĩnh hằng của người tu
Tàm Quý Ý nghĩa Phật Đản PL. 2542 - 1998
Họa phước vô môn Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật
An cư kiết hạ Nương nhờ đức từ của Tam bảo
Phật giáo và vấn đề tác hại của thuốc lá Ý nghĩa Kim Cang thừa trong Phật giáo
Phật giáo và bảo vệ môi trường Cảm nghĩ về Đức Phật A Di Đà
Phật giáo và thiếu nhi Ý nghĩa Vu Lan 1998
Nói không với ma túy Bồ Tát Đạo
Đạo đức ở tại gia Mùa An cư : sáu thời tịnh niệm
Mỉm cười trong đau khổ Tinh thần Phật giáo Đại thừa
Phật giáo và dân số Phật giáo hướng về tương lai
Kính lão đắc thọ Ý nghĩa lễ Vu Lan PL 2542 - 1998 (thuyết giảng tại trường hạ chùa Hội Khánh)
Hành trì giới luật Chơn thân – huyễn thân
Ý nghĩa Vu lan Tư cách của vị trụ trì  
Hạnh nguyện Địa Tạng Bồ tát Tâm từ bi của Đức Phật
Nối vòng tay lớn 9 tuần tu học đồng đăng Cửu Phẩm Liên Hoa
Niềm vui của tuổi già Những việc cần làm trong 3 tháng An Cư
Kiến thức và trí tuệ Những việc cần làm trong 3 tháng an cư Suy nghĩ về linh hồn trong Phật giáo
Tình người Hoằng pháp   
Hạnh nguyện Bồ tát hay Bồ tát đạo Tìm hiểu ngôn ngữ của Đức Phật
Tha lực và tự lực Mùa Xuân trên đất Bắc
Hạnh nguyện Dược Sư Lời tựa        
Ơn Thầy Ý nghĩa cầu an
Vượt qua mặc cảm Hạnh nguyện Phổ Hiền
Lời tựa Lược giải Kinh Hoa Nghiêm Bản chất Niết bàn
Nghề nghiệp chân chánh Niềm tin chân chánh
CHƯƠNG I – LỊCH SỬ KINH HOA NGHIÊM
        I - Khái niệm về lịch sử kinh Hoa Nghiêm
Hóa giải hận thù
    II - Lịch sử truyền thừa và phát triển kinh Hoa Nghiêm Phật giáo và hòa bình thế giới
  III - Nội dung kinh Hoa Nghiêm Quốc thái dân an
CHƯƠNG II - Ý NGHĨA ĐỀ KINH HOA NGHIÊM Giải tỏa oan ức
CHƯƠNG III – QUAN NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT THEO KINH HOA NGHIÊM
       I - Quan niệm về Đức Phật trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
Vững trước khen chê
   II - Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Ý nghĩa sức mạnh hòa hợp
  III - Quan niệm về Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm Âm siêu dương thạnh
CHƯƠNG IV – BỒ TÁT ĐẠO
      I - Bồ tát Thập Tín
Thực tập nhẫn nhục
  II - Bồ tát Thập Trụ Thành công và thất bại
 III - Bồ tát Thập Hạnh Chiến thắng chính mình
IV - Bồ tát Thập Hồi hướng Thân cận người trí
 V - Bồ tát Thập Địa hay Thập Thánh Sống hạnh viễn ly
VI - Bồ tát Thập Định Ý nghĩa bờ bên kia
VII - Bồ tát Thập Thông Hương thơm đức hạnh
VIII - Bồ tát Thập Nhẫn Tòa án lương tâm
CHƯƠNG V – PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI Củng cố niềm tin
   1- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Đức Vân Tỳ kheo Giá trị cuộc sống
   2- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Vân Tỳ kheo Giáo dục con cái
   3- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Trụ Tỳ kheo Vượt qua tật bệnh
   4- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Di Già Đền ơn đáp nghĩa
   5- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Giải Thoát Thân phận con người
   6- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Tràng Tỳ kheo Sức mạnh của ý chí
   7- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hưu Xã Ưu bà di Quan niệm về Tịnh Độ
   8- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa Cư trần lạc đạo
   9- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thắng Nhiệt Bà la môn Làm mới cuộc sống
   10- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Từ Hạnh đồng nữ Lời tựa        
   11- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Kiến Tỳ kheo Ăn chay lợi cho sức khỏe và tâm linh
   12- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tự Tại Chủ đồng tử Chuyển hóa sanh thân thành pháp thân
   13- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Cụ Túc Ưu bà di Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam
   14- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Minh Trí Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị Tổ sư người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam
   15- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Pháp Bửu Kế Mật tông tại Việt Nam
   16- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Phổ Nhãn Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng
   17- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Vô Yểm Túc Phật giáo đi vào cuộc sống
   18- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Đại Quang Sự hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ
   19- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bất Động Ưu bà di Sức mạnh hòa hợp
   20- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Biến Hành ngoại đạo Tác động hỗ tương giữa thân và tâm
   21- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Ưu Bát La Hoa Tận dụng phương tiện hiện đại trong việc hoằng pháp
   22- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thuyền trưởng Bà Thi La Tứ chánh cần  
23.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Vô Thượng Thắng hay Di Lặc Bồ Tát Tu thiền tại Việt Nam
24- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân Vai trò của ni giới Việt Nam trong xã hội hiện đại
25- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với bà Tu Mật Đa nữ Ý nghĩa hóa thân Phật thuyết pháp
26- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Tỳ Sắc Chi La Ý nghĩa kệ dâng y
28.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Chánh Thu Ý nghĩa tập trung phân thân
27.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Quán Tự Tại Ý nghĩa tịnh độ
29- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thần Đại Thiên Cầu nguyện mùa vu lan
30- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Địa thần An Trụ Cư sĩ Phật giáo
31- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với chủ Dạ thần Bà San Bà Diễn Để Đạo đức Phật giáo trong tương lai
32- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Dạ thần Khai Phu Nhứt Thiết Thọ Hoa và Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Nhứt Thiết Chúng Sanh Điểm chung nhứt của Phật giáo nam truyền và bắc truyền  
33- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thọ thần Diệu Đức Viên Mãn Giới luật của người Phật tử tại gia
34- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ tát Di Lặc Bồ đề quyến thuộc
35- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Mối tương quan với thế giới siêu hình
36- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Phổ Hiền Bồ tát Chân tinh thần Phật giáo Bắc tông
CHƯƠNG VI – PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI – PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN Trồng căn lành và sám hối
16. Niết bàn theo kinh Pháp Hoa Lợi ích của an cư kiết hạ
17. Giáo dục của Phật Giáo Đại Thừa Tứ niệm xứ, tứ chánh cần
18. Những điều kiện tu Bồ Tát đạo Mùa xuân vĩnh hằng
19. Ngôi chùa tâm linh Kiến trúc Phật giáo
20. Hành trình về chân linh Kiến trúc Phật giáo  
21. Tu tâm Niềm tin của người phật tử Việt Nam
22. Canh tâm điền Sự an lạc trong gia đình
23. Đường về Yên Tử Báo đáp ơn nghĩa sinh thành
24. Nếp sống của một vị danh tăng Quan niệm về tịnh độ của kinh Di Đà
25. Ý nghĩa Phật Đản Pl.2538 (Tứ Nhiếp Pháp) Tam pháp ấn  
26. Ý nghĩa lễ đức Phật thành đạo Tinh thần từ bi hỷ xả, con đường tốt nhất đi đến hòa bình, phát triển và an lạc cho nhân loại
27. Phật giáo Việt Nam đang hướng về phía trước trên tinh thần vô ngã vị tha Từ bi và hòa bình trong Phật ngọc
28. Xuân hoan hỷ Tình yêu và giới tính theo tinh thần Pháp Hoa
29. Xuân trong cửa thiền Xây chùa, tô tượng, đúc chuông
30. Xuân của hành giả Pháp Hoa Xuân trong cửa đạo
Lời tựa lược giải kinh Pháp Hoa Bồ Tát Thích Quảng Đức, một bậc danh tăng siêu việt của thế kỷ 20
Lịch sử kinh Pháp Hoa Cái chết đối với người phật tử
Kinh đại thừa vô lượng nghĩa Giáo dục ở tự viện
Phẩm 1: Tựa Giới định tuệ
Phẩm 2: Phương tiện Khắc phục nghiệp, giữ chánh niệm, trụ chánh định
Phẩm 3: Thí dụ Khởi nghiệp mưu sinh theo Phật giáo
Phẩm 4: Tín giải Lễ Phật theo bổn môn Pháp Hoa
Phẩm 5: Dược thảo dụ Ngôi chùa tâm linh
Phẩm 6: Thọ ký Nhập không môn, vào vô lượng nghĩa định
Phẩm 7: Hóa thành dụ Nữ giới Phật giáo và sự kết nối toàn cầu
Phẩm 8,9: Ngũ bá đệ tử thọ ký, thọ học vô học nhơn ký Pháp phục của tăng ni Việt Nam
Phẩm 10: Pháp sư Phật giáo và môi trường sinh thái  
Phẩm 11: Hiện bảo tháp Phật giáo và phù đổng Thiên Vương
Phẩm 12: Đề Bà Đạt Đa Thâm nhập không môn
Phẩm 13: Trì Trụ định, hành trang tối thiểu của người tu
Phẩm 14: An lạc hạnh Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng
Phẩm 15: Tùng Địa Dũng Xuất Tu vô lượng nghĩa kinh, sống trong vô lượng nghĩa định, thâm nhập hội Pháp Hoa.
Phẩm 16: Như Lai thọ lượng Vô lượng nghĩa kinh và vô lượng nghĩa xứ tam muội
Phẩm 17: Phân biệt công đức Xây dựng đạo đức của người tu
Phẩm 18: Tùy hỷ công đức Yếu nghĩa của phẩm pháp sư, kinh Pháp Hoa
Phẩm 19: Pháp sư công đức Hướng đi của Phật giáo Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
Phẩm 20: Thường bất khinh Bồ Tát Những điều tâm đắc về hoằng pháp ( thuyết giảng tại Bình Định)
Phẩm 21: Như Lai thần lực Ý nghĩa Phật đản PL. 2550-2006
Phẩm 22: Đà La Ni Mỹ thuật Phật giáo
Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát bổn sự Vai trò của người phụ nữa trong kinh Hoa Nghiêm
Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát Những tư tưởng hòa bình, hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam
Phẩm 25: Phổ môn Đức Phật hằng hữu trong mỗi chúng ta
Phẩm 26: Diệu Trang nghiêm vương bổn sự Vai trò của Tăng già trong thời hiện đại
Phẩm 27: Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát Phật giáo trong nền toàn cầu hóa
Phẩm 28: Chúc lụy Giáo dục Phật giáo
Preface Một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa
Lời tựa lược giải kinh Duy Ma Ý nghĩa cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa
Tổng luận lược giải kinh Duy Ma Tịnh độ
Phẩm 1: Phật quốc Hóa thành dụ
Phẩm 2: Phương tiện   Phật giáo Nam tông vá Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Phẩm 3: Thanh văn Phật giáo trong lòng nhân dân miền Nam
Phẩm 4: Bồ Tát Vị trí của Pháp sư Huyền Trang trong Phật giáo
Phẩm 5: Văn Thù Sư Lợi thăm bệnh Xuân về trên cõi Tịnh
Phẩm 6: Bất tư nghì Vãng sanh cực lạc
Phẩm 7: Quán chúng sanh Cầu siêu bạt độ
Phẩm 8: Phật đạo Công đức của kinh Pháp Hoa
Phẩm 9: Nhập bất nhị pháp môn Nghệ thuật trong Phật giáo  
Phẩm 10: Phật Hương Tích Hoằng pháp ở thế kỷ 21
Phẩm 11: Bồ Tát đạo An cư dưỡng tánh - Thị phi phủi sạch
Phẩm 12: Kiến Phật A Súc Giữ giới và quán chiếu với tứ Thánh đế
Phẩm 13: Pháp cúng dường Gắn tâm với Đức Phật, với giáo pháp và Hiền thánh tăng
Phẩm 14: Chúc lụy Bốn pháp giải thoát
Lời tựa           Gạn sạch phiền não, nghiệp chướng, trần lao
Lịch sử Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Sám hối nghiệp chướng
Ý nghĩa Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Pháp Hoa chân kinh
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ I Ý nghĩa 12 đại nguyện của Đức Phật Dược Sư
Ý nghĩa phương tiện và chân thật Vũ trụ quan theo Phật giáo
Ý nghĩa Thí Dụ Sống an lạc, chết siêu thoát
Ý nghĩa phẩm Pháp Sư thứ 10 Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng
Ý nghĩa phẩm An Lạc Hạnh thứ 14 Quan niệm về đức Phật theo kinh Pháp Hoa  
Ý nghĩa phẩm Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ mười lăm Pháp Phật và an toàn giao thông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ mười sáu Đức Phật của chúng ta
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, phẩm Pháp Sư công đức thứ 19 Đạo đức Phật giáo
Bồ Tát hạnh: Dược Vương Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Diệu Trang Nghiêm Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Bồ tát hạnh theo kinh Pháp Hoa
Lời tựa           Mùa xuân của hành giả phát tâm bồ đề
Pháp Hội 33 : Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện Những điều tâm đắc về kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 34 : Công Đức Bửu Hoa Phu Bồ Tát Ý nghĩa Phật Đản PL 2543 - 1999
Pháp Hội 35 : Thiện Đức Thiên Tử Kinh nghiệm hoằng pháp  
Pháp Hội 36 : Thiện Trụ Ý Thiên Tử Tìm hiểu xã hội học Phật giáo
Pháp Hội 37 : A Xà Thế Vương Tử Theo dấu người xưa
Pháp hội 38: Đại Thừa Phương Tiện Những điều cần làm trong mùa An cư
Pháp Hội 39 : Hiền Hộ Trưởng Giả Bốn bậc trưởng lão được kính trọng
Pháp Hội 40 : Tịnh Tín Đồng Nữ Trở về viên minh tánh
Pháp Hội 41 : Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp Điều kiện để có kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 42 : Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại  
Pháp Hội 43 : Phổ Minh Bồ Tát Ý nghĩa an cư kiết hạ
Pháp Hội 44 : Bửu Lương Tụ Bồ tát quả môn
Pháp Hội 45 : Vô Tận Huệ Bồ Tát Mùa an cư - tiến tu tam vô lậu học
Pháp Hội 46 : Văn Thù Thuyết Bát Nhã Công việc của Tỳ kheo chân chánh
Pháp Hội 47 : Bửu Kế Bồ Tát Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ
Pháp Hội 48 : Thắng Man Phu Nhân Bất biến, tùy duyên
Pháp Hội 49 : Quảng Bác Tiên Nhân Bàn về nghi lễ
Pháp Hội 50 : Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm Tu hành đúng như pháp là tối thượng cúng dường
Pháp Hội 52 : Bửu Nữ Chọn pháp tu an lạc
Pháp Hội 53 : Bất Thuấn Bồ Tát Phát huy chân linh
Pháp Hội 54 : Hải Huệ Bồ Tát Nghĩ về Phật giáo Nhật Bản
Pháp Hội 55 : Hư Không Tạng Bồ Tát Ý nghĩa phẩm Tín giải trong kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 56 : Vô Ngôn Bồ Tát Bồ đề tâm  
Pháp Hội 57 : Bất Khả Thuyết Bồ Tát Đức Phật trong nền văn minh Ấn Độ
Pháp Hội 58 : Bửu Tràng Bồ Tát Một chuyến đi về miền đất Phật
Pháp Hội 59 : Hư Không Mục Giác Ngộ với thiên niên kỷ 3
Pháp Hội 60 : Nhựt Mật Bồ Tát Suy nghĩ về số mệnh trong Phật giáo
Pháp Hội 61 : Vô Tận Ý Bồ Tát Thiền trong đời thường
Lời tựa  Hướng về Thánh tích của Phật giáo
Tiểu sử   Lời tựa           
Thọ giới, tu hành, nỗ lực thâm nhập dòng thác trí tuệ Tam vô lậu học  
Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội Quý nhứt trên đời
Thức ăn tinh thần của người tu Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng  
Thực tu, cảm hóa được chư thiên và quần chúng Sinh hoạt trong mùa An cư  
Trau dồi giới đức, siêng tu tam vô lậu học Suy nghĩ về ý mã tâm viên  
Lời tựa    An lạc hạnh   
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2539 -1995 Tam vô lậu học: Giới, Định, Tuệ  
Tam vô lậu học An cư kiết hạ   
Quý nhất trên đời Cơm Hương Tích  
Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng Bồ tát đạo   
Ý nghĩa Vu lan PL. 2539 - 1995 Mùa An cư sáu thời tịnh niệm  
Nhìn về thế kỷ 21 Tinh thần Phật giáo Đại thừa  
Xuân Pháp Hoa Nhân duyên - căn lành  
Hướng về tương lai Chơn thân - huyễn thân  
Ý nghĩa Niết bàn Chín tuần tu học, đồng đăng cửu phẩm Liên hoa  
Internet, những nỗi lo mới Những việc cần làm trong ba tháng An cư  
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2540 -1996 Hành trang của người xuất gia: căn lành và Phật hộ niệm  
Cảm nghĩ về hoài bão của Đức Phật Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật  
Phật giáo và thực tiễn cuộc sống Trở về viên minh tánh  
Sinh hoạt trong mùa An cư Theo dấu người xưa  
Suy nghĩ về ý mã tâm viên Những điều cần làm trong mùa An cư  
Suy nghĩ về hoằng pháp Tu tâm  
An lạc hạnh Bốn bậc trưởng lão được kính trọng  
Tam vô lậu học : Giới-Định-Tuệ Bồ tát quả môn   
An cư kiết hạ   Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ  
Cơm Hương Tích Mùa An cư - tiến tu Tam vô lậu học  
Ý nghĩa lễ Vu lan Bất biến, tùy duyên  
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2540 - 1996 Công việc của Tỳ kheo chân chánh  
Ơn nghĩa đồng bào Phát huy chân linh  
Hướng về những người con tương lai của đất nước Bàn về nghi lễ  
Hãy đến với Chương trình "Hiểu và Thương" Sáu pháp hòa kỉnh trong mùa An cư  
Lòng từ của Bồ tát Quan Âm Đại thừa Phật giáo  
Bồ đề tâm Tu trên ngũ uẩn thân  
Suy tư của người Phật tử về những vấn đề lớn Trụ pháp và lực gia bị của Phổ Hiền  
Đầu tư - vấn đề nan giải Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ: học, tu và làm việc  
Những điều tâm đắc trên đường về Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Lấy từ bi xóa hận thù Hài hòa, con đường an lành  
Thuận lợi và nguy cơ Nếp sống của người tu  
Lá thư Tổng Biên tập Con đường giải thoát  
Lá thư Xuân (trích Nguyệt san GN số 10) Kinh Đại Bảo Tích pháp hội 59: Hư không mục  
Ý Xuân Ý nghĩa sám Pháp Hoa  
Lá thư Xuân (trích Báo GN số 41) Phật giáo Nam tông  
Những suy nghĩ về Hội nghị kỳ 5 khóa III Trung ương Giáo hội Đạo lực
Năm mới với niềm hy vọng mới Năm đặc điểm của người tu
Trách nhiệm và chức vụ Ý nghĩa Tam vô lậu học
Thành quả của Đại hội Phật giáo TP. HCM kỳ V Pháp tu trong ba tháng An cư
Sự đi lên của Phật giáo miền Trung Hướng đi giải thoát
Hướng phát triển tốt đẹp trong mùa An cư Hạnh an lạc
Hướng về ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7 Tỉnh giác là chơn giác
Lễ Vu lan - ngày đền ơn đáp nghĩa của Đông phương Ý nghĩa xuất gia  
Thương tiếc danh tăng An cư và hạnh đầu đà
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2541 - 1997 Cảm niệm Phật A Di Đà
Mừng 52 năm, một chặng đường phát triển của đạo pháp Cùng giúp nhau hoàn thiện tư cách người xuất gia
Vấn đề trẻ hóa lãnh đạo Hành đạo tùy duyên
Phật giáo Việt Nam, một tương lai tươi sáng Nhu đạo và Tịnh độ
Kết quả Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV Những kinh nghiệm tu hành
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VI (1994) Sự hộ niệm của Phật, Bồ tát, Thiên Long Bát Bộ
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VII (1999) Thể nghiệm pháp Phật
Cảm niệm cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa Tịnh độ   
Cảm niệm ân sư Trụ pháp Vô sanh
Đức Pháp chủ là biểu tượng đoàn kết các hệ phái Phật giáo Tu hành là chuyển hóa hữu lậu ngũ uẩn thành vô lậu ngũ uẩn
Cảm niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ Vai trò của nữ tu Phật giáo trong thời Bắc thuộc
Cảm niệm về Hòa thượng Thích Thiện Hào Y báo và chánh báo
Duyên kỳ ngộ Ý nghĩa Tịnh độ   
Hồi tưởng về đức hạnh của Hòa thượng Thích Tâm Thông Tất cả pháp môn tu đều là Phật pháp
Sáng niềm tin Ngộ tánh khởi tu
Một hình ảnh khó quên trong cuộc đời hoằng pháp của tôi Theo dấu chân Phật   
Cảm niệm ân sư (Kỷ niệm lễ chung thất Hòa thượng Thích Trí Đức) Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức
Những kỷ niệm với Hòa thượng Thích Thiện Châu Những khởi sắc của Phật giáo tỉnh Lâm Đồng
Nghĩ về Hòa thượng Thích Thanh Kiểm Trau dồi giới đức, phát triển tuệ lực
Tưởng niệm Ni trưởng Huê Lâm Tu đúng pháp
Ni sư Huỳnh Liên Tâm đức và tuệ đức
Nghĩ về Ni trưởng Như Hòa nhân ngày Tiểu tường An cư là tịnh hóa thân tâm
Lời nói đầu   An trú bây giờ và ở đây
Hoằng pháp Tăng trưởng đạo lực
Những điều tâm đắc về hoằng pháp Đi theo dấu chân Phật và các bậc tiền nhân
Kinh nghiệm hoằng pháp Tâm là Diệu pháp, thân là Liên hoa
Hoằng pháp theo nhân duyên Tu là chuyển nghiệp
Ý nghĩa thuyết pháp Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học.
Giáo dục và hoằng pháp Nương lực Phổ Hiền Bồ tát để tiến tu
Lời tựa      Sống vô ngã vị tha
Ý nghĩa kinh hành niệm Phật Trí tuệ và đạo đức là sức mạnh của người tu
Ý nghĩa tĩnh tâm Tinh thần tùy duyên và bất biến
Lục hòa Làm cho đất nước cũng là làm cho Phật giáo
Sáu pháp ba la mật Bình thường tâm thị đạo và ngôi chùa tâm linh
Tịnh độ theo kinh Duy Ma Học hiểu giáo lý đúng đắn và ứng dụng có hiệu quả vào cuộc sống tu hành
Tam minh Phát huy đạo đức và trí tuệ làm đẹp cho đạo tốt cho đời
Hồi hướng theo kinh hoa nghiêm Ngủ trong tỉnh thức
Xử thế của đạo Phật Sự gắn bó giữa Tăng Ni và Phật tử là điều cần thiết
Tam bảo Nhận ra con người thực của mình để tiến tu
Nhập thế của đạo Phật Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định mọi thành công
Tứ hoằng thệ nguyện Ý nghĩa hồng danh sám hối
Xuân Di Lặc Đoạn phiền não - tâm bình an  
Báo hiếu theo kinh vu lan Giàu đạo đức, giàu tuệ giác  
Phật giáo và pháp luật Giới đức Pháp thân  
Khái niệm về giới luật của người phật tử tại gia An trụ tịch diệt tướng  
Ý nghĩa xuất gia Lắng tâm, tịnh niệm  
Ngọn đuốc xuân Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh  
Ngũ uẩn Ngũ ấm ma trong chúng ta  
Hòa thượng Thích Quảng Đức, một con người bất tử Phát huy đạo lực  
Mông sơn thí thực Sống trong tỉnh giác  
Tính cách pháp lý của giáo hội Tấm gương sáng của Tổ Huệ Đăng  
Những thành quả của giáo hội Phật giáo Việt Nam Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp  
Ý nghĩa đại trai đàn Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội  
Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa Thức ăn tinh thần của người tu  
Lắng tâm, tịnh niệm Thực tu, cảm hóa được chư Thiên và quần chúng  
Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh. Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm  
Ngũ ấm ma trong chúng ta Trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Phát huy đạo lực Tu bồi cội phúc  
Phước đức và trí tuệ Tùy duyên      
Tấm gương sáng của tổ Huệ Đăng Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa  
Tâm tạo ra tất cả Ý nghĩa Nhà lửa tam giới trong kinh Pháp Hoa  
Tu bồi cội phúc Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa  
Tùy duyên  

 

II. Ý nghĩa của sự khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày thành đạo của Phật Di Đà là ngày 17 tháng 11 và kết thúc vào ngày thành đạo của Phật Thích Ca là ngày mùng 8 tháng 12

         Đạo tràng Pháp Hoa khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày 17 tháng 11 âm lịch và kết thúc ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch; vì Đức Phật Thích Ca bắt đầu vào Thiền định cũng đúng ngày Đức Phật Di Đà thành đạo. Và Phật Thích Ca an trụ trong Thiền định suốt ba tuần, đến ngày mùng 8 tháng12, Ngài đắc đạo.

        Tu gia hạnh Phổ Hiền là gạch nối giữa thế giới thanh tịnh và thế giới không thanh tịnh. Thế giới Phật Di Đà thanh tịnh, còn thế giới Ta bà của Phật Thích Ca loạn động. Khi khởi tu, ai cũng cần hoàn cảnh thanh tịnh, nên cần nhập thất là tìm cảnh thanh tịnh để gá tâm vô, giúp cho mình dễ dàng được thanh tịnh. Thật vậy, nhờ đóng kín sáu giác quan, chúng ta tu thanh tịnh được; còn ở cảnh loạn động của Ta bà không có thanh tịnh. Tìm cái đẹp ở Ta bà rất mong manh, bất chợt thấy vui, nhưng niềm vui này không giữ được lâu.

        Vì vậy, khởi tu gia hạnh Phổ Hiền, chúng ta phải đặt tâm ở thế giới thanh tịnh bằng cách mượn hạnh Phổ Hiền để dẫn chúng ta vào thế giới thanh tịnh; vì không có Phổ Hiền dẫn, chúng ta không vào được thế giới này. Phổ Hiền dắt chúng ta vào thế giới thanh tịnh, nghĩa là chúng ta nương theo hạnh Phổ Hiền vào thế giới thanh tịnh để thấy được cái đẹp là tướng chân thật của các pháp không sanh tử.

        Ngài Phổ Hiền dạy rằng do tu mười hạnh Phổ Hiền mà vào thế giới thanh tịnh rồi thì bấy giờ, chúng ta đi khắp mười phương không chướng ngại; vì đi bằng tánh thanh tịnh, không phải đi bằng nghiệp. Đi bằng nghiệp thì đi đâu cũng khổ. Đi bằng nghiệp mà Phật nhắc là do nghiệp thọ sanh. Nghiệp ở ngay trong tâm mình, nên mang cái nghiệp này đi đâu cũng khổ. Hiện thân trên cuộc đời thì cuộc đời này là khổ; nhưng trong giấc chiêm bao cũng gặp khổ. Phật nói đó là từ nghiệp thức dẫn chúng ta sanh lại cuộc đời và từ nghiệp này, chúng ta tạo thêm ác nghiệp nữa, tức là tăng trưởng việc ác. Chúng ta làm ác thì chứa trong tâm thức cái ác này, nên ngủ mơ thấy ác và khi chết, đi thọ sanh cũng mang nghiệp thức này đi, sẽ khổ hơn nữa.

       Quan trọng là phải xóa cho được nghiệp thức, nhưng nghiệp thức này là vọng nghiệp, không phải thật. Chúng ta tạo nên vọng nghiệp là ảo giác, giống như chiêm bao hay hoa đốm trong hư không, cảnh này không thật. Kinh Pháp Hoa nói trong tam giới không có sanh tử khổ đau buồn phiền; nhưng nghiệp này sinh ra là do tham, sân, si. Trong ba thứ độc hại này, chúng ta đoạn cái nào trước. Nếu đoạn trừ lòng tham trước, không còn bực tức, thì trí huệ sinh ra, là đi theo con đường thuận của giới, định, huệ.

       Tuy nhiên, trong ba thứ độc hại này, si mê là chính. Không si mê thì không có cảnh tượng khổ, giống như nằm mơ thấy khổ, đến khi tỉnh thức thì khổ này mất. Thuở nhỏ, Thầy rất sợ chạy giặc, nên tâm sợ hãi này nhiều, thì trong giấc mơ thường thấy cảnh đánh nhau, thấy mình bị chết; nhưng tỉnh dậy, thấy còn sống, mừng quá.

        Tam giới này không thật, chỉ là giấc mộng, hay cuộc đời này là giấc mộng. Chúng ta có giấc mộng con là ngủ mơ chúng ta thấy, thức dậy thì mất và giấc mộng dài là cả cuộc đời của chúng ta. Chúng ta sinh trên cuộc đời này là bắt đầu giấc mộng dài và chết là chấm dứt giấc mộng dài. Nhưng Phật nói chúng ta chết rồi, lại đi vào cõi mộng khác, từ cõi mộng này sang cõi mộng khác, hay nói đúng hơn, từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay, chúng ta đi lang thang trong các cõi mộng sanh tử. Chỉ khi nào thành đạo như Phật, mới chấm dứt giấc mộng dài, mà Phật diễn tả là nhận ra người chủ xây dựng ngôi nhà tứ đại ngũ uẩn này.

        Chỉ có thành đạo, trí tuệ sinh ra, mới chấm dứt sanh tử và sống tự tại giải thoát hoàn toàn. Thật vậy, trí tuệ này làm chúng ta thấy được tất cả các kiếp quá khứ, tất cả các hiện tượng mười phương và biết rõ cả những việc tương lai. Ba đời hiện tại, quá khứ, vị lai đều thu lại trong một niệm tâm có trí tuệ và dùng trí tuệ này đi được khắp mười phương một cách tự tại.

       Cuộc sống của con người có hai phần là sanh tử và không sanh tử. Đức Phật vì tâm đại từ bi mà Ngài vào thế giới sanh tử để cứu độ muôn loài và Bồ tát vào đời mượn cảnh huyễn để độ người trong mộng. Vì vậy, đi vào cuộc đời, các Ngài đóng đủ thứ vai trong các ngành nghề, kể cả đóng vai ăn mày hay đóng vai tội lỗi, nhưng Bồ tát có phải là người ăn mày thật hay là người tội lỗi thật hay không. Chúng ta phải nhìn vào con người thật mới phát hiện được tư chất Bồ tát. Ví dụ Đức Phật độ Vô Não đắc quả A la hán dễ dàng quá, để những người làm ác nhìn vào tấm gương đó mà dừng lại tội lỗi của họ. Còn con người thật của Vô Não là thánh thiện, con người ác là giả; nói cách khác, mượn vở kịch đóng vai ác để người khác trông thấy tu sửa mà thôi. Ví dụ có nghệ sĩ đóng vai ác trên sân khấu, ai thấy cũng ghét; nhưng người ác này đâu phải thật là họ. Chúng ta coi truyện Tây Du Ký thấy ghét Trư Bát Giới, nhưng đâu phải ông này thật là vậy. Người đóng vai trên sân khấu khác với người mang nghiệp thật.

        Bồ tát thường mượn cảnh giả để độ người mê khiến họ phát tâm Bồ đề. Vì vậy, khi có Phật xuất hiện trên cuộc đời, chư Bồ tát cũng theo Phật để trợ hóa cho Ngài làm đạo; đó là cái thấy theo tinh thần Đại thừa.

        Như Thầy đã nói, tu gia hạnh phải tìm tượng Phật mình thích nhất, có cảm giác như Phật nhìn và mỉm cười với mình là bước đầu để tạo độ cảm với Phật. Chúng ta thờ Phật, lạy Phật là gia hạnh đầu tiên, nhưng nếu thấy người lạy Phật, chúng ta cũng bắt chước lạy thì điều này hoàn toàn khác với cảm được Phật mà lạy. Cảm được Phật thì nghĩ là có Phật thật trước mặt để lạy. Trí Giả đại sư nói người lạy Phật để kết duyên khác với người có căn lành lạy Phật.

        Người có căn lành nhìn Phật, nghĩ đến Phật, nên lạy Phật rất dễ thương. Người bắt chước lạy là mới kết duyên với Phật thôi, nên chưa có kết quả được. Còn người tu có kết quả là người đã có căn lành, do độ cảm tâm sâu sắc với Phật. Tệ hơn nữa là người tu mà trong lòng mong cho thời khóa mau chấm dứt, không muốn lạy Phật nữa. Người căn lành nhỏ thì kết quả ít, người có căn lành lớn gặt hái được kết quả lớn, tùy theo tâm mà có độ cảm khác nhau, tạo thành kết quả khác nhau.

         Người thờ Phật và kính trọng Phật, lau dọn bàn thờ Phật sạch sẽ và trang nghiêm bông trái đẹp, khiến người nhìn thấy phải phát tâm tu. Không phải thờ Phật để người khác cúng trái cây mình hưởng lộc Phật. Từ tâm kính trọng Phật và coi như có Phật ngự ở đây, nên chúng ta quý trọng cái gì nhất, chúng ta đem dâng cúng Phật và trang trí bàn Phật đẹp. Thờ Phật để tạo độ cảm cho mình tiến tu; thờ Phật lấy lệ là không được. Lọ hoa phải thay nước và cắt gốc mỗi ngày, bỏ lá úa, để chúng ta nhìn cảm được, mới tạo được sự gắn liền giữa Phật với ta.

        Tuy bàn thờ Phật là cảnh giả, nhưng nương theo cái giả này để dẫn chúng ta vào thế giới thanh tịnh, giống như chúng ta dùng Tivi để xem những cảnh họ dựng trên đài truyền hình. Trên bước đường tu, mượn những phương tiện như tượng Phật, chùa tháp, thuyết pháp để dẫn chúng ta vào thế giới Phật. Nhưng nếu chấp vào cảnh giả này, sẽ ở lại đây muôn đời.

        Ngài Phổ Hiền nói trong một niệm tâm mà thấy được tất cả ba đời mười phương Phật và trong pháp hội của chư Phật mười phương cũng có hóa thân của chúng ta ở trong đó. "Ta” vừa nghe Phật Di Đà nói pháp mà cũng nghe được Phật Đa Bảo. "Ta” này là "Ta phân thân” đi mười phương, giống như Tề Thiên có một sợi lông của Bồ tát Quan Âm cho, nhưng từ sợi lông này mà phun ra một cái thì có vô số Tề Thiên. Cũng vậy, có bao nhiêu Đức Phật, chúng ta có bấy nhiêu hóa thân của mình tương ưng để thâm nhập nghe pháp.

        Thật vậy, tu Pháp Hoa, chúng ta thâm nhập được tất cả thế giới Phật, không bị kẹt vào cục bộ ở một chỗ nào. Ở đâu có Phật, chúng ta hiện hữu ở đó. "Ở đâu có Phật”, hay ở trong kinh có Phật, chúng ta liền có hóa thân đến đó.

 1. TU GIA HẠNH TUẦN THỨ NHẤT: LẠY SÁM HỐI HỒNG DANH PHÁP HOA VÀ TỤNG PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN KỆ.

        Lạy sám hối và tụng Phổ Hiền hạnh nguyện kệ, nhưng phải thực tập pháp quán hạnh nguyện Phổ Hiền là việc chính, không phải chỉ tụng kinh suông. Tụng kinh để quán tưởng bằng tâm, nghe bằng tâm. Bước đầu tu hành phải tụng kinh và lạy Phật, nhưng phải vận dụng tâm thì mới nương được lực Phổ Hiền. Thấy thế giới Phật cũng vậy, lúc đầu, nghe văn kinh diễn tả Phật và hành trạng của Bồ tát. Sau đó, nương theo văn kinh để chúng ta hình dung ra Phật thật là bước thứ hai. Người khéo vận dụng tâm mới đạt được điều này. Vì vậy, khởi tu gia hạnh phải đặt tâm ở thế giới thanh tịnh bằng cách mượn lực Phổ Hiền để dẫn chúng ta vào thế giới thanh tịnh; vì không có Bồ tát Phổ Hiền dẫn dắt, không vào được thế giới này.

        Làm sao mượn được lực Phổ Hiền? Chúng ta phải tập tu đồng hạnh đồng nguyện với Phổ Hiền Bồ tát, nghĩa là đi chung một đường với Phổ Hiền thì mới gặp được Ngài. Phổ Hiền cho biết Ngài đi theo lộ trình gọi là mười đại hạnh. Vì vậy, chúng ta khởi tu mười hạnh này để đi lần vào Thiền định, gặp được Phổ Hiền Bồ tát. Tìm hiểu mười đại hạnh Phổ Hiền để tu là tu gia hạnh Phổ Hiền. Mười hạnh Phổ Hiền là mười đại nguyện mà Bồ tát Phổ Hiền đã thành tựu viên mãn, chúng ta thường đọc tụng trong thời kinh mỗi ngày: Nhứt giả lễ kính chư Phật, nhị giả xưng tán Như Lai, tam giả quảng tu cúng dường, tứ giả sám hối nghiệp chướng, ngũ giả tùy hỷ công đức, lục giả thỉnh chuyển pháp luân, thất giả thỉnh Phật trụ thế, bát giả thường tùy Phật học, cửu giả hằng thuận chúng sanh, thập giả phổ giai hồi hướng. Trong bài này, Thầy chỉ triển khai một ít ý nghĩa đại hạnh đầu tiên của Phổ Hiền là "Nhứt giả lễ kính chư Phật”.

         Để lễ kính Phật, phải tìm tượng Phật mình thích nhất để tạo độ cảm với Phật. Chúng ta thờ Phật, lạy Phật là tu gia hạnh đầu tiên. Cảm được Phật, nên tin rằng có Phật thật trước mặt để lạy. Tuy bàn thờ Phật là cảnh giả, nhưng nương theo cái giả này để dẫn chúng ta vào thế giới thanh tịnh; còn chấp vào cảnh giả này thì sẽ ở trong sanh tử muôn đời.

         Bước đầu, đối trước tượng Phật, chúng ta chỉ có một Phật, nhưng quan trọng là tụng kinh nào thì hành trạng của Phật và Bồ tát trong kinh đó hiện hữu đầy đủ. Và tất cả Phật và Bồ tát chúng ta thấy được trong kinh đều đưa vào tâm mình. Trên bước đường tu, Thầy nhớ kinh nhiều là do tu pháp này. Còn tu không đạt được kết quả tốt đẹp, vì chỉ lưu giữ việc vui buồn vinh nhục của thế gian. Những vui buồn này hiện lên trong biển Thức trước, do chúng ta huân tập vào và việc thực tế sẽ theo đó hiện lên sau. Cũng vậy, chúng ta đọc kinh, thì Phật và Bồ tát lưu lại trong lòng mình, nên biển Thức của mình hiện ra Bồ tát và Phật trước. Vì vậy, tuy có một Phật, nhưng nhờ đọc kinh nhiều, nên Phật hiện ra nhiều. Yếu nghĩa này được Ngài Phổ Hiền diễn tả rằng "Trong một trần có trần số cõi. Trong mỗi cõi có nan tư Phật. Mỗi Phật đều ở giữa chúng hội. Tôi thấy hằng giảng hạnh Bồ đề”.

         Nhờ tụng kinh nhiều, công hạnh và cảnh giới của Phật, của Bồ tát được đem vào lòng mình; do đó, hạnh đức và cảnh giới của Phật, của Bồ tát dễ dàng hiện lên trong tâm khi chúng ta khởi nghĩ đến các Ngài. Tâm không có hình tướng và chúng ta không thấy, nhưng nó chứa đựng được dữ kiện nhiều vô lượng vô biên. Chúng ta có một tâm thôi, chúng ta cũng không biết được tâm, nhưng tâm có khả năng biết tất cả. Vì vậy, Bồ tát Phổ Hiền đã khẳng định rằng trong một niệm tâm có đủ ba đời mười phương chư Phật.

2. TU GIA HẠNH TUẦN THỨ HAI: LỄ HỒNG DANH PHÁP HOA VÀ TỤNG 7 PHẨM BỔN MÔN PHÁP HOA.

        Trước nhất, Bổn môn Pháp Hoa nghĩa là cốt lõi, hay yếu chỉ của kinh Pháp Hoa. Cốt lõi của kinh này, Phật muốn chỉ cho chúng ta thấy Phật không Niết bàn, Ngài vẫn hiện hữu. Phật và chúng ta vẫn ở chung trong một thế giới, nhưng chúng ta cách Phật, vì phiền não, nghiệp chướng và trần lao. Theo Ngài Nhật Liên Thánh nhân, cốt lõi của kinh Pháp Hoa 28 phẩm hàm chứa đầy đủ trong năm chữ Diệu Pháp Liên Hoa kinh; cho nên Ngài dạy rằng chỉ đọc năm chữ nầy là thế giới Phật tự nhiên hiện ra. Đối với Tổ Huệ Đăng, cốt lõi của kinh Pháp Hoa ở quyển thứ bảy của kinh. Ngài dạy chúng ta chỉ đọc quyển thứ bảy của kinh Pháp Hoa là đủ, không cần đọc cả 28 phẩm.

        Riêng đối vớiThầy, 7 phẩm Bổn môn Pháp Hoa là cốt lõi của kinh Pháp Hoa. 7 phẩm Bổn môn Pháp Hoa gồm có phẩm Tựa thứ nhất, phẩm Pháp Sư thứ 10, phẩm Tùng địa dũng xuất thứ 15, phẩm Như Lai thọ lượng thứ 16, phẩm Phân biệt công đức thứ 17, phẩm Phổ môn thứ 25 và phẩm Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát thứ 28. 7 phẩm này có ý nghĩa rất quan trọng đối với hành giả tu Bổn môn Pháp Hoa, vì đó là cốt lõi của bộ kinh Pháp Hoa 28 phẩm.

        Vì Bổn môn Pháp Hoa là cốt lõi của kinh Pháp Hoa, cho nên tu Bổn môn phải thực hiện cho được ý nghĩa của Bổn môn, tức tìm cho được cái gốc và hình thức bên ngoài phải chứa được nghĩa lý sâu sắc bên trong, cũng như nhìn tượng Phật phải hình dung được Phật thật. Kinh Pháp Hoa còn được gọi là kinh Hoa Sen. Ngài Trí Giả ví Phật như hoa sen. Hoa sen có hoa bên ngoài và gương sen bên trong. Hoa bên ngoài tiêu biểu cho Phật hình thức bên ngoài, còn gương sen tiêu biểu cho Phật thật bên trong. Những gì bên ngoài thấy được gọi là Tích môn và những gì không thấy được gọi là Bổn môn. Chúng ta tu là tìm cái không thấy, vì Phật thành đạo ở Bồ đề đạo tràng, Ngài không nói được những gì Ngài chứng đắc, nên những gì Phật nói chỉ là phương tiện bên ngoài mà thôi. Vì vậy, nếu tu hành mà chấp hình thức bên ngoài, sẽ không phát huy được cốt lõi bên trong.

         Tu Bổn môn, chúng ta tìm Đức Phật bên trong của thái tử Sĩ Đạt ta, tìm Đức Phật bên trong của Sa môn Cồ Đàm, tìm Đức Phật bên trong của Phật Thích Ca đi truyền bá chánh pháp trong suốt 49 năm. Phật bên trong là gì?

         Lúc Phật sanh ra làm thái tử, đã có Phật bên trong Ngài rồi; nhưng vì thân còn nhỏ nên chưa thuyết pháp được. Tiên A Tư Đà thấy thái tử liền bật khóc, vì ông không còn sống trên cuộc đời khi Đức Phật bên trong thái tử hiện ra. Vì vậy, ông nói với người cháu là Ca Chiên Diên lớn lên sẽ thấy được Phật và nghe được pháp Phật. Khi Phật xuất gia làm Sa môn cũng có ông Phật bên trong, nên người ta thấy Ngài đi khất thực phải sanh tâm kính nể. Thật vậy, lúc Phật còn là Sa môn, mà vua Tần Bà Sa La đã nghe lời Ngài dạy không giết bò dê để cúng tế thần linh và thưarằng khi nào Ngài đắc đạo nhớ trở lại độ ông; đó là vì nhà vua đã cảm nhận được Đức Phật bên trong Ngài.

         Chúng ta tìm đạo là tìm cốt lõi bên trong. Phật thành Phật cũng con người đó, hình thức không thay đổi, nhưng cốt lõi bên trong là Phật đã hiện ra, nên có sức tác động rất lớn. Điển hình là năm anh em Kiều Trần Như nghĩ rằng Sa môn Cồ Đàm không tu khổ hạnh nổi, nên đã lánh xa Ngài, xuống Lộc Uyển tu. Khi Phật đắc đạo, thành Phật rồi, Ngài đến độ họ. Từ xa trông thấy Phật, họ bàn với nhau sẽ không tiếp Phật, nhưng vì đạo lực của Phật quá mạnh đã tác động thẳng vào tâm các ông; nói cách khác, bấy giờ bổn Phật là bổn tâm của Phật thuyết pháp, đi thẳng vào lòng của năm vị này, khiến họ phải sanh tâm kính trọng và đảnh lễ Phật. Năm anh em Kiều Trần Như thấy được Phật là Phật thật, vì các ông là người có căn lành lớn đã gieo trồng ở Phật từ kiếp quá khứ, nên ở hiện đời, mới nhận thấy được Phật bất sanh bất diệt và từ Phật gốc này mới truyền lực sang tâm các ông. Người không có căn lành chỉ tu hình thức bề ngoài, không thể nhận chân được Phật thật.

          Khi Phật đến thôn Ưu Lầu Tần Loa để độ ông Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp. Ông này là quốc sư được 500 đồ chúng kính trọng như Thánh, nhưng tâm ông còn nhiều ganh tỵ, lợi danh, nên nghĩ Phật muốn tranh giành ảnh hưởng với ông. Ông sanh tâm ác muốn giết Phật, mới xếp đặt cho Phật vào tu trong hang để rắn hổ mang cắn chết. Phật vẫn thanh thản vì Ngài đã là Phật rồi. Ngài vào đó nhập định, trải rộng tình thương đến muôn loài và tâm đại từ bi của Phật đã khiến đàn rắn tự động nằm phủ phục chung quanh Ngài, mà không hề hại Ngài. Sáng hôm sau, ông Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp và đồ chúng thấy cảnh tượng kỳ lạ như vậy, phải kinh sợ và kính nể Phật, quỳ lạy xin làm đệ tử Phật, vì ông đã nhận ra được Đức Phật bên trong của Phật Thích Ca, hay thấy được Bổn Phật.

         Thời Phật tại thế, nhờ thấy Phật bên ngoài là Phật Thích Ca, người ta cảm nhận được Phật bên trong dễ hơn chúng ta ngày nay không có Phật, nhưng phải nhận được Phật bên trong. Ngài Nhật Liên Thánh nhân cảm được Phật thành Phật từ lâu xa trong kinh Pháp Hoa và Ngài nhập định thấy được Phật đó. Như vậy, đòi hỏi phải nhập định để tâm tập trung cao độ, hoàn toàn thanh tịnh sẽ có được sức mạnh và độ nhanh để đi ngược thời gian, thì cái nhìn của Ngài Nhật Liên mới xuyên suốt ngược về quá khứ 1500 năm trước, mới thấy được pháp hội Phật Thích Ca đang thuyết pháp và Thánh chúng vẫn còn hiện hữu và đi xa hơn nữa, Ngài Nhật Liên tìm được Bổn Phật.

        Riêng chúng ta ngày nay sống cách Phật xa hơn 25 thế kỷ, nhưng chúng ta nương vào Phật Thích Ca xuất hiện ở thế gian này để chúng ta tìm về Phật thật, tức nương hình thức bên ngoài để tìm Phật bên trong, nương giáo lý để thực hành cốt tủy Phật dạy. Tìm được Phật thật và thực hành đúng yếu lý thì mới có kết quả tốt đẹp. Ngài Trí Giả dạy rằng có cốt lõi bên trong là Phật, mới hiện ra tướng Phật thật bên ngoài; nếu cốt lõi bên trong không có thì không thể hiện được thân tướng Phật bên ngoài. Ví như người giàu thật, vốn bên trong của họ rất lớn, tức là nguồn cội phúc bên trong lớn, còn tài sản bên ngoài do phúc bên trong mới có được.

        Theo Bổn môn Pháp Hoa, Phật không nhập diệt. Phật vẫn ở chung với chúng ta trong một thế giới, nhưng chúng ta cách Phật, vì phiền não, nghiệp chướng và trần lao. Nghiệp chướng nặng, chắc chắn không thể thấy Phật. Trần lao, tức khổ sở quá thì không thể nghĩ đến Phật và bị buồn phiền trói buộc khiến tâm chúng ta u tối, lúc đó dù có ở chung với Phật cũng không thấy Phật.

         Người có căn lành sẽ thấy Phật bằng niềm tin, không thấy bằng mắt. Thật sự thấy Phật bằng mắt thì không ai thấy, nhưng thấy bằng niềm tin thì có người thấy, có người không thấy. Có niềm tin, chúng ta thấy Phật qua hình tượng Phật trên chùa mà nghĩ là Phật, nên kính trọng, lễ bái, cầu nguyện. Người Hồi giáo cực đoan như Taliban chẳng những không thấy Phật mà còn thấy tượng Phật đáng ghét, nên họ đã phá hủy tượng Phật rất lớn và cổ xưa.

          Tuy nhiên, để cái thấy bằng niềm tin không bị rơi vào mê tín, hay cuồng tín, Đức Phật bảo chúng ta phải có chánh tín, tức là niềm tin của chúng ta căn cứ vào lời Phật dạy và lý giải được thì mới tin.

          Như đã nói, Phật và chúng ta cách xa, vì phiền não, nghiệp chướng, trần lao. Thầy có cảm giác ví như một dòng điện truyền đến các thiết bị dễ dàng, nhưng nếu bị miếng cao su ngăn cách, điện sẽ không thể truyền tới được. Cũng vậy, Phật lực truyền cho ta được với điều kiện ta phải cắt bỏ ba thứ làm ngăn cách là phiền não, nghiệp chướng và trần lao, gọi là nhận được Phật hộ niệm.

          Trên bước đường tu, cần lưu ý rằng chúng ta không thấy Phật và Phật cũng không truyền được gia trì lực đến ta. Vì vậy, chúng ta phải qua vô tướng giới đàn, tức là nhờ nghi lễ tụng niệm, lễ bái, nhờ tượng Phật, nhờ kinh điển và nương vào Thánh Tăng tiêu biểu cho Thầy tu có tâm thanh tịnh, để thấy được Phật.

         Thực tế cho thấy khi gặp được vị cao Tăng mà chúng ta kính trọng, sự thanh tịnh của vị này sẽ truyền cho ta liền. Tâm an lạc của vị chân tu có được là do Phật truyền, vì vị này tu hành đã cắt bỏ được phiền não, trần lao, nghiệp chướng, cho nên tâm thanh tịnh của Ngài đã nhận được từ Phật rồi và truyền sang cho ta, gọi là nhứt thời thanh tịnh.

         Thiền có đặc sắc là truyền tâm ấn, hay truyền pháp, khởi đầu từ Tổ sư Đạt Ma truyền cho Ngài Huệ Khả. Tổ Đạt Ma 9 năm ngồi quay mặt vô vách, Thiền gọi là phản quang tự kỷ, tâm Ngài lắng yên và được Phật lực gia bị đã khiến cho Ngài Huệ Khả trông thấy Tổ cũng được thanh tịnh theo.

         Tu Tịnh độ cũng đòi hỏi hành giả tâm trí lắng yên như vào Thiền định, mới được Phật Di Đà và Thánh chúng phóng quang tiếp độ vãng sanh. Như vậy, mặc dù tu phương tiện khác nhau, nhưng tất cả pháp môn tu đều phải đạt được chân thật. Người xưa diễn tả ý này là cọ cây để lấy lửa. Cọ suốt đời mà không có lửa, cũng như tu suốt đời mà không đạt được kết quả tốt đẹp, vì không nắm được yếu chỉ. Vì vậy, tất cả pháp môn tu đều đòi hỏi chúng ta phải nắm được yếu chỉ để thực tập.

         Tổ Đạt Ma tiếp nhận được Phật lực, nên Ngài ngồi yên trong tuyết mà hưởng nguồn vui của Niết bàn, nghĩa là Ngài sống với tự thọ dụng thân. Còn chúng ta phải luôn sử dụng tha thọ dụng thân, nghĩa là thân tứ đại ngũ uẩn của mình tồn tại được là nhờ vào sự tác động bên ngoài, như phải nhờ không khí, phải ăn uống, phải đưa dinh dưỡng vào nuôi tứ đại, thì thân này mới tồn tại.

         Ngoài ra, trần lao hết, vì hành giả đã ẩn cư, không còn làm việc thì không cần đối phó với người. Thật vậy, thực tế cuộc sống cho thấy mỗi ngày mối quan hệ giữa ta và gia đình, giữa ta và xã hội, giữa ta và thiên nhiên gây ra nhiều phiền phức. Nhưng vào núi rừng tu, ta vứt được mối quan hệ này, nên trần lao cũng theo đó mà cắt được.

         Tuy nhiên, nghiệp thức của chúng ta vẫn còn tồn tại. Ngồi yên tu thì quá khứ gần và quá khứ xa liền sống dậy. Quá khứ gần là những gì đã xảy ra trong kiếp này, khi ngồi yên, chúng ta hay nghĩ đến vui buồn của cuộc sống. Người tu không có kết quả vì ngồi yên, những quá khứ này luôn hiện ra, thì lại đi tìm người để tâm sự, cho nên trần lao và phiền não cắt bỏ không được.

         Thầy gặp Hòa thượng Viên Giác kể cho Thầy nghe rằng thuở nhỏ, tu ở Kim Huê, Hòa thượng thấy một Thầy khác với đại chúng. Thầy này không nói chuyện với ai và thấy người nói chuyện là Thầy tránh. Có người cúng dường, Thầy hạn chế nhận và nếu có, Thầy đem bố thí cho người khác. Nghĩa là vị Thầy này tu hành loại bỏ những sự quan hệ vật chất để tâm không bị kẹt với vật chất và để phiền não không phát sinh, cho nên sống chung với đại chúng, nhưng Thầy cắt đứt lần mối quan hệ bên ngoài. Một hôm, Thầy này tự nói rằng hôm nay tôi xin từ giã các Thầy để đi về. Các Thầy chưa đắc đạo không hiểu vị này muốn nói gì, mới nghĩ rằng Thầy nầy muốn về nhà, bỏ tu thật là uổng. Sau đó, vị Thầy này tắm rửa sạch sẽ rồi, ngồi ở chánh điện, niệm Phật, đúng giờ ngọ là Thầy đi. Hòa thượng Viên Giác thấy người tu có kết quả như vậy mà Hòa thượng lập chí tu hành. Còn thấy người hư hỏng, chúng ta dễ chán tu, hay hư theo. Tu hành, bớt ăn uống và cắt trần lao, phiền não, không quan tâm đến việc xung quanh và nhập định, rồi chết thì sẽ đi vào Niết bàn, hay Cực Lạc tùy theo sở nguyện.

         Tâm thanh tịnh của Phật truyền cho ta, tâm ta được thanh tịnh. Tuệ giác của Phật truyền cho ta, trí ta sáng suốt. Tâm thanh tịnh và trí sáng suốt là cốt lõi của đạo Phật, hay định và huệ; dù tu pháp môn nào cũng phải có hai điều này. Nhưng muốn có được định và huệ, chúng ta tự lực, hay ta tự thanh tịnh mình rất khó. Chỉ có Phật sanh lại mới làm được như vậy. Còn từ hàng Bồ tát trở xuống phải nhờ Phật lực gia bị, gọi là tha lực.

        Tu Pháp Hoa, tha lực là Bồ tát đồng hạnh đồng nguyện thì gia bị được. Vì vậy, phải phát tâm độ chúng sinh, thì Bồ tát thương chúng sinh muốn độ chúng sinh, các Ngài phải mượn mình. Vì các Ngài ở thế giới Thật Báo, chúng sinh không thấy Ngài và Ngài không có sanh thân, nên không tiếp cận được chúng sinh. Trong khi ta có sanh thân, nên các Ngài mượn sanh thân của ta; nói cách khác, các Ngài vẫn muốn hợp tác với ta để làm một số Phật sự. Những người làm được việc lớn trên cuộc đời này đều nhờ có tâm thanh tịnh và nguyện độ sanh, mới tiếp nhận được lực gia bị của Phật, của Bồ tát khiến cho tâm trí họ sáng lần và sức khỏe tốt lần, mới thành tựu việc khó.

         Hiểu như vậy, làm sao tạo được mối tương quan mật thiết với Phật và Bồ tát, gia trì lực của các Ngài mới đến với ta được. Tu Tịnh độ, ở Ta bà, nhưng nghĩ đến Phật Di Đà đến mức tâm bất loạn và tâm trí lắng yên thì Phật lực gia bị, tạo cho chúng ta có tâm lý rất bình ổn và sức khỏe tốt, mối tương quan với xã hội cũng tốt, là vì chúng ta tiếp nhận được năng lượng của Phật Di Đà, cho nên có được cuộc sống Cực Lạc ở Ta bà. Vì vậy, khi việc xong, nguyện mãn là trở về bổn độ như vị Thầy mà Hòa thượng Viên Giác thuật lại.

         Tu Pháp Hoa, quan sát kỹ Ta bà, chúng ta phát hiện được các Bồ tát mười phương, các Bồ tát Tùng địa dũng xuất và nhận thấy các Ngài hiện hữu trong tâm tưởng của chúng sinh. Vì vậy, ta quan hệ với chúng sinh, nhưng nhận ra Bồ tát là Bồ tát tâm, vì tâm họ tương ưng với Bồ tát nào thì được Bồ tát đó gia bị và họ làm việc của Bồ tát, nên họ là hiện thân của Bồ tát. Nhưng sau đó, vì họ còn phiền não, nghiệp chướng, trần lao, nên phiền não nổi dậy thì ma phiền não đã đến với họ. Như vậy, khi mất chánh niệm, quỷ thần sẽ đến. Theo kinh nghiệm của tôi, khi có cảnh giác, biết quỷ thần đến thì đóng cửa phòng, đóng cửa tâm lại, không cho họ vô, vì họ vô được sẽ gây ra nhiều nguy hiểm. Nói cách khác, khi thấy tâm bất an, nên cắt đứt mối liên hệ với bên ngoài, để đừng làm ta nổi giận và làm đối phương nổi giận. Chúng ta hiểu yếu chỉ để tu có kết quả mới là việc quan trọng.

         Đức Phật Thích Ca thành đạo ở Bồ đề là sự quan hệ của Phật và mười phương Phật, cùng chư Thiên, tạo thành Hoa Tạng thế giới là thế giới mà tất cả mọi người đều thanh tịnh. Thâm nhập được Tỳ Lô Giá Na tánh là tánh sáng suốt và sống được với Pháp thân Phật, với thế giới hoàn toàn thanh tịnh, nên mười phương Phật hiện ra và Phạm Thiên cũng xuất hiện để thỉnh Phật Thích Ca thuyết pháp và nói rằng các Ngài đều thương chúng sinh, muốn cứu chúng sinh, nhưng không làm được, vì không còn thân tứ đại ngũ uẩn. Trong khi Phật Thích Ca tâm thanh tịnh, hòa đồng được với chư Phật, nhưng Ngài còn thân tứ đại là Sa môn mới tiếp cận được chúng sinh và giáo hóa được. Vì vậy, chư Phật mười phương đều phóng quang gia bị Phật Thích Ca để Ngài giáo hóa chúng sinh. Chúng ta tu Pháp Hoa nhận ra yếu chỉ này, nên biết ta làm được là nhờ có thân tứ đại và có Thức này để lóng nghe và truyền đạt cho chúng sinh, hóa giải phiền não cho họ, truyền sự thanh tịnh cho họ.

         Đức Phật Thích Ca rời Bồ đề đạo tràng tức rời thế giới ánh sáng để đến Lộc Uyển và trải qua suốt 12 năm, Ngài nói những pháp cho người thế gian tu hành, nghĩa là nói kinh A Hàm. Nhưng người chấp vô kinh này cho rằng đạo Phật là triết học, là xã hội học, không có gì cao siêu. Người nghĩ chấp như vậy, theo Phật đó là người mù rờ voi.

         Kinh A Hàm nhằm giáo hóa con người trở thành đạo đức, căn bản nhất là phải quy y Tam bảo và giữ năm giới. Quy y Phật là lấy trí tuệ làm Thầy. Quy y pháp là lấy sự thật hay chân lý làm lý tưởng sống. Quy y Tăng là kết bạn với người hiền lành, sáng suốt, hòa hợp, không tranh cãi. Nương theo Tam bảo để sống, chắc chắn cuộc đời sẽ tốt đẹp. Ngoài ra, Phật dạy năm giới cấm: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói sai sự thật, không uống rượu. Đó là năm điều căn bản của người đạo đức. Thật vậy, người nói dối, phản bạn, lừa Thầy làm sao được ai tin dùng. Hay người gian tham trộm cắp dù chỉ một lần cũng không thể tin cậy. Và người đạo đức cũng không tà dâm, không sát hại sinh mạng của chúng sinh. Sát sanh, trộm cắp, tà dâm và nói dối là bốn giới căn bản gọi là tánh giới. Giới thứ năm là không được uống rượu. Uống rượu không phải là cái tội, nhưng nó làm cho tâm trí con người bị rối loạn mà sanh ra tội lỗi.

        Trong thế giới Phật không có năm giới cấm nói trên, nhưng vào Ta bà, Đức Phật phải sử dụng phương tiện để độ người, Ngài mới dạy những điều đạo đức luân lý của con người.

        Khi Đức Phật thành Phật, cốt lõi mà Ngài muốn nói là kinh Hoa Nghiêm, nhưng vì chúng sinh không thể nào nắm bắt được, Ngài mới mở phương tiện là thuyết pháp trong suốt 49 năm. Giáo pháp của Phật nói đã được kiết tập thành kinh tạng Nikaya là tam tạng Thánh điển và đây là cái gốc của đạo Phật, nhưng thật sự cũng do loài người biên soạn để truyền bá cho nhau tu học. Vì vậy, kinh điển giúp chúng ta hiểu nghĩa lý, chứ không nên chấp. Đến thời kỳ Phật giáo phát triển, các vị Thánh Tăng biên tập lại dưới dạng Đại thừa, từ đó có kinh điển Đại thừa ra đời. Nhưng kinh Đại thừa cũng phát xuất từ kinh Nguyên thủy, tức từ căn bản kinh điển đó áp dụng vào đời sống tu hành rồi đắc đạo thì thấy khác.

         Thật vậy, cùng đọc một quyển sách, nhưng người trình độ thấp hiểu khác, người trình độ cao hiểu nghĩa lý sâu xa. Kinh Đại thừa đến thời Phương Đẳng, Bát Nhã thì hiểu Phật cao hơn, không hiểu Phật là một con người bình thường. Theo tinh thần Đại thừa, Phật là con người, nhưng tiếp cận được thế giới thần linh, hay xa hơn, Ngài tiếp cận với chư Phật mười phương, nên Ngài tổng hợp được tất cả lực siêu nhiên thành một lực dụng vô cùng mạnh mẽ mà chúng ta không thể nào biết được, gọi là bất khả tư nghì. Điển hình như một người thuyết phục được người khác đã khó, vậy mà Phật chỉ trong một đêm giáo hóa được 3 anh em Ca Diếp là giáo chủ ngoại đạo và độ được 1000 người ngoại đạo thành A la hán. Việc này con người bình thường không thể làm được. Cho nên, Đại thừa bắt đầu thấy Phật khác, là thấy Phật từ con người nhưng siêu tuyệt hơn mọi người.

        Vì vậy, nếu chấp vào kinh, sẽ không được giải thoát. Cho nên đến thời Bát Nhã, kinh Bát Nhã phủ nhận tất cả hình thức và văn tự ngữ ngôn để lấy vấn đề đắc đạo là chính. Phật đắc đạo, chúng ta cũng phải đắc đạo, không chấp văn tự nữa. Trên tinh thần này, kinh Bát Nhã không phải là một bộ kinh riêng, nhưng do tu từ kinh Nguyên thủy đến thời Phật giáo phát triển và ngộ được yếu chỉ, huệ chúng ta sáng ra, nên thấy khác. Người tu hình thức cứ tụng kinh ngày này sang ngày khác, nhưng trí tuệ không phát triển; trong khi người tu theo yếu chỉ kinh, mỗi ngày tụng kinh, nhận được ý khác hơn. Suốt mấy chục năm giảng Pháp Hoa, Thầy cũng không thể giảng hết ý nghĩa là vậy.

         Nhờ đọc tụng kinh, chúng ta hiểu nghĩa lý sâu xa thì huệ sanh. Thật vậy, người có tâm Đại thừa đọc kinh Nguyên thủy thấy được yếu nghĩa của Đại thừa ẩn chứa trong đó và họ lạy Phật bằng xi măng, nhưng thấy được Phật thật. Kết quả này do chúng ta có căn tánh Đại thừa, hay nói cách khác, do kiếp trước chúng ta đã trồng căn lành ở Phật, kiếp này tuy không thấy Phật, nhưng trong tâm ta đã thấy Phật, nên thấy tượng Phật mà nghĩ ngay đến Phật thật. Thuở nhỏ, Thầy thấy Phật trên bao nhang mà nghĩ ra Phật và tâm Thầy muốn tìm Phật là đi tu, nhưng đi hoài cũng không thấy Phật. Phật này ở trong tâm chúng ta, ở trong vô hình.

         Các vị cao Tăng đi tìm đạo, vì tâm đã có Phật, nhưng tìm ở thế giới vật chất không có Phật, mà đi vào thế giới tâm linh cũng không thấy được, vì nó mờ mờ ảo ảo. Tuy nhiên, cũng nhờ cái mờ ảo đó mà thấy được Phật. Nghe giảng pháp, chúng ta chỉ thấy mường tượng mang máng, vì chúng ta từng nghe ở kiếp quá khứ rồi, nên thấy vị này giảng không phải như vậy và tìm vị khác cũng thấy mang máng. Theo kinh nghiệm của Thầy, tìm Pháp sư giảng giống trong tâm tưởng mình là nghe tiếng mang máng. Nói cách khác, kinh Phật dạy và cuộc sống của vị cao Tăng cũng giống như kinh nói. Ví dụ Thầy tụng phẩm Dược Vương Bồ tát thấy Ngài đốt thân cúng dường Phật, liền chứng tam muội và đà la ni. Và trong thực tế cuộc sống, Thầy gặp Hòa thượng Trí Hữu đốt hương cúng dường Phật. Ngài đốt trên khắp đầu và trên cánh tay của Ngài, cho đến đốt rụng mất một ngón tay. Như vậy, ít nhất Hòa thượng Trí Hữu cũng có được thành quả tương tợ như Bồ tát Dược Vương trong kinh Pháp Hoa. Hoặc Thầy học với Hòa thượng Trí Tịnh, thấy Ngài tụng kinh Pháp Hoa cũng đốt mất ngón tay út khi Ngài ngộ được yếu chỉ kinh Pháp Hoa. Chúng ta thấy hai vị cao Tăng này tu hành, ngộ được yếu chỉ kinh và đạt được những thành quả tương tự trong kinh, khiến cho niềm tin của ta đối với pháp Phật càng vững mạnh hơn nữa.

         Đức Phật đã nói giáo pháp và Ngài đã làm những gì Ngài nói. Các vị Thánh Tăng cũng thực tập pháp Phật, đắc đạo, thấy Phật và hiểu kinh rồi mới chép ra kinh. Thầy biên soạn kinh Bổn môn Pháp Hoa cũng vậy, Thầy đã thực tập và gặt hái được kết quả căn cứ trên yếu chỉ của kinh, tuy đó không phải là Phật nói 100%, nhưng tương tợ với Phật. Vì vậy, tìm kinh đọc và hiểu được nghĩa lý sâu xa thì tìm cái thực tế tương ưng để chúng ta áp dụng theo, còn những cái khác chúng ta loại ra.

         Vì vậy, đến kinh Bát Nhã loại bỏ tất cả hình thức. Thầy tụng Bát Nhã cũng loại hết kinh Đại thừa ra khỏi tâm, thì tâm trống không, không có gì để bám víu, nên có cảm giác như rơi vào biển không. Bấy giờ, qua thời Pháp Hoa và Niết bàn. Ngài Trí Giả do tu chứng từ kinh Nguyên thủy đến Bát Nhã và Pháp Hoa mới đưa ra phán giáo rằng Phật nói kinh Hoa Nghiêm 21 ngày trong Thiền định cho các đại Bồ tát. Sau đó Ngài mới nói kinh Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa và Niết Bàn.

         Pháp Hoa và Niết Bàn là thường trụ pháp, nên chúng ta có thể dựa vào đó tu hành, cảm thấy an ổn hơn và quan trọng là nhận được lực hộ niệm của Phật, nên thấy ấm áp hơn, thanh thản hơn. Theo Thầy, khi xả hết ở Bát Nhã, tâm trống không, thì phải dựa vào Phật, vào niềm tin nơi Phật lực để chúng ta bình ổn đi tới. Đối với Thầy, tất cả các kinh của Phật đều nhằm mục tiêu đoạn trừ phiền não, trần lao và nghiệp chướng, vì đó là những vật ngăn cách giữa ta và Phật. Sở dĩ chúng ta cầu nguyện không có kết quả, vì vẫn giữ nguyên ba thứ ngăn cách này.

         Phật dạy chúng ta kinh Nguyên thủy nhằm đoạn trừ phiền não, trần lao, nghiệp chướng, đó là 37 trợ đạo phẩm. Nếu chê bỏ 37 trợ đạo phẩm là sai lầm lớn. Thầy luôn luôn thực tập, cân nhắc pháp này; vì không có 37 trợ đạo phẩm, chúng ta không vượt được phiền não. Công năng của 37 trợ đạo phẩm đưa chúng ta vào Niết bàn Không, vô tác, vô nguyện.

         Thật vậy, khởi đầu chúng ta phải nhìn đời qua lăng kính Tứ niệm xứ quán, tức luôn lấy tâm mình đặt vô bốn việc là quán thân bất tịnh để chúng ta không tham đắm; quán thọ là khổ để chúng ta xa lìa vật chất; quán tâm vô thường để không chấp vô đó và quán pháp vô ngã để không phiền muộn, được giải thoát.

        Từ khởi đầu của 37 trợ đạo phẩm là quán Tứ niệm xứ, chúng ta xa rời tất cả sự chấp trước, vướng mắc, khổ đau và đến cuối cùng là giữ Bát chánh đạo để sống.

        Hoa sen trên pháp y của chúng ta có 8 cánh và 7 hột, nghĩa là lấy cốt lõi của kinh Nguyên thủy là Thất Bồ đề phần, vì không có Thất Bồ đề phần là không có trí giác thì làm sao vào đạo được.

        Về sau, pháp y không có 8 cánh sen, chỉ còn 7 hột Bồ đề, nghĩa là sen rụng chỉ còn tâm Bồ đề để vào thế giới Đại thừa. Nhưng muốn như vậy, phải có Bát chánh đạo, vì nếu không thấy đúng sẽ đau khổ, nếu thấy theo tham vọng là cái thấy sai lầm. Tu hành, nhận ra cái thực của cuộc sống, chúng ta xả bỏ dễ dàng, con quạ thì phải đen, con cò thì phải trắng là tất yếu. Mình muốn con quạ trắng làm sao nó trắng được. Phật dạy chúng ta phải biết chúng sinh nghĩ gì, muốn gì, làm được gì. Thầy thường nói rằng người không phải là mình, nên chắp gối cho họ vào đời, không muốn họ làm theo ta, vì họ có nghiệp riêng của họ và họ phải theo nghiệp đó thôi.

        Chánh kiến, chánh tư duy là suy nghĩ theo Phật, tức ta nhìn đời qua lăng kính kinh điển, sẽ thấy tốt hơn. Và có được chánh kiến, chánh tư duy rồi, thì không nói sai là chánh ngữ.

        Tu hành không thể bỏ kinh Nguyên thủy, hay Bát chánh đạo và Thất Bồ đề phần. Tu Pháp Hoa, xả Bát chánh đạo, để giữ Thất Bồ đề phần, vì hoa lạc liên thành, nghĩa là cánh sen rụng để còn lại gương sen có 7 hột và nuôi lớn 7 hột này. Nói cách khác, bỏ cánh sen hay bỏ hình thức rườm rà làm chúng ta không đi xa vào thế giới tâm linh được. Mặc dù không giữ hình thức, nhưng không phạm sai lầm. Không phải không chấp tướng rồi phạm lỗi lầm là đọa.

        Qua giai đoạn phải giữ gìn từng chút một, chúng ta hoàn toàn thanh thản thì đó là cái được tự nhiên của Bát chánh đạo, không phải mất Bát chánh đạo. Ví dụ Tề Thiên bị đeo vòng kim cô, vì không có vòng này, ông nổi loạn. Nhưng khi thỉnh được kinh và bái Phật rồi, Tề Thiên bảo Quan Âm gỡ bỏ dùm vòng kim cô; Quan Âm nói vòng này mất rồi, còn đâu mà gỡ.

         Bước chân vào Đại thừa, giới luật tự biến mất để thành Phật, không phải thành ác ma. Phật chế giới nhằm cấm ngăn người sẽ phạm giới, cho nên khi Phật độ năm anh em Kiều Trần Như, không có giới. Nhưng khi Phật bắt đầu nói giới để độ trưởng giả Da Xá và 50 thanh niên, vì họ về nhà sống thì sẽ nảy sinh vấn đề, mới cần giữ giới.

          Chúng ta tu Pháp Hoa, dồn sức nuôi 7 hạt Bồ đề để hạt lớn lên và hạt chín, mới có mầm sen, cho đến hạt thối đi để nuôi mầm sen mọc lên cây sen khác.

         7 phần Bồ đề nằm trọn trong tâm chúng ta, nên chúng ta tu mà không ai biết mới là tu cao, gọi là vô tác diệu lực. Còn làm mà người ta biết được là bình thường. Cũng vậy, người tu hình thức có giới hạn, còn người tu 7 phần Bồ đề trong tâm thì vô lượng.

          Tóm lại, kinh Nguyên thủy gom lại còn pháp tu Bát chánh đạo và xả Bát chánh đạo, lấy Thất Bồ đề phần. Như vậy, kinh Nguyên thủy nhằm dạy chúng ta trở thành người đạo đức trong xã hội và cao hơn là Bát chánh đạo, tức đạo đức của người xuất gia, hay hàng Thanh văn.

        Kế đến là hàng Duyên giác quán nhân duyên để sanh trí tuệ và dùng trí tuệ quan sát cốt lõi của kinh để hiểu nghĩa lý sâu xa mà thực tập. Quán sát 12 nhân duyên là nhìn cuộc sống của con người vận hành theo vòng xoay, khởi đầu từ một niệm vô minh, tức ý nghĩ sai lầm, dẫn đến sai lầm về hành động, về lời nói, mới có quả báo và hiện thân khổ đau. Sau cùng, cái vòng sống khổ đau đó kết thúc bằng lão và tử. Tuy nhiên, trong 12 nhân duyên, mắc xích là ở vô minh mới sanh ra tội lỗi. Chỉ cần minh sanh ra là ngăn chận được vô minh liền. Vua Trần Nhân Tông ngộ đạo cũng từ một niệm minh, mới thốt lên rằng:

Thị phi tiếng rụng theo hoa sớm

Danh lợi lòng băng với bão đêm

Hoặc Hòa thượng Trí Tịnh không nghe ai, vì Ngài biết rồi, nên sanh tử luân hồi cũng kết thúc từ đây, vô minh, phiền não, trần lao đã chấm dứt rồi.

Có thể nói pháp tu của Duyên giác thừa tuy nhiều, nhưng thực chất chỉ còn "Biết và không biết”.

Như vậy, hàng Thanh văn dùng đạo đức và hàng Duyên giác dùng trí tuệ để vào thế giới Pháp Hoa. Cao nhất là vào bằng Bồ tát đạo. Bồ tát khởi tu bố thí, giúp được gì cho người đều sẵn lòng, những gì chúng ta biết nên dạy người và những gì không cần, chúng ta cho. Pháp thứ hai của Bồ tát là trì giới, chủ yếu là thập thiện giới để thân khẩu ý được thanh tịnh. Bồ tát tu lấy tâm làm chính, không tham không giận, nên được sáng suốt và thấy việc đáng làm; đó là Bồ tát trì giới. Bồ tát còn có hạnh tinh tấn, vì nghĩ rằng thọ mạng của con người không nhiều, làm được việc gì là làm, không đợi ngày mai và làm đến hơi thở cuối cùng. Quan trọng đối với Bồ tát là tinh tấn làm cho tâm thanh tịnh, không vọng động; vì thiện là định tĩnh và ác là vọng động. Làm nhiều nhưng không thanh tịnh là ác rồi. Vì vậy, Bồ tát không quan trọng làm nhiều hay làm ít, nhưng quan trọng phải giữ tâm thanh tịnh để thấy việc đáng làm, người đáng giúp.

         Tu tinh tấn giữ tâm thanh tịnh đi sâu vào Thiền định, vì các pháp Phật không ngoài Thiền định và trí tuệ. Tâm lúc nào cũng phải đứng yên và nhìn đời sáng suốt. Tâm đứng yên là vào Vô lượng nghĩa xứ định là định của Pháp Hoa và huệ theo đó phát sinh, mới thấy hoa Mạn Đà La, hoa Mạn Thù Sa, thấy chúng sinh từ địa ngục A Tỳ cho đến trời Hữu đảnh, thấy bức tranh toàn bộ Pháp giới hiện ra.

 

TẤT CẢ KINH PHẬT NÓI TỪ KINH NGUYÊN THỦY CHO ĐẾN KINH ĐẠI THỪA CUỐI CÙNG QUY VỀ PHÁP HOA.

        Mở đầu kinh Pháp Hoa là kinh Vô Lượng Nghĩa. Kinh Vô Lượng Nghĩa gồm thu cả tam thừa giáo. Thật vậy, Thanh văn tu 37 trợ đạo phẩm và cuối cùng thân khẩu ý đều thanh tịnh mới vào được thế giới chân thật, đó là con đường thứ nhất để vào Pháp Hoa.

        Con đường thứ hai của Duyên giác do quán sát 12 nhân duyên thấy được sự thật của các pháp. Thật là sanh diệt mà muốn không sanh diệt không thể có, muốn trẻ không già không được. Tất cả muôn vật đều thay đổi trong từng sát na. Có người thương muốn giúp đỡ ta, nhưng ngày mai, họ không còn ý đã hứa nữa, chúng ta không nên buồn giận khổ. Phật dạy tâm vô thường, nay nghĩ vầy, mai nghĩ khác là bình thường. Vì vậy, nhìn sự vật bên ngoài thay đổi mà biết tâm chúng ta thay đổi. Khi nào tâm chúng ta thật thanh tịnh, phước đức hiện ra, người sẽ hợp tác, nhưng ít ai nghĩ rằng tâm mình thay đổi, cứ nghĩ hoàn cảnh bên ngoài thay đổi. Hàng Duyên giác quán nhân duyên, thấy biết sự thay đổi là lỗi lầm quá khứ của mình, hay quán những kiếp trước thì thấy ngay điều này.

        Trong một mùa an cư, có một đại thí chủ hứa cúng dường Phật và chư Tăng trong ba tháng, nhưng đến mùa an cư, không thấy ông đại thí chủ đã hứa đâu cả. Các Thầy chưa đắc đạo lo lắng, còn Phật vẫn thanh thản và nói rằng đây là túc nghiệp của Ngài. Phật cho biết đời trước Ngài phạm một lời nói ác khi thấy Tỳ kheo đi khất thực mà nói rằng người này còn khỏe mạnh mà không chịu làm việc, lại đi xin. Ngài bảo người làm cho lúa ngựa, không cho cơm. Khởi một ý niệm ác và làm ác ở kiếp quá khứ như vậy mà nay quả báo tới. Chư Tăng không có thức ăn, thì có một người lái buôn đem cúng Phật và Tăng chúng thức ăn của ngựa. Làm Phật có phước báu thì trả quả báo khác với chúng sinh thọ quả báo. Phật trả quả báo này như thế nào? Người buôn ngựa thật ra là Trời Đế Thích biết việc này, nên hiện ra để cúng dường Phật và Tăng chúng.

        Duyên giác thừa dành cho người có trí mới quán sát được. Không có trí tuệ phải đi vào Thanh văn thừa, tức nhờ quán pháp Phật dạy mà tâm lắng yên. Còn Duyên giác quán sự vật bằng trí tuệ của mình, nên tâm không phiền muộn.

        Con đường thứ ba của Bồ tát đi vào Pháp Hoa là hành Bồ tát đạo, tất nhiên gặp nhiều việc ngang trái, nên khó tránh khỏi khởi tâm. Ví dụ khi ta giúp người, nhưng họ không vừa lòng, ta sẽ buồn phiền. Có Phật tử nghe Thầy thuyết pháp thấy ăn mày nên thương, bố thí cho họ, nhưng khi ra về nhìn thấy người ăn mày sống sung sướng hơn mình, ăn ngon còn đánh bạc. Bà này bực tức, nghĩ không bố thí nữa. Đó là Bồ tát mới phát tâm thấy khổ của chúng sinh thì giúp đỡ, nhưng thấy họ dối trá thì bực tức, là bố thí không có trí tuệ chỉ đạo dễ sanh phiền não, trần lao, nghiệp chướng. Giúp người không đúng, chẳng những không có phước, mà ta còn gánh thêm nghiệp của họ. Có người phải để cho đói khổ, họ mới tu được; với người như vậy, giúp họ là ta phá pháp. Ví dụ vào chùa thấy ông đạo hiền lành, dễ thương. Ta liền đưa ông về nhà mình để nuôi, rồi thấy ông ấy không làm được gì, vì ở chùa ổng chỉ tụng kinh thôi. Có trí tuệ, ta giúp ông đạo ở chùa tu, đừng bắt đem về nhà. Có trí tuệ biết nó là ăn mày giả thì không cho, vì cho là tiếp tay với người xấu. Ở Nhật Bản không có người ăn xin, vì không ai cho.

         Tu Bồ tát hạnh, cần có trí tuệ quán sát để hành bố thí. Phật dạy bố thí để tâm tham luyến tài vật không còn, tâm chúng ta được giải thoát, mới vào đạo được. Đức Phật bỏ ngôi báu đi tìm chân lý để xem lòng còn tiếc hay không. Phật thấy ngôi báu là chỗ tranh giành giết chóc đáng sợ và thấy cuộc sống sung sướng của vua làm cho bao nhiêu người phải hầu hạ, chăm sóc Ngài thì đó là quả báo phải trả, gần là hao tổn tiền bạc của dân, xa là bị tổn phước, nên cuộc sống như vậy không thể tồn tại lâu dài. Thực tế cho thấy người có phước làm vua trong khoảng thời gian dài, người phước ít chỉ ở ngôi vị một thời gian ngắn, thậm chí có người vừa lên ngôi vua là chết.

        Bố thí là xả bỏ vật chất để xem tâm phiền não còn hay không. Nếu lòng tham còn, ta phải sám hối, đoạn trừ tâm tham ái để vào đạo. Tham ái có ba thứ chính là tham danh, tham lợi và tham tình ái. Đoạn ba thứ tham này, các loại tham khác không còn tác dụng. Có người nói với Thầy rằng không thể đi tu được, vì sự nghiệp của ông tạo bằng mồ hôi nước mắt trong 40 năm, làm sao bỏ được. Nếu bị kẹt cứng với sự nghiệp vật chất như vậy thì sau khi chết, sẽ thành ma giữ của, không đi đầu thai được. Trên thực tế, chúng ta thấy những lâu đài xưa thường có âm khí vì chủ nhân là các hồn ma vẫn còn bám víu nơi đó.

       Tu Thanh văn dễ xả bỏ, vì họ ôm bình đi khất thực, ngủ ở gốc cây, không có gì để nắm giữ và để luyến tiếc, nên họ vào đạo dễ dàng và tiến tu được. Hàng Duyên giác tu pháp quán cũng dễ đi tới được. Còn hành Bồ tát đạo độ người nhiều, nhưng cũng dễ phát sinh phiền não, trần lao, nghiệp chướng, dễ bị đọa.

Tu Bồ tát đạo phải có đạo đức và trí tuệ ví như hai cánh tay để hành đạo. Còn chúng ta không đắc đạo, không trí tuệ, mà làm thì dễ bị phiền não, nghiệp chướng và trần lao tác hại. Người có đạo đức hiện hữu nơi nào cũng được người kính trọng và nói gì thì người cũng tin theo, hoặc có bố thí dù là vật không có giá trị, người nhận cũng trân quý. Nhưng chúng ta không phải mẫu người này, nên luôn cộng nghiệp với người mà chúng ta giúp, cho nên ta tu rất khó.

         Muốn tu Bồ tát đạo, Phật khuyên mình nên làm quyến thuộc với Bồ tát, không phải tự làm; ví như có tiền nhưng không biết kinh doanh thì mình đầu tư cho người khác làm sẽ có lời, còn tự làm thì mất vốn, đó là cái khó của Bồ tát đạo. Hành Bồ tát đạo, phải hợp tác, nhưng phải coi hợp tác ở đâu, với ai. Nếu có Phật ra đời, Ngài không bao giờ sai lầm, nên chúng ta đầu tư cho Phật, hoặc đầu tư cho Bồ tát. Các Ngài làm nên đạo nghiệp lớn, trong đó có phần của mình. Chúng ta tự làm thường kẹt vào việc cầu danh, dễ bị đọa.

        Tu theo Thanh văn, Duyên giác, hay Bồ tát, nói chung tất cả kinh điển Phật dạy cũng đòi hỏi chúng ta đến mức thánh thiện là tâm trí lắng yên. Người tu Tịnh độ chọn pháp niệm Phật, trì kinh và nương theo vị Thánh Tăng nào thể nghiệm được pháp này có kết quả để tu. Niệm Phật đến mức tâm trí lắng yên như vào Thiền định, hay được nhất tâm bất loạn, không có nghiệp, phiền não và trần lao; bấy giờ hành giả mới thấy Phật và Thánh chúng phóng quang tiếp độ và nương theo ánh sáng đó thì vãng sanh Tịnh độ.

        Khi chúng ta nhìn tượng Phật để tập trung đến mức thuần thục, nhìn đâu cũng thấy Phật, nghĩ là Phật, nhờ vậy hạn chế được lỗi lầm, nghĩa là nghiệp chúng ta nhẹ lần, sau mới vào thế giới Phật được. Theo kinh nghiệm của Thầy, hành Bồ tát đạo, nhưng tâm luôn tập trung vào Phật, cho nên gặp người xấu ác, Thầy cũng nghĩ họ là Phật, sanh tâm kính trọng họ. Người xấu mà mình nghĩ là tốt; như vậy trong tâm mình là thiện rồi. Tâm tạo ra tất cả các pháp là thế. Nếu mình thấy họ xấu và ghét họ, làm sao họ thương mình được. Phật dạy Bồ tát Địa Tạng vào địa ngục để độ sanh, nên tìm cái tốt của người mà nghĩ, đừng thấy cái xấu, dù điều tốt của người nhỏ nhoi mỏng manh bằng sợi tơ cũng nên cứu độ họ. Chỉ thấy cái tốt thì người xấu nào cũng trở thành tốt được. Trên cuộc đời này, giới giang hồ là người xấu nhất, điển hình như Liên Hoa Sắc mà Đức Phật nhìn bà này cũng thấy được điểm tốt của bà, nên bà đã phát tâm xuất gia theo Phật và thành A la hán. Thấy điều tốt và phát huy cái tốt của họ, lần lần họ cũng tốt và tu được.

       Ba con đường Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát, kinh Pháp Hoa gọi là ba xe và Nhà lửa tóm lược tất cả kinh điển để giúp hành giả ra khỏi cảnh khổ đau và tâm trí được lắng yên, mới có đạo, có đời sống tâm linh thật sự mà kinh diễn tả là tới bãi đất trống mới lên đại bạch ngưu xa và có Pháp Hoa. Còn ở trong Nhà lửa không có Pháp Hoa. Có Pháp Hoa vì tâm thanh tịnh và trí sáng suốt. Tới được Pháp Hoa, bốn biển là nhà, thân trùm pháp giới. Vì vậy, khi người thấy ta còn khó chịu là vì ta chưa tới Pháp Hoa, thân tâm ta chưa thanh tịnh, trí chưa sáng suốt.

        Tu Pháp Hoa là tu ở Ta bà đầy khổ lụy, nhưng ta không khổ, không nhiễm bùn, tức tâm chúng ta không tham, không buồn phiền, ví như hoa sen và trí tuệ, đạo đức tỏa hương thơm. Trên tinh thần này, tuy nói ra khỏi Nhà lửa tam giới nhưng ra mà không ra, vẫn ở đây, ở trong bùn, nhưng là hoa sen tinh khiết.

        Thanh văn vào Niết bàn là sai, vì như vậy là rơi vô sự vô cảm trở thành gỗ đá. Trước kia, Thanh văn tu pháp Không để tâm thanh tịnh, nhưng đắc đạo rồi, là Thánh A la hán thì phải biết, phải nghĩ, phải thương đời. Giai đoạn trước, chúng ta tu Thanh văn để tâm lắng yên, thấy được pháp cao siêu hơn để cứu đời. Cho nên ra khỏi Nhà lửa tam giới rồi, tâm không còn buồn, giận, lo, sợ, để vào hội Pháp Hoa; nhưng muốn được như vậy, phải đối cảnh là ở trong hoàn cảnh đáng buồn giận, lo sợ, nhưng chúng ta không buồn giận, lo sợ. Còn chúng ta ở chỗ yên ổn thì có gì mà sợ. Đáng buồn giận, lo sợ chỉ có ở Ta bà, ở Cực lạc không có bốn thứ này thì sen cũng không mọc được. Vì vậy, Phật dạy rằng không có phiền não, nghiệp và chúng sinh sẽ không có Bồ tát.

        Nhận thức được yếu nghĩa như vậy, chúng ta ở Ta bà mở mắt huệ để thấy Bồ tát mà chúng ta hợp tác tu hành. Ở Ta bà mới có Bồ tát hành Bồ tát đạo. Ví dụ ở đây bố thí thì thiếu gì người xin, ở đây biết một nghề nhỏ cũng dạy được người. Ở nước văn minh phải giỏi mới dạy được. Người giàu có vào Việt Nam đầu tư vì nhân công rẻ. Chúng ta khổ quá nên muốn bỏ khổ mà chạy, nhưng làm sao chạy khỏi, vì nghiệp giống như cái đuôi của con trâu dính chặt với nó.

Thầy tin ở chỗ khổ có nhiều Bồ tát hiện thân vô để tạo quyến thuộc Bồ đề mới có công đức. Nhiều Thầy nói rằng Thầy về Việt Nam tìm cái chết, nhưng nay quý vị đó thấy Thầy ở Việt Nam làm được nhiều việc hơn. Ở Ta bà có rất nhiều Bồ tát mà cụ thể chúng ta tôn thờ là Bồ tát Quan Âm. Ngài có 32 hiện thân, nên Ngài hiện hữu trong giai cấp thợ thuyền, công chức, v.v…, trong tầng lớp xã hội nào cũng có người tốt, chúng ta tìm làm bạn với họ để cùng làm Phật sự. Nếu họ là vua biết làm việc thiện, biết lo cho dân, chúng ta ủng hộ để kiếm một phần công đức.

Ta bà và Tịnh độ theo Pháp Hoa là một, vì tâm tịnh là độ tịnh, tâm chúng ta thanh tịnh thì Ta bà này thanh tịnh. Xá Lợi Phất nghe Phật giới thiệu Tịnh độ mười phương mới nghĩ chẳng lẽ Phật Thích Ca không thanh tịnh hay sao mà thế giới của Ngài đầy hầm hố gai chông. Trời Đế Thích mới hiện ra nói rằng vì tâm Xá Lợi Phất hầm hố nên thấy vậy, còn ông thấy thế giới Phật Thích Ca đẹp hơn cung Trời tam thập tam thiên.

Ở thế giới chúng ta đang sống có Tịnh độ, nhưng tâm ta không thanh tịnh, mới không vào Tịnh độ được. Và không vào Tịnh độ, tâm ta nhiễm ô khổ đau. Thiết nghĩ ít nhất lúc chúng ta trì kinh thanh tịnh thì thế giới Tịnh độ đã hiện ra cho chúng ta.

Thâm nhập được thế giới Pháp Hoa, trước tiên phải có hoa Mạn đà la và Mạn thù sa, tức tâm họ thanh tịnh và an lạc thì có Pháp Hoa; không có hai trạng thái này là Ta bà. Nếu vào Tịnh độ, tâm họ thanh tịnh, sẽ hiện tướng giải thoát và được người quý trọng. Còn tâm không thanh tịnh phải đối đầu với phải trái hơn thua. Ý này muốn nói yếu chỉ là Phật vào Thiền định thì tất cả chúng hội đều vào Thiền định và thanh tịnh theo. Nói cách khác, nghĩ đến Phật thanh tịnh, chúng ta thanh tịnh theo, cái này là Phật cho. Thực tế cho thấy khi đứng trước một người đức hạnh, hay người quyền uy, hoặc người hung dữ, tâm chúng luôn bị tác động. Vì vậy, chúng ta tìm lực tác động tốt nhất là của Phật, của Bồ tát. Tâm chúng ta lắng yên sẽ gặp Phật, tâm chúng ta thương người sẽ gặp Bồ tát. Và tiếp cận được với Phật, với Bồ tát, nhận được sự hộ niệm của các Ngài, tâm chúng ta càng lắng yên hơn, lòng thương người càng lớn hơn và làm được nhiều việc lợi ích cho đời hơn.

Giữa ta với Bồ tát mười phương và Bồ tát nhân gian có mối tương quan tương duyên để hỗ trợ nhau. Vì vậy, ta tìm Bồ tát nhân gian và có ý tốt về họ, họ nghĩ tốt về ta. Thầy làm đạo được là nhờ người giúp, gọi là Hộ pháp thần dương, tức là người hiện hữu trên cuộc đời này. Còn nghĩ người xấu ác, lần lần người xấu ác với ta tăng lên. Hôm nay chúng ta thân với họ, nhưng ngày mai, ta nghĩ họ xấu, là đã biến bạn thành thù. Nếu ta tốt thực, Bồ đề quyến thuộc sẽ đông thêm, mới làm được Phật sự. Tu Pháp Hoa phải thực hiện hạnh Bồ tát, ở ngay Ta bà tội lỗi này mà phải vươn lên tỏa hương thơm cho đời.

Tất cả các kinh Phật nói trong 49 năm đều có cốt lõi và người tu Bổn môn Pháp Hoa muốn tìm cốt lõi, không chấp hình thức bên ngoài. Vì vậy, phải hiểu nghĩa lý bên trong và tu đạt được kết quả; không hiểu cốt lõi thì tu suốt đời chỉ là người nấu cất muốn thành cơm. Tất cả kinh đều trở về kinh Pháp Hoa, nên các vị Thánh Tăng gọi là đồng quy giáo, nghĩa là trăm sông đổ ra biển. Kinh Pháp Hoa ví như biển và các kinh khác là sông, cho nên kinh Pháp Hoa bao gồm tất cả phương tiện và kinh Pháp Hoa còn có tên khác là kinh Vô Lượng Nghĩa, tức không có một nghĩa cố định, nhưng đứng ở mặt nào, Pháp Hoa cũng thu nhiếp được và điểm chính yếu của vô lượng nghĩa là đạo đức, trí tuệ và phải có lợi ích cho người. Cốt lõi của kinh Pháp Hoa, hay cốt lõi của đạo Phật là ba điều này.

Kinh Pháp Hoa được coi là cốt lõi của đạo Phật, hay Phật thừa, còn các kinh khác thuộc Thanh văn thừa, Duyên giác thừa hay Bồ tát thừa, tức được một trong ba điều chính yếu vừa nói. Trên bước đường tu, đương nhiên Thanh văn thừa và Duyên giác thừa cũng cần thiết, vì không học sẽ phạm sai lầm, nhưng học mà không làm thì uổng phí. Hành Bồ tát đạo lấy việc học và làm lợi ích là chính, nhưng càng giỏi, ta càng khiêm tốn là có đạo đức. Làm nhiều việc, nhưng không nghĩ đến thành tích. Hành Bồ tát đạo làm gì cũng được, nhưng phải được đánh giá là có đạo đức, có trí tuệ và làm lợi ích, thì như vậy chúng ta vào được kinh Pháp Hoa là vào bằng cửa vô lượng nghĩa. Tất cả các pháp môn đều vào Pháp Hoa được, nhưng phải có đủ ba tiêu chuẩn này.

Vào cửa Pháp Hoa là ra khỏi Nhà lửa tam giới, đến bãi đất trống, tức phải xả bỏ tất cả, còn giữ lại một chút gì cũng không được. Ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh, đến chùa Lôi Âm phải qua sông, nhưng không có cây cầu. Ngài sợ quá khi thấy có một cái cầu như một lằn tên bắn ra rồi biến mất, nhằm chỉ rằng khi tu hành, có lúc tâm ta thanh tịnh, tâm đứng yên, ta quên nhà cửa, việc làm, quên người thân và quên cả thân xác này, thì bấy giờ, ta liên hệ được Phật; nhưng khi tâm vọng động, mối liên hệ này tự biến mất. Thầy Huyền Trang quên tất cả, nhưng còn nhớ cái thân của Ngài, nghĩa là trước cái chết, tự nhiên sợ chết. Vì vậy, Huyền Trang không lên cái cầu của Tâm được và ông nhìn từ xa có một chiếc thuyền tới. Thuyền tiêu biểu cho giáo pháp chúng ta học. Chúng ta không thể qua sông mê bể khổ, nên phải bám vào giáo pháp để tu và để xóa phiền não trần lao. Thầy Huyền Trang thấy thuyền mừng quá, cũng như Tổ Thiên Thai gặp được kinh Pháp Hoa, mừng quá, phát khóc; vì Ngài muốn tới với Phật, nhưng không có cách nào, nên gặp được kinh là phương tiện thì mừng quá. Ngài chuyên tụng kinh Pháp Hoa đến thuộc lòng và thâm nhập cốt lõi của kinh. Ngài thấy thế giới Phật hiện ra. Nghĩa là tụng kinh văn tự, rồi tụng yếu nghĩa của kinh, quên đi văn tự kinh là tu Bổn môn, thì tâm thanh tịnh. Phật hiện ra, nên Ngài nói hội Linh Sơn chưa tan.

Thầy Huyền Trang thấy chiếc thuyền không đáy, nên sợ, không dám xuống, điều này nhằm chỉ rằng chúng ta tu, nhưng chưa dứt khoát. Tổ dạy rằng sơn cùng thủy tận là chỗ ngộ đạo, đến mức tuyệt mạng tuyệt thể mà tâm sáng lên mới qua được bờ giải thoát. Trên bước đường tu, đến lằn ranh giữa sống và chết là quan trọng nhất, chúng ta tu để chuẩn bị điều này.

Tôn Ngộ Không xô Huyền Trang té xuống thuyền và Thầy bám vô thuyền, thấy có một xác người giống mình trôi trên sông. Còn sống thì nghĩ thân xác này là mình, chết thì nghĩ thân này là sở hữu của mình. Và khi tu hành, nhận ra được thân mình là một khối nghiệp mới bắt đầu sửa, sửa sao cho tác phẩm của mình tuyệt hảo. Khi con người mình hoàn hảo là tâm thế nào thì hình thế ấy. Chúng ta dùng tâm chỉnh sửa thân sao cho mọi người quý mến được, đó là tu.

Rớt xuống sông, Ngài Huyền Trang mới nhận ra xác mình, còn chân thân thì hoàn toàn tự tại. Ngồi trên thuyền không đáy, hay tới cửa Không, tới bãi đất trống là đến đây mới có đại bạch ngưu xa. Vì kinh Pháp Hoa làm cho chúng ta giải thoát, được an lạc trong cái bất an. Sống trong xã hội này, tất cả mọi người lo sợ, nhưng ta tu Pháp Hoa không lo sợ, không buồn giận. Còn buồn giận lo sợ là chưa vào Pháp Hoa. Nếu chúng ta sống với chân tâm thì lửa không đốt được, ác ma không hại được, thì ta sợ gì. Thầy làm được Phật sự nhờ đặt niềm tin trọn vẹn ở kinh, ở Phật. Thầy nghĩ sống cho tốt và chết thì có Phật cứu, ta về thế giới Phật. Thậm chí có ý nghĩ táo bạo, thích chết trong nguy hiểm để có đóng góp cho đạo trước khi ra đi.

Tu Pháp Hoa cảm nhận sự an ổn ngay trong trần gian, còn tu Tịnh độ nghĩ Ta bà không an, phải về Cực lạc. Tu Pháp Hoa, Phật dạy nếu tâm chúng ta an thì chỗ đó an. Có thế giới Pháp Hoa thật là thân như hoa sen và tâm như ngọc sáng, tức có đạo đức và trí tuệ. Còn chưa có gì thì tụng 100 bộ kinh Pháp Hoa để mong hoàn cảnh tốt hơn và được hưởng thụ nhiều hơn thì làm sao có được.

Khi có Pháp Hoa, kinh diễn tả có hoa Mạn đà la tiêu biểu cho nguồn vui của tâm và hoa Mạn thù sa tiêu biểu cho sự trong sạch. An lạc và trong sạch là cốt lõi của Pháp Hoa.

Thân của hành giả Pháp Hoa ví như hoa sen là sống trên cuộc đời này mà không nhiễm ô điều gì, hoàn toàn thanh thản. Vì vậy, bắt đầu tu, không cần chỗ ở, ở đâu cũng được. Phật dạy Tỳ kheo cuộc hành trình trên thế gian, hay hành trình trong đạo, đi mãi, không kẹt chỗ ở thì tâm được giải thoát một phần. Chỗ ở của chúng ta nhỏ nhất theo NgàiVinh Tây, vị Tổ sư Nhật Bản nói rằng nếu nằm thì chỉ một chiếu, còn ngồi thì chỉ nửa chiếu. Một chiếu có bề dài 2 mét, bề ngang 7 tấc. Đừng lệ thuộc chỗ ở nhiều để tâm không bị vướng mắc. Nhiều người giàu nói có đất ở khắp nơi là tâm họ bị kẹt nhiều, nên càng giàu càng khó tu. Không lệ thuộc chỗ ở trước nhất sẽ thấy phước báo hiện ra là phước báo của chư Thiên, chánh báo ở đâu thì y báo ở đó.

Khi thành đạo ở Bồ đề đạo tràng, Đức Phật chứng tam minh và khi Phật kết thúc lộ trình hoằng pháp bằng kinh Pháp Hoa cũng có tam minh. Tại Bồ đề đạo tràng, Phật đã nhập Vô lượng nghĩa xứ định, tức tâm lắng yên và cũng có hoa Mạn đà la, hoa Mạn thù sa là Phật đã chứng được tâm an lạc và tâm trong sạch thì cảnh giới giác ngộ hiện ra.

Đầu tiên, Phật thấy được Túc mạng minh, tức Ngài bắt đầu quan sát nghiệp thân của Ngài từ quá khứ lâu xa cho đến hiện đời, thấy rõ con người thực của Ngài là thấy cái tốt và cái chưa tốt. Phật quán sát kỹ như vậy để điều chỉnh cho đến toàn thân thể hiện 32 tướng hảo, 80 vẻ đẹp và vô số việc làm thánh thiện, không còn việc gì làm phiền Ngài được. Ngài hoàn toàn trong sạch.

Và chứng Túc mạng minh, tâm sáng suốt, thân trong sạch, bắt đầu quán sát cuộc đời thì Ngài chứng Thiên nhãn minh là thấy khắp vũ trụ, thấy tất cả chư Phật và Bồ tát cùng chúng sinh. Nhờ thấy đúng như vậy, nên Phật giáo hóa chúng sinh không chướng ngại, thấy người ở tiền kiếp từng được Ngài cứu độ, hay họ từng gây khó khăn cho Ngài.

Tới Vô lượng nghĩa xứ tam muội ở thời Pháp Hoa, Phật làm cho tất cả mọi người trong chúng hội thấy được tất cả, là thấy theo kinh và vào định mới thấy như vậy. Vì vậy, tu giáo pháp Phật, ta thấy y như Phật dạy. Phật khai phương tiện để chúng ta tu hành và tới Pháp Hoa, tâm trí ta lắng yên, vào định, sẽ thấy được những điều Phật đã thấy ở Bồ đề đạo tràng. Ở Bồ đề đạo tràng, Phật thấy Pháp giới; ở hội Pháp Hoa, Phật làm cho chúng hội thấy Pháp giới.

Ta nương Pháp Hoa tu để thấy như Phật là thấy tất cả chúng sinh trong sáu đường sanh tử, họ khổ thế nào, hay họ sướng ít mà khổ nhiều, là thấy địa ngục A tỳ và sung sướng là ở trời Hữu đảnh, nhưng hết phước cũng bị đọa. Thấy như vậy là chúng ta thấy rõ sự thay đổi của chúng sinh trong luân hồi sanh tử, sướng đó rồi khổ đó.

Các Tỳ kheo học kinh Nguyên thủy để thấy cuộc đời thực và trải qua một thời gian tu hành, thấy xa hơn là thấy cái khổ của thế gian và thấy cái an lạc của xuất thế, tức thấy người tu trong Thiền định, thấy trong ánh quang, hay thấy trong kinh. Và cuối cùng thấy Bồ tát hiện hình cứu độ vô số chúng sinh, đó là bức tranh hiện lên cho chúng ta tu. Khởi đầu, chúng ta thấy trong kinh có Bồ tát Quan Âm, Địa Tạng, nhưng tu Thiền định đến hội Pháp Hoa, mới thấy các Ngài thật sự hiện hữu trong vô hình và cả trong cuộc đời này.

Việc quan trọng khi tu Pháp Hoa phải mở mắt huệ để thấy ai là Bồ tát để chúng ta theo. Phật dạy rằng tất cả Bồ tát đều hiện thân trên cuộc đời làm vua, hay làm trưởng giả, làm cư sĩ, thậm chí làm đồng nam, đồng nữ, v.v… Nghĩa là trong mọi tầng lớp xã hội đều có Bồ tát trong đó, không nên chấp vào một giới nào là siêu đẳng. Một đứa bé có đạo đức, chúng ta vẫn tôn trọng, vì có thể nó là Bồ tát tái sanh, điển hình như Lý Công Uẩn là đứa bé bị bỏ rơi ở cửa chùa, ai biết sau này, cậu bé ấy làm vua. Nhìn kỹ có đứa bé có đạo đức, có thông minh hay không, có làm lợi cho đời hay không, đó là ba tiêu chuẩn để chúng ta định vị là Bồ tát. Và thấy ông Thầy tu cũng căn cứ trên ba điều này. Và nhìn ra xã hội, thấy các trưởng giả, cư sĩ, vua chúa cũng có người đáng quý trọng. Phật pháp được hưng thạnh ở thời vua A Dục, còn vua chống phá đạo Phật thì làm sao đạo Phật tồn tại. Nhìn bề trong của vua A Dục để thấy được tư chất Bồ tát, nếu không là người siêu việt không thể thống nhất được Ấn Độ, không là Bồ tát thì không làm được việc lớn. Hoặc thấy Bồ tát ở trong tâm của ông vua, ông tướng, như vua Trần Nhân Tông, tướng Lý Thường Kiệt.

Hòa thượng Trí Tịnh nói rằng các Thầy chứng trai có bao giờ nghĩ các vị quỳ ở dưới là Bồ tát hay không. Vì Pháp sự làm được phải có người có tấm lòng mộ đạo và hằng tâm hằng sản.

Khi tâm thanh tịnh, thấy Bồ tát ở siêu hình và nhìn cuộc đời này, ta cũng thấy họ, mới kính lễ họ. Hòa thượng Trí Thủ học với bác Lê Đình Thám, nhưng vẫn coi ông này là Bồ tát.

Nhìn theo kinh Pháp Hoa, từ thế giới thực đi vào thế giới tâm linh và từ tâm linh nhìn lại cuộc đời, coi ai ban vui cứu khổ thì ta coi là Bồ tát và họ làm được việc khó như Đức vua Trần Nhân Tông, hay Trần Hưng Đạo, ta kính trọng, coi họ là Phật, là Thánh. Vào Vô lượng nghĩa xứ định để thâm nhập được thế giới Bồ tát và trở lại cuộc đời, ta làm bạn, hay cầu học với các Ngài.

Ở giai đoạn các thập niên trước, đạo tràng chúng ta chưa có kinh Bổn môn Pháp Hoa. Chúng ta tụng kinh Pháp Hoa 28 phẩm là tu Tích môn, nhưng nương vào 28 phẩm này để tìm cốt lõi bên trong của kinh. Và đến thập niên 90, quý Thầy thuộc Nhật Liên tông của Phật giáo Nhật có dịp trao đổi với Thầy về Bổn môn. Qua pháp đàm như vậy, Thầy nhận ra được ý nghĩa Bổn môn, thì trong một thời gian rất ngắn, chỉ một tuần lễ Thầy đã biên soạn được 7 phẩm Bổn môn Pháp Hoa, mỗi đêm Thầy biên soạn được một phẩm do cảm được ý nghĩa sâu xa bên trong của 28 phẩm Pháp Hoa.

Từ việc tụng kinh Pháp Hoa 28 phẩm kết tinh lại thành 7 phẩm Bổn môn Pháp Hoa kinh, đó là tâm đắc của Thầy gặt hái được trên bước đường thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh. 7 phẩm Bổn môn Pháp Hoa mang ý nghĩa rất quan trọng.

 

A. CỐT LÕI CỦA PHẨM TỰA THỨ NHẤT

Phẩm Tựa thứ nhất chủ yếu nói đến vô lượng nghĩa, tức tóm lược tất cả các kinh của Phật đều nằm trong phẩm Tựa. Như chúng ta đã biết kinh của Phật nói là phương tiện, nhưng đưa chúng ta đến chỗ an lạc. Thật vậy, kinh Phật nhằm làm cho tâm chúng ta thanh tịnh và được an lạc là chính yếu. Dù ở hoàn cảnh nào cũng được an lạc, đặc biệt là tu Pháp Hoa, phải được an lạc trong khổ lụy trần gian, còn ở chỗ an mà được an là bình thường. Ở chỗ không an lạc, nhưng ta vẫn tìm được an lạc là sen trong bùn. Và khi tâm chúng ta an lạc và thanh tịnh được thì sẽ xuyên suốt 2500 năm để chúng ta tham dự được hội Pháp Hoa và xuyên vào tâm Phật để chúng ta nhận được Bổn Phật. Ý này tiêu biểu bằng hoa Mạn đà la và hoa Mạn thù sa.

Có hai loại hoa này, chúng ta thấy thông suốt được 18.000 thế giới, mới gặp được Bồ tát Văn Thù Sư Lợi và Bồ tát Di Lặc. Hai vị Bồ tát này là cốt lõi của đạo Phật. Bồ tát Văn Thù tiêu biểu cho trí tuệ lý giải được tất cả mọi việc và Bồ tát Di Lặc tiêu biểu cho phước đức. Hai Bồ tát này kết hợp lại mới có Pháp Hoa.

Bồ tát Di Lặc nhiều đời chuyên làm phước đức, nên Ngài trở thành người tiêu biểu cho phước đức và lúc nào Ngài cũng cười thể hiện tâm vui và thanh thản. Bồ tát Di Lặc là người làm duyên khởi cho Phật nói kinh Pháp Hoa và được Phật thọ ký thành Phật trong tương lai.

Tìm tương lai thấy Di Lặc ra đời và tìm quá khứ thấy có Văn Thù là kết hợp quá khứ và vị lai trong một niệm tâm tu của chúng ta. Khi tâm chúng ta thanh tịnh rồi, thì thu nhiếp được cả ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Ba đời chư Phật thuyết pháp sai biệt đều từ tâm thanh tịnh như hoa sen và từ trí sáng suốt. Nói cách khác, bước theo dấu chân Phật, chúng ta cần kết hợp tất cả giáo lý của Phật để phát huy trí tuệ của ta, mới thấy đúng và làm đúng, phước đức mới sanh ra. Nếu ta thấy việc cần làm mà không làm thì không có phước đức, còn làm sai thì bị đọa.

Từ phẩm Tựa thứ nhất là hạt Bồ đề thứ nhất tiêu biểu trên pháp y và đi đến phẩm Pháp Sư thứ 10, không có 8 phẩm ở khoảng giữa, vì chúng ta lướt qua các phẩm này để kết tinh thành phẩm Pháp Sư thứ 10 là hạt Bồ đề thứ hai trên pháp y.

 

B. CỐT LÕI CỦA PHẨM PHÁP SƯ THỨ 10

Cốt lõi của phẩm thứ 10 nằm ở ba việc chính cần nhớ để chúng ta tu. Việc thứ nhất là Phật gợi cho chúng ta ý thức rằng Bồ tát thành xong Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi sanh lại nhân gian là hành giả Pháp Hoa. Chúng ta chưa thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà tự xưng là hành giả Pháp Hoa là đại vọng ngữ.

Chỉ có Phật Thích Ca là Bồ tát thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thương nhân gian sanh lại cuộc đời này để mở màn bí mật cho chúng ta hiểu là trong con người Ngài có ông Phật, nên thôi thúc tác động từ Phật bên trong đó, Ngài mới vượt thành đi tu thành Phật. Nếu không có sự thôi thúc này thì làm sao từ bỏ được quyền lợi thế gian, từ bỏ ngai vàng dễ dàng như thế.

Ông Phật bên trong thôi thúc thái tử Sĩ Đạt Ta bên ngoài rất quan trọng, khiến Ngài nghe được chư Thiên từ trong hư không nhắc nhở rằng:

Ngày nay tuổi đã lớn rồi

Sao không nhớ lại những lời nguyện xưa

Xin tu chứng đạo chơn thừa

Trần gian cảnh tục say sưa làm gì

Ngày còn lần lựa thế thì …

Chúng sanh ngu dại ai vì bảo ban

Mau mau mở lối Niết bàn

Khêu đèn trí tuệ vén màn vô minh.

Nhờ có căn lành bên trong mới nghe được chư Thiên nói. Còn nghe ma quỷ nói thì dễ hơn nghe Phật, vì ma quỷ gần ta. Ta chết thành ma, ma sanh làm người.

Chúng ta nay mới phát tâm Bồ đề nghe được kinh Phật, điều này được Ngài Nhật Liên dạy rằng chúng ta giống như con chim trong lồng nghe con chim bên ngoài hót mà muốn sổ lòng thoát ly ra khỏi sanh tử, tức con đường chúng ta đã chọn. Thấy Phật thành Phật và Ngài thương nhân gian sanh lại, nên chúng ta quyết chí tu theo Phật. Và có căn lành nhận ra điều này, mới rơi nước mắt nói rằng chúng ta ví như con rùa mù gặp bộng cây nổi ở giữa đại dương mà bám vào được để lên bờ giải thoát.

Như vậy ý thứ nhất của phẩm Pháp Sư thứ 10 là Phật đã thành Phật và Ngài sanh lại nhân gian này. Chúng ta may mắn gặp Phật và nương được pháp phần nào thì được an lạc và giải thoát phần đó. Nghĩa là chúng ta tu hành có thăng tiến trên đường đạo và giáo lý Phật có công năng làm cho chúng ta sanh ra công đức lành và tiêu trừ phiền não. Đó là ý thứ nhất chúng ta bám vào.

Ý thứ hai trong phẩm Pháp Sư thứ 10 là ở trên cao nguyên đào giếng. Chúng ta thấy rõ tất cả mọi người tu không giống nhau, vì vị trí phát xuất khác nhau. Có người ở trên cao nguyên đào giếng, có người ở bình nguyên đào giếng. Người sống gần sông thì lấy nước rất dễ dàng, tiêu biểu cho Bồ tát sống gần Phật, nên đạt được quả vị tu chứng một cách nhẹ nhàng. Hàng Thanh văn sống ở bình nguyên phát tâm tu là thấy Phật, như Ngài Thiên Thai, hay Nhật Liên Thánh nhân tuy sống cách Phật xa, nhưng phát tâm tu, 10 năm hạ thủ công phu là Ngài Nhật Liên đắc đạo.

Chúng ta tu lâu mà kết quả rất chậm là vì ở trên cao nguyên đào giếng. Chúng ta đến được đất ướt là mừng lắm rồi, vì đã có tiến bộ, không phải chết khát trong sa mạc. Thật vậy, nương vào kinh điển tu hành, ít nhất cũng có được công đức và tâm chúng ta cũng được an lạc trong mọi tình huống, dù giàu nghèo khổ vui. Như vậy là đã tới đất ướt, nên cảm thấy mát lòng một chút. Hoàn cảnh nào chúng ta cũng chịu đựng được. Vì vậy, đến đây chúng ta mới thực hành được hạnh nhẫn nhục, ai nói gì cũng được, chúng ta cũng an là tới đất ướt. Còn lúc trước, chúng ta không chịu thua ai, không nhịn ai đâu, họ nói một, mình nói lại ba, đánh mình một, mình đánh lại ba. Sang Nhật học, Thầy cũng không chịu thua ai, nên học võ; nhưng học rồi thì không muốn đánh ai nữa, nghĩa là tâm đã chịu đựng được, đã tới đất ướt, đất bùn thì cái gì khổ nhục trần gian đổ lên, tâm mình cũng an lạc. Nhờ vậy, Phật lực mới gia bị, che chở, mới làm được việc bất tư nghì. Điều này khiến ta nhớ đến thí dụ ông trưởng giả và cùng tử. Sự thật mình không có khả năng, nhưng được Phật trao cho gia tài thì làm gì cũng được. Và nếu thật sự là cùng tử thì không dám tiêu xài phung phí, vì không phải của mình mà của Phật cho, mình chỉ làm tôi cho Phật. Nhưng được Phật giao cho làm là sung sướng rồi, Phật bổ xứ để chúng ta làm thì sẽ làm được những việc mà không bao giờ ngờ tới.

Khi chúng ta đến đất ướt, đất bùn là sắp đến nước, nên tinh tấn làm không thôi. Thầy đã 74 tuổi, vẫn cố gắng làm thêm để mót công đức để kiếp sau có điều kiện tu và làm được Phật sự. Bây giờ có điều kiện làm mà không làm, mai mốt muốn làm cũng không được. Nhẫn nhục tu hành và siêng năng làm việc được kinh diễn tả là ra công đào giếng không ngừng nghỉ, nhất định sẽ tới nước.

Ý thứ ba của phẩm Pháp Sư thứ 10 dạy rằng muốn tu Pháp Hoa phải vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai và ngồi tòa Như Lai.

Tòa Như Lai là tâm thanh thản, không còn phiền não bao vây, dù gặp việc khó hay dễ, chúng ta vẫn thanh thản, không biện minh. Thanh thản tu, thanh thản làm việc Phật không biết mệt mỏi. Khi nào lòng thanh thản thì được coi là hành giả Pháp Hoa.

Ngoài ra, khi tiếp xúc với người, hay đến đâu cũng vì lòng từ bi, không phải vì quyền lợi. Cái gì thôi thúc chúng ta đi? Nếu quyền lợi thôi thúc để chúng ta thọ nạn thì nhất định không đi; nhưng vì lòng từ bi dấn thân, chúng ta sẵn lòng. Nếu được như vậy, Phật sẽ lấy y trùm cho mình. Thầy cảm nhận điều này rõ ràng, vào nhà Như Lai là có tâm từ thương xót chúng sinh mà làm, nên có lúc nguy hiểm Thầy vẫn làm, nhưng nhờ Phật trùm y nên vẫn được an lành và được người thương quý. Chỗ có quyền lợi mà vào thì mọi người đều không chấp nhận, nên chắc chắn có đấu tranh xảy ra.

Vì lòng từ bi, vì chúng sinh, sống chết cũng được, vì sau lưng ta đã có Phật. Nhưng nên nhớ rằng khi làm đạo, ta luôn đụng chạm với ác ma, tức đụng đến quyền lợi của người xấu; vì người xấu thì làm vì quyền lợi, cho nên chúng ta làm tốt là cắt mất quyền lợi của họ, tất nhiên họ phải thù oán ta. Như vậy, chúng ta luôn có hàng oán tặc bao vây, Ngài Nhật Liên gọi là có ba hạng người ác là tiếm Thánh tăng thượng mạn, đạo môn tăng thượng mạn và tục chúng tăng thượng mạn. Vì vậy, nếu không có Phật lấy y trùm để cứu, chúng ta không thể đương đầu nổi với ác ma. Ngài Nhật Liên đã từng trải qua kinh nghiệm này, Ngài tuyên dương chánh pháp đương nhiên đụng chạm đến tà pháp luôn nói sai. Đức Phật cũng vậy, trên bước đường truyền bá chánh pháp, Ngài cũng bị ngoại đạo thuê người vu họa và sát hại; nhưng hại không được, vì đã có chư Phật mười phương che chở Ngài và kẻ ác tự chuốc họa vào thân. Biết như vậy, chúng ta không cần quan tâm đến việc vu oan giá họa. Việc của chúng ta đúng mà đụng chạm đến quyền lợi người khác, chúng ta phải chấp nhận quả báo và phải mặc áo giáp nhu hòa nhẫn nhục. Gặp việc đáng giận, đáng buồn, nhưng ta không giận, không buồn, đó là cốt lõi của phẩm Pháp Sư thứ 10, cũng là cốt lõi của việc tu hành trong thời mạt pháp.

Chúng ta đến đâu cũng vì lòng từ bi, tới để giúp chứ không nhờ vả. Và có quyết tâm như vậy, họ xử sự thế nào, chúng ta cũng nhắm mục tiêu đó mà làm. Ngoài ra, tâm chúng ta luôn thanh thản; đối với tất cả mọi việc tốt xấu của trần gian, chúng ta bỏ ngoài tâm.

Có ba điều : nhà Như Lai, áo Như Lai và tòa Như Lai, Phật lực gia bị cho chúng ta được, thì dù ở chỗ vắng vẻ, Phật cũng khiến chư Thiên đến cúng dường, không cảm thấy cô đơn. Thực tế cho thấy người ẩn tu trên núi gần được chư Thiên, vì tâm thanh tịnh, chư Thiên mới đến cúng dường. Khi Phật tại thế, Ngài thuyết pháp có chư Thiên đến nghe, trong rừng đêm vắng, A Nan thấy những tia sáng trong rừng bay lên. Phật nói rằng vì tâm A Nan không thanh tịnh, nên chư Thiên sợ, bay về thế giới của họ.

Chúng ta tụng kinh Pháp Hoa, tâm lắng yên, chư Thiên, chư Thần tới; nếu có người ác đến hại thì chư Thiên sẽ giữ gìn chúng ta. Riêng Thầy cảm nhận được có Hộ pháp bảo vệ mình, nên không sợ và không chết. Hộ pháp long Thiên tuy vô hình, nhưng lại có kết quả thực tế. Thật vậy, khi người ác định giết mình, nhưng tự nhiên họ trở thành hiền, vì chư Thiên tác động tâm họ thay đổi.

Nếu tâm chúng ta không an ổn, Hộ pháp không giữ được, chúng ta sẽ thọ nạn. Giờ trước gặp nguy hiểm, nhưng không chết; giờ sau gặp nạn nhỏ lại không thoát được. Ý này người thế gian nói rằng đi sông đi biển không chết, nhưng chết lỗ chân trâu là gặp hoàn cảnh không đáng chết, nhưng chết, vì ta mất chánh niệm, không còn thanh tịnh, nên thọ nạn ở trường hợp không đáng bị nạn. Biết như vậy, khi ở trong hoàn cảnh không yên ổn, chúng ta cố gắng giữ chánh niệm; nhưng được yên ổn rồi, cần phải nỗ lực tu nhiều hơn, bấy giờ Phật huệ mới gia bị cho chúng ta, nên huệ sanh. Kinh nghiệm của Thầy lúc ở tù năm 1963, trước cái chết, Thầy nhiếp tâm niệm Phật, trì kinh, được thoát nạn và ra tù, được tự do tu, Thầy phải gấp rút tụng kinh để thuộc lòng, tức phải tu nhiều hơn. Cố đem kinh của Phật để vô lòng, nhờ vậy, tâm sáng lần, tăng trưởng Phật huệ, thấy Phật, thì ai gần người như vậy, tâm được an và thấy hằng sa Phật.

Đi tìm đạo gặp Thầy hay chùa mà chúng ta cảm thấy an, thì nên theo. Nếu gặp bất an, nên bỏ đi. Phải tìm chỗ tâm chúng ta được an, tìm bạn mà tâm chúng ta được an để nương tựa. Còn người bất an tìm người bất an để tâm sự, cải vã, là biến chùa thành chợ, thì tu cái gì.

 

C. CỐT LÕI CỦA PHẨM TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT THỨ 15

Từ chỗ tâm chúng ta an, tâm chúng ta trụ định là bước qua thế giới của tâm, thế giới vô hình. Thế giới tâm mở ra, ta thấy không giống người thường thấy. Người đời thấy bằng mắt, khác với thấy bằng tâm. Thấy bằng mắt thì thấy thế giới của người tu không đẹp và khổ, nhưng thấy bằng tâm, hoàn toàn thấy vui và đẹp.

Bây giờ, bắt đầu đi vào thế giới tâm linh sẽ thấy khác. Kinh Nguyên thủy thấy Phật đến thôn Ưu Lầu Tần Loa, gặp Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp, rồi vào ở trong miếu thờ rắn và đến sáng có 500 đệ tử xin quy y với Phật. Nhưng thấy theo Tùng địa dũng xuất thì 500 người này là do Phật hành Bồ tát đạo, giáo hóa họ từ nhiều kiếp trước, không phải mới có. Cũng trên tinh thần này, hôm nay chúng ta gặp khó khăn, chống đối là vì nhân quá khứ chúng ta đã tạo.

Trụ chánh định, sanh trí tuệ, nên ta nhìn đời khác, thấy chỗ nên tới, người nên gặp. Chỗ không nên tới mà tới là thọ nạn, không nên gặp mà gặp là bị nguy hiểm, không nên nói mà nói thì chết chóc, tù đày khó tránh.

Đức Phật độ năm anh em Kiều Trần Như và 55 thanh niên Da Xá, độ ba anh em Ca Diếp, vì những người này đã thọ ơn của Phật từ quá khứ. Năm anh em Kiều Trần Như tuy bề ngoài không ưa Phật, nhưng bên trong kính trọng Phật. Phật nói năm ông này trong kiếp trước làm người đánh cá đã giết Phật, nên họ hối hận, đi tu, đời nào cũng theo Phật. Ba anh em Ca Diếp cũng vậy, không phải tự nhiên họ bỏ ngoại đạo, điều đó không dễ chút nào, vì họ đang làm quốc sư mà bỏ theo Phật, không tiền, không danh lợi, không nhà cửa. Vua Tần Bà Sa La dâng thượng uyển cúng dường Phật cũng không dễ, toàn là những việc bất tư nghì.

Đại thừa nhìn thấy được sự thật là quá khứ những người này đã thọ ơn Phật, nên hiện đời thấy Phật là sanh tâm kính trọng. Vì vậy, nghĩa này là nghĩa Tùng địa dũng xuất, một đêm mà Phật giáo hóa được 1000 người. Những người này ở đâu ra? Thiết nghĩ độ được một người đã khó, huống chi 1000 người ngoại đạo chuyên chống đối Phật, nhưng lại phát tâm làm đệ tử trung thành của Phật.

Nhìn bề ngoài thì Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp nghĩ Phật đến để tranh giành quyền lợi, nên muốn sát hại Ngài. Tuy nhiên, mới gặp Phật, ngoài mặt ông đã thấy hình như quen, nhưng vẫn còn nghi ngờ. "Cái hình như” là cái quá khứ đã lưu trong ký ức của ông, nhưng tâm thanh tịnh của Phật đã tác động Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp làm cho ý xấu ác của ông rơi rụng. Ông mới khởi ý niệm Phật là Thánh, ông không phải là Thánh. Tâm của Phật đi thẳng vào tâm Bồ đề của ông khiến cho Phật tánh của ông bộc phát, nên nhận ra được Phật là Thầy của ông, ông có được hiểu biết và uy đức như vầy là nhờ Phật dạy từ kiếp quá khứ, khiến ông sụp xuống lạy Phật. Việc này cũng không dễ và thể hiện sự giáo hóa theo Bồ tát Tùng địa dũng xuất. Trong kinh Pháp Hoa, phẩm thứ 15, Phật nói rằng những Bồ tát này do Ngài giáo hóa là giáo hóa từ kiếp trước, không phải mới giáo hóa mà được dễ dàng như thế. Thực tế chúng ta thấy những đứa con do cha mẹ sanh ra mà cha mẹ còn không dạy được và việc dạy học trò cũng khó. Vậy mà chúng ta thấy Đức Phật giáo hóa thật đơn giản vì Ngài giáo hóa họ từ nhiều đời đã thuần thục, nên nay gặp lại Phật, họ sanh tâm quý trọng liền. Điều này gợi nhắc chúng ta tìm được Thầy hiền bạn tốt là ta kính trọng ngay. Từ quá khứ tốt mới dẫn đến hiện tại tốt, còn kết duyên với việc xấu sẽ dẫn đến quả báo xấu. Cho nên chúng ta phải cố tránh, vì con đường đến quả vị Phật còn xa, việc phải làm còn nhiều, không nên hơn thua với họ mà làm mất cơ hội, trễ chuyến đò. Người thế gian cũng thường nói rằng tránh voi chẳng xấu mặt nào. Gặp voi say rượu mà đụng vô, làm sao sống nổi. Những người hung dữ là ác ma, chúng ta phải tránh. Tìm người đồng hạnh đồng nguyện để làm bạn cùng tu.

Phật nói trong kiếp quá khứ tu hành, Ngài có bốn việc đặc biệt và người nào làm bốn việc đó là bạn của Ngài. Ngài và họ gặp nhau ở bốn việc như sau. Một là ưa làm việc khó làm, người khác không dám làm, nhưng ta dấn thân. Ta luôn chuẩn bị tư thế làm việc khó, vì như vậy dễ sanh được công đức và được người quý trọng. Bồ tát có hạnh này gọi là Thượng Hạnh Bồ tát. Hai là gặp việc lớn hay nhỏ đều làm, việc gì cũng làm là Bồ tát Vô Biên Hạnh. Điển hình như Đức Phật trên đường du hóa độ sanh, Ngài đã xỏ kim cho bà già bên vệ đường, lúc đó không làm việc này mà đòi hỏi việc khác sao có được. Chuẩn bị tư thế ở đâu mình cũng làm được. Ba là tâm luôn thanh tịnh, đừng để ý xấu nổi dậy, là tinh thần của Bồ tát Tịnh Hạnh. Và bốn là hoàn cảnh nào cũng chấp nhận là Bồ tát An Lập Hạnh. Cần làm Phật, Bồ tát làm Phật, cần Thanh văn, làm Thanh văn, cần đóng vai người gánh phân, làm thuê cũng làm; nghĩa là Bồ tát không lệ thuộc việc nào, vì Bồ tát hiện hữu trên cuộc đời để cứu giúp chúng sinh, tạo công đức. Phật khuyên chúng ta nên gần gũi bốn hạng người này.

Bồ tát Tùng địa dũng xuất là Bồ tát từ tâm hiện ra, tức tâm chúng ta có bốn đức tánh này thì sẽ gặp những người tương ưng như vậy. Hạt Bồ đề thứ ba là chúng ta có bốn Bồ tát đồng hạnh nguyện trợ lực tu hành, nhờ đó chúng ta mới thấy được Như Lai thọ lượng.

D. CỐT LÕI CỦA PHẨM NHƯ LAI THỌ LƯỢNG THỨ 16

Yếu chỉ của phẩm 16 là Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời và nhập diệt là Phật Thích Ca, tức ứng hóa thân của Phật. Từ đâu Phật xuất hiện? Phật cũng là người, nhưng cốt lõi tâm linh bên trong chắc chắn khác mọi người. Chúng ta thường tụng là thiên bá ức hóa thân Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca là năng nhơn, tức con người vạn năng làm gì cũng được. Mâu Ni là tịch mặc, tức tâm lắng yên. Hiểu yếu nghĩa này, chúng ta tìm Phật trong nhân gian là tìm người có tâm lắng yên, tức họ trụ định, gặp việc đáng giận đáng buồn, họ không giận không buồn, gặp việc đáng ham muốn, họ không ham muốn.

Tìm Phật vô hình không được, nhưng tìm ngay trong nhân gian, tìm được người nào có tư chất như vậy thì đó là hóa Phật. Thích Ca nghĩa là năng nhơn, tức người làm được tất cả mọi việc, chúng ta theo họ, sẽ không bị rơi vô không tưởng. Và những người làm được việc khó, nhưng tâm thanh thản, thì họ là ứng hóa thân của Phật. Người Tây Tạng coi Lạt Ma là Phật sống, vì tâm họ lắng yên và không từ chối bất cứ việc gì lợi ích cho chúng sinh.

Đức Phật Thích Ca hiện hữu trên cuộc đời này là ứng thân Phật. Còn hóa thân Phật thì không lâu dài; vì khi tâm lắng yên, chúng ta làm như Phật, nhưng tâm vọng động nổi lên, Phật biến mất. Thực tế có người rất minh triết, nhưng đến lúc khác, họ không còn được như vậy là Phật nhập diệt. Tâm ta lắng yên, Phật hiện vào; nhưng tâm vọng động, ta trở về trạng thái phàm phu, hay lúc đó ta khởi tâm quỷ thần thì ta là quỷ thần.

Ngài Nhật Liên dạy rằng Phật Thích Ca là một ứng thân của Phật trên nhân gian, ta nhìn hay nghe Phật Thích Ca mà thấy được tâm của Ngài là đã gặp được Bổn Phật nằm bên trong Phật Thích Ca. Còn ta chỉ theo thân tứ đại của Phật Thích Ca thì Phật đó đã nhập diệt rồi.

Có thể hiểu rằng Phật ở lâu trên cuộc đời này là Ngài hiện hữu trong một đời. Phật xuất hiện trong thời gian ngắn nhất là một niệm tâm. Vì vậy, người tu tìm bạn tri thức thấy họ xấu, nhưng họ có một niệm tâm tốt thì chúng ta phải nuôi dưỡng niệm tốt này cho tốt thêm. Còn những niệm xấu của họ, chúng ta loại ra khỏi tâm mình.

Nhận chân được yếu nghĩa của hóa Phật như vậy, chúng ta coi tất cả người tu theo Phật đều là hóa Phật, nhưng chỉ là Phật trong một niệm tâm mà thôi. Ví dụ giờ trước khởi tâm thích cúng dường, nhưng giờ sau không cúng nữa là Phật đã nhập diệt. Vì vậy, Phật hiện hữu hay nhập diệt là tùy ở tâm của hành giả.

Chúng ta tu Pháp Hoa, cần quan hệ với Như Lai thọ lượng là Phật bất sanh bất diệt, nhưng phải căn cứ trên Phật hiện tượng để truy nguyên về Phật gốc này. Tuy nhiên, cũng phải có bản tâm thanh tịnh mới gặp được Phật gốc. Tâm chưa thanh tịnh thì thấy Phật sanh diệt, nhưng tâm thanh tịnh là tâm trí lắng yên, vào Thiền định, chúng ta tiếp cận được Phật Di Đà có thọ mạng dài lâu đến mười kiếp.

Từ Phật Thích Ca xuất hiện 80 năm trên cuộc đời này rồi Ngài nhập diệt và nương vào giáo pháp của Ngài, chúng ta đi xa hơn, tiếp cận được chư Phật mười phương là bước thứ hai. Chư Phật mười phương do Phật Thích Ca nói trong kinh và do Phật chỉ cách chúng ta tiếp cận. Tiếp cận bằng cách nào?

Trong phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 có thí dụ lương y và cùng tử. Chúng ta là cuồng tử, Phật Thích Ca là lương y. Ngài tìm thuốc chữa bệnh cuồng của chúng ta là phiền não, nghiệp chướng và trần lao. Tâm chúng ta không lắng yên được, vì phiền não. Người phiền não là người bực tức, tham lam thì nên dùng thuốc diệt tham lam, bực tức. Không có thì giờ đi chùa tu học là trần lao, vì sanh trong gia đình nghèo, phải làm việc cực khổ hoài, không có thì giờ tu. Người như thế sanh ra là để trả nợ thì tu cách nào. Phật dạy Tứ Thánh đế để phá bỏ lòng tham. Lòng tham chúng ta quá nhiều, chứ không phải nhu cầu vật chất cần nhiều như chúng ta tưởng. Người ở nhân gian chỉ nghĩ đến cơm áo gạo tiền, nên không bao giờ rảnh rỗi, thì có thuốc trị là xuất gia, ôm bình đi khất thực. Phật thể hiện hạnh khất thực, Ngài vẫn sống ung dung tự tại. Trong khi chúng ta còn tiền để sống, nhưng lo xa, nên nghĩ rằng không có thì giờ để tụng kinh, lạy Phật, đó là trần lao. Người giàu có thường làm nô lệ cho vật chất và chết thành quỷ giữ của. Thuốc Tứ Thánh đế phá bỏ được trần lao. Trừ nghiệp chướng là chúng ta dứt trừ được ba nghiệp của thân khẩu ý, nên tâm lắng yên. Tâm không lắng yên thì không thấy chư Phật mười phương, làm sao thấy được Bổn Phật. Ngài Nhật Liên từng thể nghiệm pháp này. Ngài nhập định 100 ngày thì thấy mười phương Phật và thấy Bổn tôn, Bổn Phật là Đức Tỳ Lô Giá Na. Và từ Tỳ Lô Giá Na xuất hiện thành Phật mười phương giáo hóa chúng sinh, mới có ứng thân Phật.

Tăng Ni và Phật tử nào có niệm tâm thanh tịnh hướng về Phật, được coi là hóa Phật. Từ đó chúng ta tu hành miên mật, hướng về chư Phật mười phương và tìm được Bổn Phật. Bổn Phật không nhập diệt và bất sanh bất diệt; cho nên ta tới được với Đức Phật đó, ta cũng trở thành bất sanh bất diệt, thì lúc đó, ta không sợ sống hay chết của cuộc đời. Vì ta đã là hóa Phật, thay Phật làm lợi ích chúng sinh; cho nên sống làm đạo, chết về Phật. Đó là ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 thể hiện thành hạt Bồ đề thứ tư trên pháp y của đạo tràng chúng ta.

E. CỐT LÕI CỦA PHẨM PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC THỨ 17 tiêu biểu bằng hạt Bồ đề thứ 5.

Phẩm 17 ghi rằng khi Phật nói thọ mạng dài lâu của Ngài thì có vô số Bồ tát chứng được vô sanh pháp nhẫn, hoặc văn trì đà la ni, nhạo thuyết biện tài, chuyển được pháp luân bất thối và phát đại tâm cầu Vô thượng đạo.

Nghĩa là Phật nói Phật thọ mạng dài lâu mà ai nghe và chấp nhận, tin hiểu được, sẽ đạt được điều đơn giản nhất là văn trì đà la ni, tức nghe, nhớ và hiểu rõ, không quên. Hơn thế nữa, được nhạo thuyết biện tài thì giảng nói một chữ cả đời không hết, người nói không mệt, người nghe không chán. Bồ tát tu Pháp Hoa đúng pháp chắc chắn có được những điều mà người bình thường không có.

Và sau đó, trời mưa hoa, thiên y, bảo cái cúng dường Phật. Thật vậy, chúng ta tu hành không có gì, nhưng thành tựu pháp thì không thiếu bất cứ thứ gì. Vì vậy, đến được sở đắc của phân biệt công đức, sẽ tạo được tất cả những gì ở cuộc đời này, nhằm chỉ cho những gì quý báu Phật đều có đầy đủ.

Riêng chúng ta không đạt được như Phật, mà chỉ được một điều nhỏ là chúng ta sanh được một niệm tín giải đã được nhiều công đức, đó là ý chính thứ nhất của phẩm 17.

Một niệm tín giải là khi đọc tụng kinh Pháp Hoa, chúng ta tin kinh và tin lời Phật dạy là chúng ta đã có căn lành, vì đây là việc khó tin, khó hiểu. Và từ niềm tin dẫn chúng ta đi xa hơn để hiểu được nghĩa lý sâu xa hơn, là tín giải. Tin nhưng không giải được, dễ bị mê tín. Giải mà không tin là theo thế tục. Vì vậy, người học giỏi, giảng hay, nhưng họ không phải là người tu, không được giải thoát.

Hiểu và giải được những điều mình tin tưởng, sẽ được công đức vô lượng vô biên nhiều hơn công đức của người bố thí, trì giới, nhẫn nhục trong 80 muôn na do tha kiếp. Như vậy, có được một niệm tín giải, chúng ta được công đức bất khả tư nghì.

Nếu hiểu ý nghĩa thọ lượng của Như Lai là hiểu từ một Phật trong một niệm tâm cho đến chư Phật mười phương và sâu xa hơn cả là nhận chân được Phật bất sanh bất diệt, chúng ta mới có thể sanh Phật huệ Nhứt thiết chủng trí, lại có thể thấy Thích Ca Như Lai ở Kỳ Xà Quật thuyết pháp giáo hóa chúng đại Bồ tát và thấy thế giới Thật báo của Lô Xá Na. Nghĩa là từ một niệm tâm thanh tịnh dẫn chúng ta đến hội Pháp Hoa, thấy Phật Lô Xá Na là Phật Báo thân. Nếu thấy như thế thì không cần xây chùa tháp cúng dường.

Ý này nhằm chỉ rằng người thấy Thật báo Lô Xá Na chính là Thích Ca Như Lai. Còn chúng ta mới phát tâm tu hành, cần phải xây tháp, cúng dường, lễ bái, v.v…, cho nên nghĩ chúng ta là Phật là tăng thượng mạn, sẽ bị đọa sâu. Ở đời sau, thấy Thích Ca Như Lai ở Kỳ Xà Quật thì chỉ có Ngài Trí Giả thấy, chúng ta chưa tới chỗ này

Chúng ta tu phát xuất từ niềm tin chân chánh và giải theo niềm tin là một niệm tâm này dẫn chúng ta vào đạo. Và được như vậy, chúng ta tiến xa hơn một bước nữa, đi vào được thế giới Phật, mới thấy Đức Phật Thích Ca đang thuyết pháp giáo hóa chúng đại Bồ tát ở Kỳ Xà Quật; đó là ý thứ hai quan trọng trong phẩm 17.

Thấy Phật Thích Ca là thấy ý nghĩa năng nhơn, tức Ngài làm được việc mà người khác không làm được. Cho nên người ta gọi Phật là đấng toàn năng, làm được việc khó làm nhất, đó là phá vở truyền thống phân chia giai cấp có từ bao đời ở Ấn Độ. Phật đã khiến vua chúa phải đảnh lễ người thuộc giai cấp nô lệ là việc cực kỳ khó làm thời bấy giờ mà Phật đã làm được. Phật bảo vua Ba Tư Nặc phải đảnh lễ người hốt phân Sunita. Như vậy, chúng ta thấy Thích Ca Như Lai là thấy được lực vạn năng của Phật. Cho nên, khi chúng ta tìm Thích Ca Như Lai trên cuộc đời này mà chưa thấy, chúng ta tìm người có năng lực gần như Thích Ca.

Thích Ca Như Lai là người giáo hóa được đại Bồ tát, không phải người thường. Đại Bồ tát chỉ cho Bồ tát Tùng địa dũng xuất. Chúng ta tìm Thích Ca Như Lai và tìm đại Bồ tát là quyến thuộc của Ngài để coi Thích Ca Như Lai giáo hóa đại Bồ tát như thế nào, ta theo. Giáo hóa đại Bồ tát Tùng địa dũng xuất là giáo hóa những hàng Bồ tát có năng lực phi thường là Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh và An Lập Hạnh. Nghĩa là Phật có khả năng làm cho mọi người thanh tịnh, làm cho người thích làm việc khó, trái với người đời chỉ thích hưởng thụ. Theo Đức Thích Ca thì ở hoàn cảnh nào cũng được, việc nào cũng làm và tâm luôn thanh tịnh. Vì vậy, Đức Phật tạo thành thế giới Thật Báo Lô Xá Na kết tinh bằng phước đức và trí tuệ và Bồ tát được giáo hóa cũng là người có phước đức và trí tuệ, không phải là phàm phu. Từ thế giới phàm phu, chúng ta đi lần vào thế giới của đại Bồ tát, mới thấy được thế giới Thật Báo của Lô Xá Na.

Phật có ba thế giới. Một là Ngài xuất hiện ở Ta bà đầy khổ lụy, vì thương nhân gian mà Ngài sanh lại thế giới này để giáo hóa người hữu duyên là Phật Thích Ca. Và từ Phật sanh diệt này, chúng ta nương theo để bước vào thế giới Thật Báo, còn Ta bà là thế giới phương tiện, không phải thế giới thật, chỉ là quán trọ của chúng ta trong đêm dài sanh tử mà thôi. Vào nhà ngũ uẩn có thân phải có khổ, nên thân mạng chấm dứt thì khổ cũng chấm dứt. Phật có khổ thân, nhưng không có khổ tâm. Còn người phàm phu, thân chưa khổ, nhưng tâm đã thọ khổ, gọi là ngồi trên đống vàng mà như ngồi trên đống lửa. Thân chưa khổ, nhưng tâm khổ là tâm đã vào địa ngục, thì chết là vào đó liền. Còn Phật Thích Ca và Bồ tát thân khổ, nhưng tâm không khổ, nên các Ngài bỏ thân là vào Niết bàn. Ví dụ Bồ tát Quan Âm bị hất hủi, thân khổ, nhưng tâm là Bồ tát làm việc khó làm là không cần nói ra điều oan ức. Các Bồ tát lớn làm việc khó, nên có việc khó, các Ngài xuất hiện và hết việc khó, các Ngài ra đi, không kẹt phú quý lợi danh. Hiểu yếu lý này, chúng ta tìmngười như vậy để theo học. Trong hoàn cảnh khó, chúng ta mới thấy có người tài đức xuất hiện.

Thế giới Thật Báo Lô Xá Na có Phật và các Bồ tát lớn theo trợ hóa Ngài. Nếu không như vậy, làm sao Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp bái được Sa môn Cồ Đàm không có tài sản gì cả.

Thấy được thế giới Thật Báo thì không cần xây chùa tháp cúng dường, vì xây chùa tháp chỉ là mới phát tâm tu phước. Đến thế giới Thật Báo, thấy rõ tâm chúng ta thế nào thì thế giới đó hiện ra như vậy. Cho nên Phật và Bồ tát chỉ lo xây dựng phước đức và trí tuệ. Các Ngài làm bằng phước đức như Phật Di Đà xây dựng thế giới Cực Lạc bằng phước đức vô lượng. Có phước đức thì phước đức tự tạo cảnh giới mà Phật dạy rằng chánh báo đến đâu, y báo đến đó. Nếu mạng là ăn mày thì không có tiền, nhưng có tiền phải bị cướp mất, không giữ được. Tài sản hợp pháp được luật pháp bảo vệ, còn không có phước, hay luật pháp không công nhận, không bảo vệ mà muốn giữ sẽ mất mạng như không. Người có trí biết giữ không được phải buông, thì còn sống được.

Bồ tát xuất hiện hay biến mất trên cuộc đời này đều có ý nghĩa. Điển hình như Bồ tát Quảng Đức chọn cách ra đi rất đẹp đến độ người ta phải ca ngợi rằng chỗ Ngài ngồi là một thiên thu tuyệt tác. Ngày nay, chúng ta thấy chỗ đó là công viên đẹp. Ngài chọn cái chết rất ý nghĩa, nên Ngài sống mãi trong lòng Tăng Ni và Phật tử.

Thấy được thế giới Thật Báo và tu trong thế giới này, nên không xây dựng chùa, nhưng xây dựng công đức và phước báo thì tất cả vật chất tự tạo thành. Thật vậy, Thầy vừa dự lễ khánh thành chùa Thanh Lương ở miền Bắc. Vì chiến tranh, chùa đó chỉ còn cái nền, nhưng con cháu nhờ hưởng phước của tổ tiên ông bà, nên có một người cháu đời thứ 13 của họ Phạm ra nước ngoài sinh sống, giàu có. Anh này trở về làng xây dựng trường dạy nghề để tạo công ăn việc làm cho dân địa phương và anh cũng phục hồi ngôi chùa của Tổ, đã chi ra số tiền từ 100 đến 200 tỷ. Người có phước báo làm chùa lớn lao như vậy một cách dễ dàng. Người không phước xây một cái am cũng khó, không phước nữa thì mua miếng đất nhỏ cũng bị quy hoạch. Người có phước báo xây chùa bằng phước báo, nên không mệt mỏi. Không phước báo, dùng thủ đoạn cũng không được gì.

Hành giả tu Bổn môn Pháp Hoa cố gắng vào thế giới Thật Báo để biết được nên làm gì, không nên làm gì. Không biết thì dễ chuốc họa vào thân. Biết thì tìm đường giải thoát.

 

G. CỐT LÕI CỦA PHẨM PHỔ MÔN THỨ 25.

Tụng phẩm Phổ Môn khác với tu phẩm Phổ Môn. Vô Tận Ý Bồ tát hỏi Phật tại sao gọi Bồ tát là Quan Âm. Phật nói rằng Bồ tát này thường quan tâm tới người xung quanh, lo cho mọi người. Tu hạnh Quan Âm, chúng ta phải lo cho người trước, lo cho mình sau. Lo cho thiên hạ nhiều, thì thành tựu công lớn. Đức Thánh Trần viết Binh thư yếu lược, Thầy thấy trong đó thể hiện hạnh Quan Âm. Ông ra lệnh quân sĩ chưa ăn xong,tướng phủ không được nổi lửa. Ông lo cho quân sĩ ăn no, họ mới thương tướng lãnh và hết lòng với ông. Hành quân băng qua sông, tướng phải lội sông đi trước, như vậy để thấy sự mệt nhọc của quân, mới thương quân và quân mới thương tướng. Tướng Trần Hưng Đạo thành công vì biết lo cho người dưới trướng.

Bạn tốt với ta hôm nay là bạn tốt từ kiếp quá khứ, nên hiện đời gặp lại quý mến ta. Bạn tốt hôm nay, phải trân trọng, đừng vì quyền lợi mà biến họ thành bạn xấu. Thầy thấy nhiều người phạm sai lầm này, không biết trân trọng, bảo vệ cái tốt của bạn là tự phá hủy mối quan hệ tốt đẹp không phải dễ có. Trân trọng bạn tốt đời này để đời sau còn làm được việc lớn. Hoặc người không tốt không xấu với ta, nghĩa là mối quan hệ giữa ta và họ ở quá khứ chưa có. Như vậy ta phải làm sao gieo vào lòng họ một ý niệm tốt bằng việc làm nào đó. Ngoài ra, đối với những người thù nghịch, chúng ta phải chuyển đổi thành người hợp tác, thể hiện tinh thần cao thượng. Điển hình như vua Trần Nhân Tông đã làm hạnh này. Đối với những người phản bội vua, đầu hàng giặc, khi vua thắng giặc xong, ông không truy cứu họ, mà đốt bỏ tờ biểu đầu hàng giặc của họ.

Việt Nam ta có được một vị vua trở thành Thầy tu đắc đạo là Đức vua Trần Nhân Tông mà muôn đời nhân dân ghi nhớ. Và cũng có một Thầy tu trở thành vị vua có công lớn với đất nước là Lý Công Uẩn, tức vua Lý Thái Tổ. Hai vị này là biểu tượng đẹp của Phật giáo Việt Nam. Thầy tu muốn làm vua phải làm như Lý Công Uẩn và vua muốn đi tu phải như vua Trần Nhân Tông.

Học phẩm Phổ Môn, Phật dạy chúng ta tu Pháp Hoa xuất hiện trên cuộc đời, phải hành Bồ tát đạo theo Quan Âm, nghĩa là đi vào đời, sen nở khắp muôn nơi. Noi theo gương Quan Âm, sống trong hoàn cảnh nào cũng được, làm gì cũng được, miễn có lợi ích cho nhiều người và lợi ích lâu dài. Còn lợi hiện tại mà khổ lâu dài thì phải tránh xa. Đến đây, chúng ta có hạt Bồ đề thứ 6 trên pháp y.

 

H. CỐT LÕI CỦA PHẨM PHỔ HIỀN BỒ TÁT KHUYẾN PHÁT THỨ 28

Đến đây là hạt Bồ đề thứ 7 trên pháp y mở ra hai hướng. Một là từ quả hướng nhân là Phật đã thành Phật vì thương nhân gian sanh lại thế gian này để cứu khổ độ sanh. Và hai là Bồ tát từ nhân hướng quả.

Chúng ta thường nương vào sự gia bị của Bồ tát lớn để có thể hành đạo trên nhân gian này. Riêng Thầy làm được việc gì cũng nghĩ là nhờ lực Phổ Hiền gia bị, vì khả năng của mình không bao giờ làm nổi. Ví dụ như việc dời tượng Quan Âm của chùa Huê Nghiêm 2 đến vị trí mới, mà tượng thì quá nặng và lại đặt ở chỗ cao, không biết làm sao dời đi được. Trong lúc khó như vậy, Thầy gặp một anh cho mượn xe cẩu 120 tấn để dời tượng. Thầy tin là Bồ tát Phổ Hiền khiến cho người đến làm. Anh này không phải thợ, nhưng làm được cái cửa và nay anh có một chiếc xe cẩu 120 tấn đang làm ở chỗ khác, nhưng họ cho anh đem xe về để bảo dưỡng. Tượng Quan Âm nặng 30 tấn, mà sức cẩu đến 120 tấn thì Thầy an tâm. Việc tự nhiên xảy ra như vậy. Thầy nghĩ tạc tòa sen mới cho cân xứng với pho tượng Quan Âm, thì tìm được hòn đá chở về đến chùa Huê Nghiêm đã khó rồi, mà hòn đá nặng đến 70 tấn. Thầy gọi thợ trước kia đã làm tòa sen, anh ta nói chi phí 170 triệu. Thầy chưa làm thì lại gặp một người thợ khác, tay nghề khéo hơn mà chỉ tốn 50 triệu, làm tòa sen đẹp hơn tòa sen cũ nhiều. Đây là lực gia bị của Phổ Hiền. Gặp việc khó không giải quyết được, ta cầu nguyện Phổ Hiền gia bị là Ngài khiến người có khả năng tới. Thầy nguyện ai có nhân duyên, Phật khiến họ hợp tác, ai phá hại, Hộ pháp long thiên đưa đi, Thầy không đuổi.

Ta luôn an lạc, vì có Phổ Hiền gia bị thì lo gì. Việc khó có Bồ tát lớn lo. Ta lo không được thì đừng lo, để tâm chúng ta lắng yên để thấy đúng và theo cái thấy đúng đó mà làm, việc sẽ tự thành tựu dễ dàng.

Pháp y hiện nay của đạo tràng Pháp Hoa có dấu hiệu là 7 hạt Bồ đề, còn 8 cánh sen cũ, chúng ta cho rụng. Pháp y chia làm 3 loại. Loại pháp y thứ nhất là Cứu mạng y. Có pháp y, chúng ta hoàn toàn tin tưởng Phật che chở, hộ niệm chúng ta và cũng có Hộ pháp long Thiên giữ gìn chúng ta. Nhiếp tâm trong giáo pháp Phật, việc hành trì chủ yếu của chúng ta là tu 7 phẩm Bổn môn Pháp Hoa, thuộc lòng 7 phẩm này và gặp từng việc, chúng ta hành động tương ưng theo lời dạy trong kinh, thì sẽ vượt được tất cả các chướng duyên.

Tuy nhiên, nếu có quá trình tu thật trong khoảng một thời gian sẽ nhận được kết quả tốt đẹp; trong khi người tu giả đến 10 năm cũng không đạt được tiến bộ tâm linh, đạo đức cũng không có và cũng không có sức cảm hóa người.

Nếu tu thật, họ có được sự phát triển đời sống tâm linh, nên đạo đức trong sáng, khiến người thấy muốn gần gũi để cùng tu hành. Vì vậy, ta sẽ có nhiều người bạn tốt; vì ta tốt, không có ý định lợi dụng ai, nên người dễ gần gũi, dễ làm bạn với ta. Còn người chấp từng lời nói, từng hành động, họ rất phiền phức, nên không ai muốn gần gũi họ.

Người tu Bổn môn Pháp Hoa đeo pháp y đai vàng, nghĩa là sống trong cốt lõi của kinh, người thích gần gũi, lần hiện tướng giải thoát, nên xin đổi y thứ hai là Giải thoát y phía dưới có đai màu trắng. Mang y này, chúng ta đã giải thoát, thanh thản, bạn thích gần gũi, vì cảm thấy an vui. Ta có lỡ lời, người cũng không chấp; đó là tiêu biểu của người có pháp y đai trắng dành cho người có tâm hồn trong trắng, giải thoát. Vì vậy, nếu người nào đeo y này mà còn rắc rối, không giải thoát, không trong trắng, thì phải tự xấu hổ, phải nỗ lực tu nhiều hơn để được giải thoát.

Và được giải thoát rồi, tiếp tục tu hành, người muốn gần gũi ta, tới với ta, ta phải lo cho họ, dìu dắt họ trên bước đường tu. Đó là sang giai đoạn ba có Phước điền y, tức làmphước, lo cho người, chỉ nghĩ tới người, không nghĩ tới mình, thì người được lo sẽ chết sống với mình.

Tu đến giai đoạn ba thể hiện tinh thần vô ngã vị tha, lo cho người và lo cho đạo pháp, quên mình, là đỉnh cao của Bổn môn Pháp Hoa. Vì vậy, những người thọ y nâu mà chưa làm phước cho ai, chưa cứu giúp ai, phải xấu hổ, phải cố gắng, không cứu được người cũng cứu được con vật nào đó.

Có lần Thầy vào nhà vệ sinh thấy con gián rớt xuống hầm cầu, thầy cứu nó, vớt nó lên. Việc lớn không làm được cũng nên làm việc nhỏ, hay thấy miếng ván có đinh để giữa dường đi, ta dẹp bỏ để người khác không bị đạp trúng. Những việc chúng ta làm đều phát xuất từ lòng đại bi, luôn làm lợi ích cho cuộc đời, từ việc nhỏ, không cứ nhất thiết làm việc lớn. Cứu giúp được con vật nhỏ, kiếp sau gặp lại, chắc chắn nó thương ta, vì ta làm từ tấm lòng của mình đi thẳng vào lòng nó. Súc vật không nghe được tiếng người, nhưng nó tiếp nhận được tiếng lòng phát xuất từ tâm đại bi của ta.

Hành giả tu Bổn môn Pháp Hoa phát tâm Bồ đề hành Bồ tát đạo, từ việc nhỏ đến việc lớn, đều siêng năng làm lợi cho số đông, làm từ một ngày cho đến làm trong nhiều kiếp, tích lũy thành phước đức để đạt được quả vị Phật.

 

3. TUẦN THỨ BA CỦA MÙA TU GIA HẠNH PHỔ HIỀN: TỤNG CÁC BÀI KỆ TỔ VÀ KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC.

 

Đạo tràng Pháp Hoa tụng các bài kệ tán thán hạnh đức của chư vị Bồ tát và chư vị Thánh La hán mà các chúng trong đạo tràng đã tôn thờ các Ngài là vị Tổ của mình. Các bài kệ này do Thầy cảm tác. Sau đó, tụng kinh Bát Đại Nhân giác nói về 8 điều giác ngộ của Đức Phật để nhắc nhở các Phật tử ghi nhớ và thực hành 8 điều mà Đức Phật Thích Ca đã thành tựu trên lộ trình tiến đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.