cool hit counter

Sách


Lời giới thiệu Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp
Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa Thiền định phóng quang và đàm kinh nhập diệu
Nguyện hương Đoạn phiền não – tâm bình an
Đảnh lễ Phật Giàu đạo đức, giàu tuệ giác
Lễ Phật quá khứ Giới đức pháp thân
Đảnh lễ Phật hiện tại An trụ tịch diệt tướng
Lễ Phật vị lai Ý nghĩa Phật Đản theo kinh Pháp Hoa
Đảnh lễ Bồ tát Phật giáo và dân tộc Việt Nam
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh hoằng thông liệt vị Tổ sư Hoằng pháp ở thế kỷ XXI
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh thủ hộ thiện thần Dòng chảy miên viễn của Thiền
Sám hối Đức Phật sống mãi với chúng ta
Phát nguyện Đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật
Ý nghĩa thọ trì 7 phẩm Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Chùa mục đồng ở Nam bộ
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ nhất Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định của mọi thành công
Ý nghĩa phẩm Pháp sư Phật giáo, con đường dẫn đến sự sống hòa bình, phát triển, an lạc, hạnh phúc cho nhân loại.
Ý nghĩa phẩm Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15 Sức sống Thiền của Trần Thái Tông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 Sống trong tỉnh giác
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17 Quan niệm về kinh tế trong Phật giáo
Ý nghĩa phẩm Phổ Môn thứ 25 Những nét đẹp của Phật giáo Lý Trần
Ý nghĩa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28 Nghệ thuật trong Phật giáo
Hồi hướng Ý nghĩa nhà lửa tam giới trong kinh pháp hoa
Ý nghĩa tụng thủ hộ thần chú Ý nghĩa lễ tắm Phật
Ý Nghĩa Quy Y Tam Bảo Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm
Năm Giới Của Người Phật Tử Tại Gia Ý nghĩa Vu Lan  
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Pháp Hoa Và Tụng Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Sám Hối Nhứt Phật thừa
Ý Nghĩa Tụng Kinh Dược Sư Và Niệm Phật Dược Sư Quán tứ niệm xứ
Ý Nghĩa Niệm Phật Di Đà Tứ chánh cần
Lời nói đầu Tứ như ý túc
I. Lý do chọn 21 ngày tu gia hạnh Phổ Hiền
Ngũ căn ngũ lực
II. Ý nghĩa của sự khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày thành đạo của Phật Di Đà là ngày 17 tháng 11 và kết thúc vào ngày thành đạo của Phật Thích Ca là ngày mùng 8 tháng 12 Thất Bồ đề phần
III. Kết luận Thúc liễm thân tâm
Lời tựa Tùy duyên  
Tổng luận Thanh tịnh hóa thân tâm
Pháp hội 1 : Tam Tụ Luật Nghi Nhứt thiết Chúng sanh Hỷ kiến Bồ Tát
Pháp hội 2: Vô Biên Trang Nghiêm Đà la ni Chánh kiến
Pháp hội 3 : Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Tam quy và pháp niệm Phật
Pháp hội 5: Vô Lượng Thọ Như Lai Hài hòa để cùng tồn tại và phát triển
Pháp hội 6: Bất Động Như Lai Hạnh khiêm cung và bát kỉnh pháp
Pháp hội 7: Mặc Giáp Trang Nghiêm An lạc hạnh  
Pháp hội 8: Pháp Giới Thể Tánh Vô Sai Biệt Những kinh nghiệm giảng dạy
Pháp hội 9 : Đại Thừa Thập Pháp Kinh nghiệm giảng dạy Kinh Hoa Nghiêm
Pháp hội 10: Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn Một số đề tài gợi ý cho những bài thuyết giảng của Tăng Ni sinh Khóa Giảng sư
Pháp hội 11: Xuất Hiện Quang Minh & Pháp hội 12 : Bồ Tát Tạng Nổ lực tự học để kế thừa và phát huy được tinh ba của Thầy, Tổ.
Pháp hội 14: Phật Thuyết Nhập Thai Tạng Một số phương hướng cho ngành Hoằng pháp
Pháp hội 15: Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký Vài suy nghĩ về Hoằng pháp trong thời hiện đại
Pháp hội 16: Bồ Tát Kiến Thiệt Hoằng pháp trong thế kỷ 21
Pháp hội 17: Phú Lâu Na Nhà Hoằng pháp và giáo dục tiêu biểu trong thế kỷ XX
Pháp hội 18: Hộ Quốc Bồ Tát Hoằng pháp ở thế kỷ 21(thuyết giảng ngày 20 – 24 tháng 6 năm 2007)
Pháp hội 19: Úc Già Trưởng Giả Điểm chung nhứt của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền
Pháp hội 20: Vô Tận Phục Tạng Mô hình Hoằng pháp tại nước nhà trong thời đại ngày nay
Pháp hội 21: Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La Tư cách của vị trụ trì
Pháp hội 23: Ma Ha Ca Diếp Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại
Pháp hội 24: Ưu Ba Ly Ý nghĩa trụ trì
Pháp hội 25: Phát Thắng Chí Nguyện Trụ trì, người giữ chùa
Pháp hội 26: Thiện Tý Bồ Tát Kinh nghiệm làm trụ trì
Pháp hội 27 : Thiện Thuận Bồ Tát Tam pháp ấn
Pháp hội 28: Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả Nét đẹp của Phật giáo Nam Tông Khơ Me
Pháp hội 29: Ưu Đà Diên Vương Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện đại
Pháp hội 30: Diệu Huệ Đồng Nữ Điều thiết yếu của người tu : Sức khỏe tốt, trí sáng suốt và trái tim nhân ái
Pháp hội 31: Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di An trụ pháp tịch diệt
Pháp hội 32: Vô Úy Đức Bồ Tát Hoằng pháp và trụ trì
1. Lời tựa Đạo đức hành chánh
2. Khái niệm về kinh Duy Ma Ba điểm quan trọng đối với tân Tỳ kheo
3. Quán chúng sanh theo kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (Thuyết giảng tại chùa Phổ Quang)
4. Bất Nhị pháp môn trong kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (thuyết giảng tại chùa An Phước)
5. Ý nghĩa phẩm Phật Hương Tích trong kinh Duy Ma Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ : Học, tu và làm việc
6. Quan niệm về đức Phật trong kinh Hoa Nghiêm Truyền trao giới pháp và lãnh thọ giới pháp đúng như pháp.
7. Ý nghĩa lễ Phật theo kinh Hoa Nghiêm Giới tánh Tỳ kheo
8. Ý nghĩa phương tiện theo kinh Pháp Hoa Lời tựa       
9. Ý nghĩa thí dụ ba xe và nhà lửa trong kinh Pháp Hoa Tiểu sử
10. Ý nghĩa hóa thành dụ trong kinh Pháp Hoa Giới tánh tỳ kheo  
11. Pháp sư của kinh Pháp Hoa Hoằng pháp và trụ trì  
12. Ý nghĩa Long Nữ dâng châu trong kinh Pháp Hoa An lành và tĩnh giác
13. An Lạc Hạnh theo kinh Pháp Hoa Nghĩ về sự thành đạo của Đức Phật
14. Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất Mùa Xuân đọc kinh Hoa Nghiêm
15. Cảm niệm về Bồ Tát Phổ Hiền Sự lớn mạnh của Phật giáo song hành với thành phố phát triển 300 năm
Lời tựa Khai Thị 2009 Những quan niệm về Đức Phật
Xuân trong Phật đạo Thế giới tâm thức và thế giới hiện thực
Phước Lộc Thọ Pháp phương tiện
Hạnh xuất gia Tụng kinh, lạy Phật, sám hối và thiền quán
Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo Đức hạnh của vị Tỳ kheo
Hạnh nguyện Quan Âm Hành trình tâm linh : nẻo về vĩnh hằng của người tu
Tàm Quý Ý nghĩa Phật Đản PL. 2542 - 1998
Họa phước vô môn Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật
An cư kiết hạ Nương nhờ đức từ của Tam bảo
Phật giáo và vấn đề tác hại của thuốc lá Ý nghĩa Kim Cang thừa trong Phật giáo
Phật giáo và bảo vệ môi trường Cảm nghĩ về Đức Phật A Di Đà
Phật giáo và thiếu nhi Ý nghĩa Vu Lan 1998
Nói không với ma túy Bồ Tát Đạo
Đạo đức ở tại gia Mùa An cư : sáu thời tịnh niệm
Mỉm cười trong đau khổ Tinh thần Phật giáo Đại thừa
Phật giáo và dân số Phật giáo hướng về tương lai
Kính lão đắc thọ Ý nghĩa lễ Vu Lan PL 2542 - 1998 (thuyết giảng tại trường hạ chùa Hội Khánh)
Hành trì giới luật Chơn thân – huyễn thân
Ý nghĩa Vu lan Tư cách của vị trụ trì  
Hạnh nguyện Địa Tạng Bồ tát Tâm từ bi của Đức Phật
Nối vòng tay lớn 9 tuần tu học đồng đăng Cửu Phẩm Liên Hoa
Niềm vui của tuổi già Những việc cần làm trong 3 tháng An Cư
Kiến thức và trí tuệ Những việc cần làm trong 3 tháng an cư Suy nghĩ về linh hồn trong Phật giáo
Tình người Hoằng pháp   
Hạnh nguyện Bồ tát hay Bồ tát đạo Tìm hiểu ngôn ngữ của Đức Phật
Tha lực và tự lực Mùa Xuân trên đất Bắc
Hạnh nguyện Dược Sư Lời tựa        
Ơn Thầy Ý nghĩa cầu an
Vượt qua mặc cảm Hạnh nguyện Phổ Hiền
Lời tựa Lược giải Kinh Hoa Nghiêm Bản chất Niết bàn
Nghề nghiệp chân chánh Niềm tin chân chánh
CHƯƠNG I – LỊCH SỬ KINH HOA NGHIÊM
        I - Khái niệm về lịch sử kinh Hoa Nghiêm
Hóa giải hận thù
    II - Lịch sử truyền thừa và phát triển kinh Hoa Nghiêm Phật giáo và hòa bình thế giới
  III - Nội dung kinh Hoa Nghiêm Quốc thái dân an
CHƯƠNG II - Ý NGHĨA ĐỀ KINH HOA NGHIÊM Giải tỏa oan ức
CHƯƠNG III – QUAN NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT THEO KINH HOA NGHIÊM
       I - Quan niệm về Đức Phật trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
Vững trước khen chê
   II - Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Ý nghĩa sức mạnh hòa hợp
  III - Quan niệm về Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm Âm siêu dương thạnh
CHƯƠNG IV – BỒ TÁT ĐẠO
      I - Bồ tát Thập Tín
Thực tập nhẫn nhục
  II - Bồ tát Thập Trụ Thành công và thất bại
 III - Bồ tát Thập Hạnh Chiến thắng chính mình
IV - Bồ tát Thập Hồi hướng Thân cận người trí
 V - Bồ tát Thập Địa hay Thập Thánh Sống hạnh viễn ly
VI - Bồ tát Thập Định Ý nghĩa bờ bên kia
VII - Bồ tát Thập Thông Hương thơm đức hạnh
VIII - Bồ tát Thập Nhẫn Tòa án lương tâm
CHƯƠNG V – PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI Củng cố niềm tin
   1- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Đức Vân Tỳ kheo Giá trị cuộc sống
   2- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Vân Tỳ kheo Giáo dục con cái
   3- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Trụ Tỳ kheo Vượt qua tật bệnh
   4- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Di Già Đền ơn đáp nghĩa
   5- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Giải Thoát Thân phận con người
   6- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Tràng Tỳ kheo Sức mạnh của ý chí
   7- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hưu Xã Ưu bà di Quan niệm về Tịnh Độ
   8- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa Cư trần lạc đạo
   9- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thắng Nhiệt Bà la môn Làm mới cuộc sống
   10- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Từ Hạnh đồng nữ Lời tựa        
   11- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Kiến Tỳ kheo Ăn chay lợi cho sức khỏe và tâm linh
   12- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tự Tại Chủ đồng tử Chuyển hóa sanh thân thành pháp thân
   13- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Cụ Túc Ưu bà di Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam
   14- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Minh Trí Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị Tổ sư người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam
   15- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Pháp Bửu Kế Mật tông tại Việt Nam
   16- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Phổ Nhãn Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng
   17- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Vô Yểm Túc Phật giáo đi vào cuộc sống
   18- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Đại Quang Sự hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ
   19- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bất Động Ưu bà di Sức mạnh hòa hợp
   20- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Biến Hành ngoại đạo Tác động hỗ tương giữa thân và tâm
   21- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Ưu Bát La Hoa Tận dụng phương tiện hiện đại trong việc hoằng pháp
   22- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thuyền trưởng Bà Thi La Tứ chánh cần  
23.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Vô Thượng Thắng hay Di Lặc Bồ Tát Tu thiền tại Việt Nam
24- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân Vai trò của ni giới Việt Nam trong xã hội hiện đại
25- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với bà Tu Mật Đa nữ Ý nghĩa hóa thân Phật thuyết pháp
26- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Tỳ Sắc Chi La Ý nghĩa kệ dâng y
28.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Chánh Thu Ý nghĩa tập trung phân thân
27.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Quán Tự Tại Ý nghĩa tịnh độ
29- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thần Đại Thiên Cầu nguyện mùa vu lan
30- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Địa thần An Trụ Cư sĩ Phật giáo
31- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với chủ Dạ thần Bà San Bà Diễn Để Đạo đức Phật giáo trong tương lai
32- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Dạ thần Khai Phu Nhứt Thiết Thọ Hoa và Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Nhứt Thiết Chúng Sanh Điểm chung nhứt của Phật giáo nam truyền và bắc truyền  
33- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thọ thần Diệu Đức Viên Mãn Giới luật của người Phật tử tại gia
34- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ tát Di Lặc Bồ đề quyến thuộc
35- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Mối tương quan với thế giới siêu hình
36- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Phổ Hiền Bồ tát Chân tinh thần Phật giáo Bắc tông
CHƯƠNG VI – PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI – PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN Trồng căn lành và sám hối
16. Niết bàn theo kinh Pháp Hoa Lợi ích của an cư kiết hạ
17. Giáo dục của Phật Giáo Đại Thừa Tứ niệm xứ, tứ chánh cần
18. Những điều kiện tu Bồ Tát đạo Mùa xuân vĩnh hằng
19. Ngôi chùa tâm linh Kiến trúc Phật giáo
20. Hành trình về chân linh Kiến trúc Phật giáo  
21. Tu tâm Niềm tin của người phật tử Việt Nam
22. Canh tâm điền Sự an lạc trong gia đình
23. Đường về Yên Tử Báo đáp ơn nghĩa sinh thành
24. Nếp sống của một vị danh tăng Quan niệm về tịnh độ của kinh Di Đà
25. Ý nghĩa Phật Đản Pl.2538 (Tứ Nhiếp Pháp) Tam pháp ấn  
26. Ý nghĩa lễ đức Phật thành đạo Tinh thần từ bi hỷ xả, con đường tốt nhất đi đến hòa bình, phát triển và an lạc cho nhân loại
27. Phật giáo Việt Nam đang hướng về phía trước trên tinh thần vô ngã vị tha Từ bi và hòa bình trong Phật ngọc
28. Xuân hoan hỷ Tình yêu và giới tính theo tinh thần Pháp Hoa
29. Xuân trong cửa thiền Xây chùa, tô tượng, đúc chuông
30. Xuân của hành giả Pháp Hoa Xuân trong cửa đạo
Lời tựa lược giải kinh Pháp Hoa Bồ Tát Thích Quảng Đức, một bậc danh tăng siêu việt của thế kỷ 20
Lịch sử kinh Pháp Hoa Cái chết đối với người phật tử
Kinh đại thừa vô lượng nghĩa Giáo dục ở tự viện
Phẩm 1: Tựa Giới định tuệ
Phẩm 2: Phương tiện Khắc phục nghiệp, giữ chánh niệm, trụ chánh định
Phẩm 3: Thí dụ Khởi nghiệp mưu sinh theo Phật giáo
Phẩm 4: Tín giải Lễ Phật theo bổn môn Pháp Hoa
Phẩm 5: Dược thảo dụ Ngôi chùa tâm linh
Phẩm 6: Thọ ký Nhập không môn, vào vô lượng nghĩa định
Phẩm 7: Hóa thành dụ Nữ giới Phật giáo và sự kết nối toàn cầu
Phẩm 8,9: Ngũ bá đệ tử thọ ký, thọ học vô học nhơn ký Pháp phục của tăng ni Việt Nam
Phẩm 10: Pháp sư Phật giáo và môi trường sinh thái  
Phẩm 11: Hiện bảo tháp Phật giáo và phù đổng Thiên Vương
Phẩm 12: Đề Bà Đạt Đa Thâm nhập không môn
Phẩm 13: Trì Trụ định, hành trang tối thiểu của người tu
Phẩm 14: An lạc hạnh Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng
Phẩm 15: Tùng Địa Dũng Xuất Tu vô lượng nghĩa kinh, sống trong vô lượng nghĩa định, thâm nhập hội Pháp Hoa.
Phẩm 16: Như Lai thọ lượng Vô lượng nghĩa kinh và vô lượng nghĩa xứ tam muội
Phẩm 17: Phân biệt công đức Xây dựng đạo đức của người tu
Phẩm 18: Tùy hỷ công đức Yếu nghĩa của phẩm pháp sư, kinh Pháp Hoa
Phẩm 19: Pháp sư công đức Hướng đi của Phật giáo Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
Phẩm 20: Thường bất khinh Bồ Tát Những điều tâm đắc về hoằng pháp ( thuyết giảng tại Bình Định)
Phẩm 21: Như Lai thần lực Ý nghĩa Phật đản PL. 2550-2006
Phẩm 22: Đà La Ni Mỹ thuật Phật giáo
Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát bổn sự Vai trò của người phụ nữa trong kinh Hoa Nghiêm
Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát Những tư tưởng hòa bình, hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam
Phẩm 25: Phổ môn Đức Phật hằng hữu trong mỗi chúng ta
Phẩm 26: Diệu Trang nghiêm vương bổn sự Vai trò của Tăng già trong thời hiện đại
Phẩm 27: Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát Phật giáo trong nền toàn cầu hóa
Phẩm 28: Chúc lụy Giáo dục Phật giáo
Preface Một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa
Lời tựa lược giải kinh Duy Ma Ý nghĩa cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa
Tổng luận lược giải kinh Duy Ma Tịnh độ
Phẩm 1: Phật quốc Hóa thành dụ
Phẩm 2: Phương tiện   Phật giáo Nam tông vá Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Phẩm 3: Thanh văn Phật giáo trong lòng nhân dân miền Nam
Phẩm 4: Bồ Tát Vị trí của Pháp sư Huyền Trang trong Phật giáo
Phẩm 5: Văn Thù Sư Lợi thăm bệnh Xuân về trên cõi Tịnh
Phẩm 6: Bất tư nghì Vãng sanh cực lạc
Phẩm 7: Quán chúng sanh Cầu siêu bạt độ
Phẩm 8: Phật đạo Công đức của kinh Pháp Hoa
Phẩm 9: Nhập bất nhị pháp môn Nghệ thuật trong Phật giáo  
Phẩm 10: Phật Hương Tích Hoằng pháp ở thế kỷ 21
Phẩm 11: Bồ Tát đạo An cư dưỡng tánh - Thị phi phủi sạch
Phẩm 12: Kiến Phật A Súc Giữ giới và quán chiếu với tứ Thánh đế
Phẩm 13: Pháp cúng dường Gắn tâm với Đức Phật, với giáo pháp và Hiền thánh tăng
Phẩm 14: Chúc lụy Bốn pháp giải thoát
Lời tựa           Gạn sạch phiền não, nghiệp chướng, trần lao
Lịch sử Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Sám hối nghiệp chướng
Ý nghĩa Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Pháp Hoa chân kinh
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ I Ý nghĩa 12 đại nguyện của Đức Phật Dược Sư
Ý nghĩa phương tiện và chân thật Vũ trụ quan theo Phật giáo
Ý nghĩa Thí Dụ Sống an lạc, chết siêu thoát
Ý nghĩa phẩm Pháp Sư thứ 10 Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng
Ý nghĩa phẩm An Lạc Hạnh thứ 14 Quan niệm về đức Phật theo kinh Pháp Hoa  
Ý nghĩa phẩm Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ mười lăm Pháp Phật và an toàn giao thông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ mười sáu Đức Phật của chúng ta
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, phẩm Pháp Sư công đức thứ 19 Đạo đức Phật giáo
Bồ Tát hạnh: Dược Vương Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Diệu Trang Nghiêm Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Bồ tát hạnh theo kinh Pháp Hoa
Lời tựa           Mùa xuân của hành giả phát tâm bồ đề
Pháp Hội 33 : Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện Những điều tâm đắc về kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 34 : Công Đức Bửu Hoa Phu Bồ Tát Ý nghĩa Phật Đản PL 2543 - 1999
Pháp Hội 35 : Thiện Đức Thiên Tử Kinh nghiệm hoằng pháp  
Pháp Hội 36 : Thiện Trụ Ý Thiên Tử Tìm hiểu xã hội học Phật giáo
Pháp Hội 37 : A Xà Thế Vương Tử Theo dấu người xưa
Pháp hội 38: Đại Thừa Phương Tiện Những điều cần làm trong mùa An cư
Pháp Hội 39 : Hiền Hộ Trưởng Giả Bốn bậc trưởng lão được kính trọng
Pháp Hội 40 : Tịnh Tín Đồng Nữ Trở về viên minh tánh
Pháp Hội 41 : Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp Điều kiện để có kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 42 : Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại  
Pháp Hội 43 : Phổ Minh Bồ Tát Ý nghĩa an cư kiết hạ
Pháp Hội 44 : Bửu Lương Tụ Bồ tát quả môn
Pháp Hội 45 : Vô Tận Huệ Bồ Tát Mùa an cư - tiến tu tam vô lậu học
Pháp Hội 46 : Văn Thù Thuyết Bát Nhã Công việc của Tỳ kheo chân chánh
Pháp Hội 47 : Bửu Kế Bồ Tát Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ
Pháp Hội 48 : Thắng Man Phu Nhân Bất biến, tùy duyên
Pháp Hội 49 : Quảng Bác Tiên Nhân Bàn về nghi lễ
Pháp Hội 50 : Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm Tu hành đúng như pháp là tối thượng cúng dường
Pháp Hội 52 : Bửu Nữ Chọn pháp tu an lạc
Pháp Hội 53 : Bất Thuấn Bồ Tát Phát huy chân linh
Pháp Hội 54 : Hải Huệ Bồ Tát Nghĩ về Phật giáo Nhật Bản
Pháp Hội 55 : Hư Không Tạng Bồ Tát Ý nghĩa phẩm Tín giải trong kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 56 : Vô Ngôn Bồ Tát Bồ đề tâm  
Pháp Hội 57 : Bất Khả Thuyết Bồ Tát Đức Phật trong nền văn minh Ấn Độ
Pháp Hội 58 : Bửu Tràng Bồ Tát Một chuyến đi về miền đất Phật
Pháp Hội 59 : Hư Không Mục Giác Ngộ với thiên niên kỷ 3
Pháp Hội 60 : Nhựt Mật Bồ Tát Suy nghĩ về số mệnh trong Phật giáo
Pháp Hội 61 : Vô Tận Ý Bồ Tát Thiền trong đời thường
Lời tựa  Hướng về Thánh tích của Phật giáo
Tiểu sử   Lời tựa           
Thọ giới, tu hành, nỗ lực thâm nhập dòng thác trí tuệ Tam vô lậu học  
Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội Quý nhứt trên đời
Thức ăn tinh thần của người tu Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng  
Thực tu, cảm hóa được chư thiên và quần chúng Sinh hoạt trong mùa An cư  
Trau dồi giới đức, siêng tu tam vô lậu học Suy nghĩ về ý mã tâm viên  
Lời tựa    An lạc hạnh   
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2539 -1995 Tam vô lậu học: Giới, Định, Tuệ  
Tam vô lậu học An cư kiết hạ   
Quý nhất trên đời Cơm Hương Tích  
Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng Bồ tát đạo   
Ý nghĩa Vu lan PL. 2539 - 1995 Mùa An cư sáu thời tịnh niệm  
Nhìn về thế kỷ 21 Tinh thần Phật giáo Đại thừa  
Xuân Pháp Hoa Nhân duyên - căn lành  
Hướng về tương lai Chơn thân - huyễn thân  
Ý nghĩa Niết bàn Chín tuần tu học, đồng đăng cửu phẩm Liên hoa  
Internet, những nỗi lo mới Những việc cần làm trong ba tháng An cư  
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2540 -1996 Hành trang của người xuất gia: căn lành và Phật hộ niệm  
Cảm nghĩ về hoài bão của Đức Phật Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật  
Phật giáo và thực tiễn cuộc sống Trở về viên minh tánh  
Sinh hoạt trong mùa An cư Theo dấu người xưa  
Suy nghĩ về ý mã tâm viên Những điều cần làm trong mùa An cư  
Suy nghĩ về hoằng pháp Tu tâm  
An lạc hạnh Bốn bậc trưởng lão được kính trọng  
Tam vô lậu học : Giới-Định-Tuệ Bồ tát quả môn   
An cư kiết hạ   Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ  
Cơm Hương Tích Mùa An cư - tiến tu Tam vô lậu học  
Ý nghĩa lễ Vu lan Bất biến, tùy duyên  
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2540 - 1996 Công việc của Tỳ kheo chân chánh  
Ơn nghĩa đồng bào Phát huy chân linh  
Hướng về những người con tương lai của đất nước Bàn về nghi lễ  
Hãy đến với Chương trình "Hiểu và Thương" Sáu pháp hòa kỉnh trong mùa An cư  
Lòng từ của Bồ tát Quan Âm Đại thừa Phật giáo  
Bồ đề tâm Tu trên ngũ uẩn thân  
Suy tư của người Phật tử về những vấn đề lớn Trụ pháp và lực gia bị của Phổ Hiền  
Đầu tư - vấn đề nan giải Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ: học, tu và làm việc  
Những điều tâm đắc trên đường về Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Lấy từ bi xóa hận thù Hài hòa, con đường an lành  
Thuận lợi và nguy cơ Nếp sống của người tu  
Lá thư Tổng Biên tập Con đường giải thoát  
Lá thư Xuân (trích Nguyệt san GN số 10) Kinh Đại Bảo Tích pháp hội 59: Hư không mục  
Ý Xuân Ý nghĩa sám Pháp Hoa  
Lá thư Xuân (trích Báo GN số 41) Phật giáo Nam tông  
Những suy nghĩ về Hội nghị kỳ 5 khóa III Trung ương Giáo hội Đạo lực
Năm mới với niềm hy vọng mới Năm đặc điểm của người tu
Trách nhiệm và chức vụ Ý nghĩa Tam vô lậu học
Thành quả của Đại hội Phật giáo TP. HCM kỳ V Pháp tu trong ba tháng An cư
Sự đi lên của Phật giáo miền Trung Hướng đi giải thoát
Hướng phát triển tốt đẹp trong mùa An cư Hạnh an lạc
Hướng về ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7 Tỉnh giác là chơn giác
Lễ Vu lan - ngày đền ơn đáp nghĩa của Đông phương Ý nghĩa xuất gia  
Thương tiếc danh tăng An cư và hạnh đầu đà
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2541 - 1997 Cảm niệm Phật A Di Đà
Mừng 52 năm, một chặng đường phát triển của đạo pháp Cùng giúp nhau hoàn thiện tư cách người xuất gia
Vấn đề trẻ hóa lãnh đạo Hành đạo tùy duyên
Phật giáo Việt Nam, một tương lai tươi sáng Nhu đạo và Tịnh độ
Kết quả Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV Những kinh nghiệm tu hành
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VI (1994) Sự hộ niệm của Phật, Bồ tát, Thiên Long Bát Bộ
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VII (1999) Thể nghiệm pháp Phật
Cảm niệm cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa Tịnh độ   
Cảm niệm ân sư Trụ pháp Vô sanh
Đức Pháp chủ là biểu tượng đoàn kết các hệ phái Phật giáo Tu hành là chuyển hóa hữu lậu ngũ uẩn thành vô lậu ngũ uẩn
Cảm niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ Vai trò của nữ tu Phật giáo trong thời Bắc thuộc
Cảm niệm về Hòa thượng Thích Thiện Hào Y báo và chánh báo
Duyên kỳ ngộ Ý nghĩa Tịnh độ   
Hồi tưởng về đức hạnh của Hòa thượng Thích Tâm Thông Tất cả pháp môn tu đều là Phật pháp
Sáng niềm tin Ngộ tánh khởi tu
Một hình ảnh khó quên trong cuộc đời hoằng pháp của tôi Theo dấu chân Phật   
Cảm niệm ân sư (Kỷ niệm lễ chung thất Hòa thượng Thích Trí Đức) Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức
Những kỷ niệm với Hòa thượng Thích Thiện Châu Những khởi sắc của Phật giáo tỉnh Lâm Đồng
Nghĩ về Hòa thượng Thích Thanh Kiểm Trau dồi giới đức, phát triển tuệ lực
Tưởng niệm Ni trưởng Huê Lâm Tu đúng pháp
Ni sư Huỳnh Liên Tâm đức và tuệ đức
Nghĩ về Ni trưởng Như Hòa nhân ngày Tiểu tường An cư là tịnh hóa thân tâm
Lời nói đầu   An trú bây giờ và ở đây
Hoằng pháp Tăng trưởng đạo lực
Những điều tâm đắc về hoằng pháp Đi theo dấu chân Phật và các bậc tiền nhân
Kinh nghiệm hoằng pháp Tâm là Diệu pháp, thân là Liên hoa
Hoằng pháp theo nhân duyên Tu là chuyển nghiệp
Ý nghĩa thuyết pháp Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học.
Giáo dục và hoằng pháp Nương lực Phổ Hiền Bồ tát để tiến tu
Lời tựa      Sống vô ngã vị tha
Ý nghĩa kinh hành niệm Phật Trí tuệ và đạo đức là sức mạnh của người tu
Ý nghĩa tĩnh tâm Tinh thần tùy duyên và bất biến
Lục hòa Làm cho đất nước cũng là làm cho Phật giáo
Sáu pháp ba la mật Bình thường tâm thị đạo và ngôi chùa tâm linh
Tịnh độ theo kinh Duy Ma Học hiểu giáo lý đúng đắn và ứng dụng có hiệu quả vào cuộc sống tu hành
Tam minh Phát huy đạo đức và trí tuệ làm đẹp cho đạo tốt cho đời
Hồi hướng theo kinh hoa nghiêm Ngủ trong tỉnh thức
Xử thế của đạo Phật Sự gắn bó giữa Tăng Ni và Phật tử là điều cần thiết
Tam bảo Nhận ra con người thực của mình để tiến tu
Nhập thế của đạo Phật Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định mọi thành công
Tứ hoằng thệ nguyện Ý nghĩa hồng danh sám hối
Xuân Di Lặc Đoạn phiền não - tâm bình an  
Báo hiếu theo kinh vu lan Giàu đạo đức, giàu tuệ giác  
Phật giáo và pháp luật Giới đức Pháp thân  
Khái niệm về giới luật của người phật tử tại gia An trụ tịch diệt tướng  
Ý nghĩa xuất gia Lắng tâm, tịnh niệm  
Ngọn đuốc xuân Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh  
Ngũ uẩn Ngũ ấm ma trong chúng ta  
Hòa thượng Thích Quảng Đức, một con người bất tử Phát huy đạo lực  
Mông sơn thí thực Sống trong tỉnh giác  
Tính cách pháp lý của giáo hội Tấm gương sáng của Tổ Huệ Đăng  
Những thành quả của giáo hội Phật giáo Việt Nam Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp  
Ý nghĩa đại trai đàn Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội  
Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa Thức ăn tinh thần của người tu  
Lắng tâm, tịnh niệm Thực tu, cảm hóa được chư Thiên và quần chúng  
Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh. Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm  
Ngũ ấm ma trong chúng ta Trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Phát huy đạo lực Tu bồi cội phúc  
Phước đức và trí tuệ Tùy duyên      
Tấm gương sáng của tổ Huệ Đăng Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa  
Tâm tạo ra tất cả Ý nghĩa Nhà lửa tam giới trong kinh Pháp Hoa  
Tu bồi cội phúc Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa  
Tùy duyên  

 

Một số phương hướng cho ngành Hoằng pháp

(Ý kiến đúc kết chỉ đạo trong lễ bế mạc khóa bồi dưỡng Giảng sư ngày 7-5-2003 tại chùa Ấn Quang )

          Tôi tổng hợp những vấn đề đã được quý giáo sư trình bày và những ý kiến chung do anh em nêu lên trong khóa học này. Về giáo lý, tôi nhận thấy khuynh hướng chung mà các anh em phát biểu đồng nhau ở một điểm là chúng ta nên tránh đụng chạm đến các vị tu hành khác với pháp môn tu của chúng ta.

Đương nhiên mỗi người đều có công trình nghiên cứu và pháp môn tu riêng, hai việc này luôn gắn liền với nhau. Giảng sư không có công trình nghiên cứu chuyên môn và không có pháp môn hành trì thì chắc chắn không thể tiến xa được; vì đó là lẽ sống, là lý tưởng của chúng ta.

Tuy nhiên, ngoài phạm vi chuyên học và chuyên tu, chúng ta phải sống hòa hợp với cộng đồng Tăng lữ của ba hệ phái khác nhau. Trên thế giới chỉ có hai hệ phái, nhưng Việt Nam chúng ta có thêm phái Khất sĩ. Điều quan trọng là các Giảng sư phải lắng nghe tâm tư của các tu sĩ không cùng hệ phái. Theo kinh nghiệm hoằng pháp của riêng tôi, nhờ biết nghe tâm tư, nguyện vọng của những vị khác hệ phái, tôi mới hiểu được họ và tìm cách hài hòa, nên có thêm được bạn đồng hành cùng hỗ trợ cho việchành đạo. Thật vậy, khi nhận trách nhiệm Trưởng ban Hoằng pháp, tôi đã mời Hòa thượng Siêu Việt lãnh đạo hệ phái Nam tông và Thượng tọa Giác Toàn thuộc phái Khất sĩ hợp tác. Hai vị này trao đổi với tôi về sinh hoạt và việc tu hành của hệ phái. Tôi làm được việc nhờ có những bạn thân trong các hệ phái. Thiết nghĩ anh em Giảng sư nên ý thức điều này để đừng rơi vào tình trạng chủ quan, cục bộ.

Ngoài ra, chúng ta cũng cần mở rộng tấm lòng, bao dung những người đồng đạo, kể cả những người khác đạo hay không có đạo. Quý Thầy thuyết giảng tuyệt đối không nên chỉ trích những yếu điểm của tôn giáo khác, làm cho họ đau lòng. Đối với Nhà nước còn chủ trương khép lại quá khứ, mở ra tương lai tốt đẹp. Huống chi chúng ta tu vô ngã mà lại cố chấp thì gây bất lợi lớn cho sinh hoạt xã hội.

Sư Bửu Chánh đã dẫn câu chuyện rất hay, xưa kia có một lần Phật thuyết pháp cho 5 người mà chỉ có một người nghe. Phật cho biết người đó có duyên với Phật thì Ngài chỉ nói với người này thôi. Ngày nay chúng ta thuyết pháp cũng vậy, nếu trong hội chúng có nhiều người khác tôn giáo, tất nhiên đối tượng mà chúng ta nhắm đến chỉ là người theo Phật giáo, nhưng cũng không làm mất lòng những người khác niềm tin với chúng ta. Kinh nghiệm riêng tôi cũng như vậy, đến bất cứ nơi nào giảng pháp, tôi cũng nghĩ nói cho những người muốn nghe vì họ có nhân duyên căn lành với Phật pháp. Ít nhứt cũng có năm, mười người đồng tình, trở thành pháp lữ Đại thừa của chúng ta và hợp tác với chúng ta lâu dài. Cứ mỗi chúng hội, chúng ta nghĩ nói cho một số người thôi và tránh không làm mất lòng người khác. Hoằng pháp theo tinh thần này, quyến thuộc của chúng ta mỗi ngày đông thêm. Ngược lại, làm mất lòng nhiều người, chúng ta sẽ mất dần uy tín, không thể thành công.

Tôi giới thiệu sư Bửu Chánh giảng dạy trường Cao đẳng Phật học Cần Thơ do tôi làm Hiệu trưởng. Tôi e ngại Tăng Ni, Phật tử không nghe được, vì đa số là Bắc tông. Sư nói rằng: "Hòa thượng yên tâm, trong thời gian học Cao cấp Phật học, con đã quen với nếp sống Bắc tông, nên giảng được”. Sau đó, Ban Trị sự tỉnh nhờ tôi cử sư Bửu Chánh xuống Cần Thơ giảng vào lễ Phật đản vì sư giảng hay. Sư đã giảng thành công vì giảng xong mà còn lưu lại trong lòng người thiện cảm, còn để lại một cái gì cho họ suy tư, tu tập.

Một số Giảng sư đã phạm những sai lầm làm mất hướng đi lên của mình, vì không chuẩn bị sẵn sàng, không tu tập và tự ái lớn; cứ tưởng mình là Giảng sư thì ai cũng phải nghe. Người xưa đã nói dịp may chỉ đến với người có chuẩn bị trước. Sư Bửu Chánh đã từng bất ngờ giảng thay cho Hòa thượng Minh Châu, nhưng giảng được vì biết chuẩn bị. Tất cả Giảng sư phải chuẩn bị đầy đủ, thời cơ đến mới thành công, bất chợt được mời mà giảng được thì đó là cơ hội thăng tiến trên con đường hoằng pháp.

Thuở tôi còn là học Tăng Sa di, rất thiếu Giảng sư và giảng ở vùng xa thì càng hiếm có nữa. Hòa thượng Thiện Hoa đã bảo tôi đi giảng ở Bình Long trong vùng hẻo lánh, nguy hiểm, mất an ninh. Tôi giảng thành công ngoài sức tưởng của mọi người, vì tôi đã chuẩn bị kỹ càng, thậm chí đến thuộc lòng bài giảng! Ai cũng phải chuẩn bị, nhiều khi chuẩn bị suốt đời, nhưng chỉ có một lần để thi thố tài năng.

Anh em thất bại hầu hết vì thiếu chuẩn bị, nên gặp cơ hội không làm được việc. Tôi thành công trong việc lãnh đạo sinh viên học sinh năm 1963, nhờ ba năm trước đó, tôi luôn giảng dạy cho Gia đình Phật tử. Tất nhiên lúc đó không ai mời tôi làm Giảng sư, nên tôi chơi với các em oanh vũ, kể những mẫu chuyện đạo và giáo lý đơn sơ cho các em bé; nhờ đó tôi quen biết số lớn huynh trưởng, trong đó có anh Cầm và anh Cường.

Có Thầy học không bao nhiêu, nhưng cứ nghĩ mình trên thiên hạ, chắc chắn thất bại. Ở Đồng Nai một chùa nhờ tôi giới thiệu Giảng sư chuyên Tịnh độ để giảng cho Phật tử, vì họ khao khát tu pháp môn này. Tôi chưa giới thiệu được, vì giới thiệu thì phải có trách nhiệm mà chưa thấy Thầy nào chuyên tu Tịnh độ thành công. Tuy nhiên, có một Thầy xung phong đến giảng. Sau vài thời giảng, một số Phật tử trí thức đến thưa rằng: "Con nghe ông Thầy đó giảng không có gì là đạo”. Nghe vậy, tôi cảm thấy rất đau lòng. Là tu sĩ lại nói điều mà người ta thấy không phải là đạo thì thử nghĩ giảng cái gì vậy?

Việc chuyên tu của chúng ta rất cần. Đó là cái nghiên cứu, sở thích, thực hành của chúng ta thì pháp mới thực sự có trong cuộc sống của chính ta. Những bậc đàn anh của tôi như Hòa thượng Bửu Huệ xuất thân từ Phật học đường Nam Việt. Ngài cho biết rằng sau khi tốt nghiệp, Ngài nhập thất liên tục 10 năm để tìm nghĩa lý sâu xa trong kinh và ứng dụng trong cuộc sống. Vì vậy, giáo lý Phật đã quyện vào cuộc sống của Ngài, nên Hòa thượng Thiện Hoa xuống Tân Hương mời Hòa thượng Bửu Huệ trở về coi sóc Phật học viện Huệ Nghiêm. Ngài tâm sự với tôi rằng sở dĩ làm được Phật sự này nhờ có 10 năm nghiêm mật tu hành. Và sau ngày đất nước giải phóng, Ngài cũng tâm sự với tôi rằng nhờ 10 năm tu mà phục vụ Giáo hội được 10 năm hiện tại và đến đây, nguồn trí tuệ của Ngài đã cạn, là giai đoạn Ngài cần phải nhập thất chuyên tu để về thế giới Phật.

Người thứ hai tôi biết là Hòa thượng Thanh Từ. Tốt nghiệp Phật học đường Nam Việt, lúc đó Ban Hoằng pháp thiếu người, nên Ngài phải đi giảng dạy liền. Ngài thuyết pháp rất hay, nhưng có một Phật tử hỏi rằng Hòa thượng giảng về tứ Thánh quả, vậy thì Hòa thượng chứng được quả nào rồi. Đây là câu hỏi mà chúng ta phải trả lời thực với lòng mình. Lời nói của Hòa thượng Thanh Từ in sâu vào tâm khảm tôi. Chúng ta giảng về Bồ tát đạo, Thanh văn, Thánh đệ tử mà chúng ta chưa hiểu các Ngài thì truyền bá sao đây? Hòa thượng phải trải qua 10 năm chuyên tu ở núi Lớn, Vũng Tàu, thì Tăng Ni Phật tử tìm đến nghe Ngài giảng dạy. Ngài nói rất bình dị, nhưng người nghe thấm thía và tu hành được; đó mới thật là thuyết pháp. Do công đức tu hành của Hòa thượng tạo thành sức thuyết phục khiến người nghe phát tâm tu.

Học là chính, nhưng tu quan trọng hơn. Anh em thuyết pháp sao cho người thực hành được và thấy an lành. Nếu nói để nghe cho vui thôi, lần lần chúng ta rơi vào tình trạng thế tục hóa Phật giáo; vì chúng ta nói nhiều nhưng bản thân không thực hành và người nghe không đạt được lợi ích gì. Ta và họ không thực hành giáo lý, nên tham sân phiền não sẽ tăng trưởng thì có hình thức Phật giáo, nhưng bên trong là gì? Thuyết pháp cách đó chắc chắn thất bại.

Hòa thượng Trí Tịnh dạy tôi phải nhắc anh em Giảng sư ba điều: Đạo tâm, đạo hạnh và đạo lực. Đạo tâm của chúng ta rất quan trọng. Người tu hành không có đạo tâm không thể lâu dài. Đạo tâm phát xuất từ niềm tin đối với đạo, từ việc chúng ta hết lòng sống chết với đạo. Tâm hồn như thế, chúng ta mới có thể đưa người đến với đạo. Vì vậy, giảng giáo lý, anh em phải tin giáo lý và quyết tâm thực hành có kết quả, dùng đó dạy người, chắc chắn họ theo.

Từ đạo tâm tiến sang đạo hạnh là quyết tâm thực hành. Như Hòa thượng Thanh Từ quyết tâm thực hành Thiền quán, Hòa thượng Bửu Huệ quyết tâm sám hối, tụng kinh, tìm yếu nghĩa kinh. Tôi học được hai vị này hạnh quyết tâm. Giảng sư mà lời dạy và cuộc sống mâu thuẫn thì người nghe không áp dụng được và việc hành đạo cũng không tồn tại được. Cuộc sống và lời nói gắn liền khiến người dễ tin, nên giảng không hay nhưng Phật tử theo tu có kết quả, là Giảng sư có đạo hạnh.

Giảng mà người không nghe, không chấp nhận vì Giảng sư thiếu thực hành. Giảng Thiền thì phải thực tập Thiền quán đạt kết quả nhất định nào đó, giảng Tịnh độ thì phải trầm mình sống với Tịnh độ. Tôi giảng Pháp Hoa vì đã thọ trì, đọc tụng, siêng năng lễ bái là chính, giảng là phụ. Người theo tôi vì tu hành, không phải để nghe giảng. Phật tử theo Hòa thượng Thanh Từ và Hòa thượng Bửu Huệ cũng để tu. Tôi học hai vị này để tự rèn luyện mình.

Anh em phải tu tập siêng năng. Người đến chùa thấy Thầy ngồi Thiền dáng thanh thoát, tự nhiên họ phát tâm, không cần nói, là im lặng như chánh pháp. Hoặc thấy Thầy siêng năng lạy Phật thể hiện dáng vẻ thanh khiết làm cho người phát tâm. Có người nói với tôi rằng: "Con quý Thầy ở điểm lạy Phật”. Vì ít nhứt trong đời tôi đã lạy cả vạn Phật bằng tất cả tấm lòng thành, mới tạo được phong cách khiến người phát tâm. Có Thầy chuyên kinh hành niệm Phật, nên có dáng đi rất đẹp. Một số Phật tử nói rằng Hòa thượng Thanh Từ có dáng đi thanh thoát. Anh em siêng tu hạnh nào thì lâu ngày thân tướng sẽ thể hiện hạnh cao quý đó. Học giáo lý mà thiếu thực tập, bên trong chúng ta chỉ là nghiệp và phiền não, nên không cảm hóa được người.

Và cuối cùng là đạo lực, nghĩa là sức thu hút mọi người về với đạo. Người chưa có đạo lực, hay đạo lực yếu, không thể thuyết phục được người nghe theo, tu theo.

Giảng sư rèn luyện được đạo tâm, đạo hạnh, đạo lực, thuyết pháp nhất định thành công. Đó là tinh ba mà Hòa thượng Chủ tịch dạy tôi nhắc nhở anh em Giảng sư. Chỉ cần có đạo tâm và đạo hạnh để tạo thành đạo lực và dùng đạo lực mới cảm hóa được người, nhất định ta và họ đều an vui giải thoát. Dùng khôn dại, chưa biết ai hơn ai, và cuối cùng ai cũng khổ đau.

Thượng tọa Đạt Đạo nói hội chúng không có trình độ bằng nhau, rất khó giảng. Đương nhiên đồng trình độ và quyết tâm học thì dễ giảng hơn. Ai dạy Học viện đều thấy nhận xét của Thượng tọa rất đúng. Khóa 1, trình độ học viên khác nhau nên việc dạy cũng khó, đến khóa 2, tương đối ổn định và khóa 3, việc học rất tốt vì đồng trình độ, ta giảng, họ tiếp thu được. Giảng dạy ở trường lớp tất yếu đòi hỏi người học có trình độ bằng nhau. Nhưng truyền đạo không cho phép chúng ta có điều kiện này và không bao giờ chúng ta có được một chúng hội cùng trình độ. Phải nhận thức rõ điều này.

Giảng sư nói pháp trước quần chúng không phải lớp học, trình độ người nghe chắc chắn phải khác nhau. Vì vậy, các nhà giáo dục không làm được chuyện này, chỉ dạy được ở trường lớp. Nói trước hội chúng đòi hỏi chúng ta cái khác. Theo tôi, dù trình độ hội chúng sai khác, nhưng họ là Phật tử thì đều có một mục tiêu chung. Mục tiêu và niềm tin của đại chúng thường giống nhau, ta chỉ nhắm đến điểm này để khai thác thì ai cũng nghe được. Trên thực tế, mục tiêu và niềm tin của Phật tử tương ưng với chúng ta, tức là đồng hạnh, đồng nguyện, nên dễ cảm thông nhau.

Theo kinh nghiệm giảng dạy của tôi, chưa bao giờ có một chúng hội đồng nhau. Tuy nhiên, mục tiêu và niềm tin của tôi và họ đồng nhau, nên giảng họ nghe được. Kinh Pháp Hoa dạy rằng ví như mưa rơi xuống, tùy trình độ từng người, từng loài mà hấp thu khác nhau; vì tất cả đều cần nước để trưởng dưỡng mạng sống. Cũng vậy, pháp Phật ban rải cho mọi người hương vị giải thoát. Và hương vị giải thoát ấy chỉ có trong con người giải thoát, nghĩa là người có đạo lực do đạo tâm và đạo hạnh tạo thành.

Giảng sư thành công lớn nhờ đạo lực mạnh. Giảng sư thành công nhỏ vì đạo lực yếu, hay không thành công coi như không có đạo lực thì dù có học, giảng cũng không ai nghe.

Giảng bằng đạo lực suốt đời không hết, nhưng giảng giáo lý theo văn tự chữ đâu nghĩa đó thì giảng một khóa là xong. Giảng bằng đạo lực thì nghĩa lý kinh sẽ phát triển theo niềm tin và công đức tu hành của chúng ta mỗi ngày thăng tiến, mới lạ hơn.

Phật giảng cho 5 Tỳ kheo mà chỉ độ được một người. Chúng ta hành đạo cũng vậy, ở mỗi đạo tràng khác nhau, sẽ độ được một số người khác nhau. Mong có đạo tràng ngang tầm để dạy là điều không thể có. Giảng sư dùng đạo lực thu hút người tu giải thoát, nay một người, mai hai người, lần lần nhiều người, tùy ở đạo lực chúng ta đến đâu cảm hóa đến đó. Mới giảng có nhiều người nghe, giảng một lúc không ai nghe vì đạo lực đã mất lần theo thời gian, theo sự tu hành chểnh mảng hay sai lầm của chúng ta. Hiểu được đạo lý thì truyền bá được đạo lý là trách nhiệm của Giảng sư.

Thượng tọa Phó Đại diện Phật giáo quận 8 có đặt vấn đề Phật tử lập gia đình với người đạo Thiên Chúa thì bị bắt ép phải theo đạo của họ. Như tôi đã nói với chủ trương khép lại quá khứ và mở ra tương lai tốt đẹp, nên cái nhìn của chúng ta không mang tính cục bộ. Điều của Thượng tọa nói thuộc quá khứ, ngày nay không ai bắt được người khác phải theo tôn giáo nào. Và thực tế cho thấy một số gia đình bắt buộc con dâu hay con rễ phải theo đạo Thiên Chúa thì họ cũng theo, nhưng theo để được kết hôn mà thôi và sau đó, họ cũng sinh hoạt theo tín ngưỡng của họ. Một số Phật tử đạo tràng Pháp Hoa đã theo đạo Thiên Chúa để chiều ý gia đình, nhưng hôn lễ xong, họ lại dẫn vợ hay chồng về thăm tôi, nghe tôi khuyên dạy; người bạn đời của họ không hẳn là Phật tử, nhưng tâm hồn là Phật tử.

Chúng ta không chủ trương bắt ép. Việc chính yếu là cảm hóa được người từ đáy lòng bằng đạo đức và tri thức của chúng ta, còn dùng hình thức để ràng buộc thì không ràng buộc được ai. Tôi khuyên các Giảng sư không nên mơ ước hình thức nào để ràng buộc người. Họ đến với ta mà không thương kính ta là tai họa, chứ chẳng quý giá gì. Điều cần thiết là giúp họ trở thành người tốt trong xã hội. Đạo Phật tiêu biểu cho từ bi và đức hạnh, chúng ta làm thế nào thể hiện được mẫu người đạo đức thương tưởng cho đời, làm lợi ích cho người. Được như vậy, tôn giáo khác cũng đến với ta, hoặc có thiện cảm cũng đủ, vì chúng ta đã gieo hạt giống lành trong tâm họ.

Xưa kia Phật giáo hóa độ sanh cũng có 16 ngoại đạo và 92 dị kiến. Họ cũng là giáo chủ của các đạo khác, nhưng đa số đã quy phục Đức Phật, đủ thấy đức hạnh và trí tuệ của Ngài có sức cảm hóa người đến mức độ nào. Còn người của Phật đạo mà theo tôn giáo khác thì phải tự xét lại thực chất tu hành của chúng ta.

Ngoài ra, có hai Ni sư phát biểu rằng học ra trường không được sử dụng nên buồn khổ. Tôi nghĩ đây cũng là sai lầm lớn của Giảng sư Ni, mang tâm hồn như thế thì không thể làm Giảng sư được, tất nhiên không thể thành Phật. Phải thay đổi tư duy mới làm đạo được. Theo tôi, không ai hạn chế được chúng ta, trừ khi chúng ta không có năng lực và ý chí. Có năng lực và ý chí thì ai ràng buộc, ngăn cản là chuốc họa cho họ. Nếu các Ni sư thực sự có khả năng, chẳng những tôi không ngăn cản mà còn nâng đỡ vì công việc hoằng pháp là nhiệm vụ chính của người xuất gia. Ai làm được, tôi đều hoan hỷ. Nhưng làm không được mà cứ nghĩ làm được là sai lầm lớn. Cứ nghĩ mình giảng được vì có học, có bằng cấp; nhưng người đánh giá bằng cấp của quý vị như thế nào là chuyện khác. Có uy tín, sức thuyết phục, đạo đức, năng lực mới là những yếu tố quan trọng, cần thiết đối với ai muốn đi theo ngành Hoằng pháp.

Có người hỏi tại sao tôi giới thiệu sư Bửu Chánh giảng dạy trường Cao đẳng Cần Thơ. Tôi trả lời Thầy này đã tốt nghiệp Học viện Phật giáo, đã du học ở New Delhi và tôi đã đọc luận văn tốt nghiệp Tiến sĩ của Thầy. Tôi thấy rõ sư có học đàng hoàng, nên tôi đưa đi thử việc. Trước khi du học, sư đã từng theo tôi để tập sự thuyết giảng ở các tỉnh miền Trung. Tôi nghĩ đây là người có tâm huyết, có năng lực, cần được giúp đỡ. Giảng xong ở Cần Thơ, tư cách và đạo đức của sư làm cho người cảm mến. Ban Trị sự tỉnh đã gọi điện thoai xin tôi cho sư giảng tiếp. Như vậy, tự thân sư Bửu Chánh đã quyết định cuộc đời của sư, không phải tôi quyết định.

Ni giới cũng thế, không ai cấm cản quý vị; phải tự nỗ lực phấn đấu để có được năng lực, sức thuyết phục thì quý vị có thể làm những việc lớn hơn nữa. Khởi đầu ở chỗ chúng ta sống và tu hành mà không được cảm tình của người chung sống thì sao làm được những việc khác. Học xong, đã có học vị, trình độ, coi chừng dễ làm mất lòng người xung quanh thì khó làm được việc. Người làm được việc lớn nhờ sức hậu thuẫn lớn của Tăng Ni Phật tử. Không ai ủng hộ, không làm được. Các Ni sư xuất thân chùa nào, trường lớp nào thì phải có quyến thuộc nơi đó trước, làm sao tranh thủ được sự ủng hộ đồng tình của người ở nơi đó.

Sư Giác Pháp được Hòa thượng Hiển Pháp nâng đỡ, nhưng chính yếu là sư có năng lực, dù không xuất thân từ trường lớp. Các Hòa thượng, Thượng tọa nói với tôi rằng: " Thầy Giác Pháp có năng lực giảng dạy, Hòa thượng nên chiếu cố Thầy đó”. Tôi thường lắng nghe nhận xét của Tăng Ni Phật tử để cơ cấu người làm việc trong ngành Hoằng pháp.

Có một Thầy tình nguyện giảng ở Đồng Nai, nhưng hội chúng không chấp nhận; phải giảng hay và thuyết phục hơn người trước thì mới thành công. Cứ thấy chỗ trống là tới giảng là tự chuốc họa vào thân. Không biết ai giảng trước ta thế nào, thất bại ra sao mà cứ đem giáo lý nói là hư việc. Phải thấy ở đó phần nhiều là các Thiền sinh do Hòa thượng Thanh Từ huấn luyện. Họ Thiền lâu ngày, toát ra tư chất thanh cao giải thoát của Thiền sư. Có thể họ nói không hay, nhưng có đạo lực thuyết phục được quần chúng. Trong khi anh em là Giảng sư tập sự, học được một ít giáo lý, còn trong ruột thì hành trì, tu niệm chưa có gì, hai cái này tương phản rõ ràng. Chúng hội nhìn thấy người trước đạo đức thì người sau phải đạo đức hơn, may ra họ nghe. Nếu chúng ta giảng không có gì mới lạ, cuộc sống cũng không thể hiện đạo hạnh thì sao thuyết phục được họ.

Tôi gợi ý một số tấm gương hành đạo kiểu mẫu mà chúng ta cần học theo như Hòa thượng Bửu Huệ, Hòa thượng Thanh Từ, hoặc Hòa thượng Minh Châu giữ một vị trí đáng kể trong Giáo hội. Anh em phải thấy rõ điều này. Nói nhiều hay ít không quan trọng đối với tôi. Nói nhiều, lý luận hay, không khéo chúng ta rơi vào lý luận của Bà la môn.

Đạo Phật của chúng ta ngược lại, không tranh cãi để hơn thua. Câu chuyện tôi đọc từ nhỏ rất thích thú, theo đó Xá Lợi Phất là đại luận sư, nhưng khi Ngài gặp Tỳ kheo Mã Thắng thì tất cả hiểu biết, tài năng, uy tín mà Ngài từng hãnh diện bỗng chốc sụp đổ hoàn toàn. Nghĩa là lý luận bị sụp đổ trước đạo đức siêu phàm của Mã Thắng. Cái thắng của Mã Thắng là không tranh chấp mà các Giảng sư phải lưu tâm.

Có Thầy nói rằng người khác tôn giáo thường chất vấn nhiều câu hỏi có tính thách đố, ngang tàng, chúng ta phải chuẩn bị câu trả lời để dồn họ vào thế bí mới dẹp bỏ được tánh kiêu ngạo của họ. Tôi là Giảng sư chưa bao giờ chuẩn bị để đối phó và tôi nhất định không đối phó với bất cứ ai; vì học với Thế Tôn tinh thần "Đời có tranh chấp với ta, nhưng ta không tranh chấp với đời”. Tất cả tư tưởng sai trái trên cuộc đời tự sanh tự diệt, ta vững bước trên con đường phạm hạnh. Đối phó tranh chấp, người hơn sẽ kiêu, người thua sanh oán. Ân oán từ vô thủy kiếp đến nay, nhất định đoạn tuyệt để ta vững bước đi lên con đường thánh thiện. Đã biết các pháp sanh diệt vô thường thì chúng ta lao vào làm gì. Sao không phát hiện cái chơn thường để sống, nếu sống được với tánh chơn thường thì nói năng hay yên lặng đều là chánh pháp. Đó là những gì bản thân tôi học được với các vị cao đức hay kinh nghiệm hành đạo của riêng tôi, xin chia sẻ với anh em Giảng sư để giúp tất cả xây dựng hướng đi tới tốt đẹp.

Lập trường của tôi là đến bất cứ nơi nào, gặp ai, tôi luôn dặn lòng mình đừng làm mất lòng chỗ đó, người đó. Chỉ đến làm theo yêu cầu của họ mà thôi. Tranh thủ được cảm tình của người là quý giá nhất của đời tu. Nhiều Thầy cô phạm sai lầm khi nhìn người xung quanh đều xấu. Nhìn như vậy thì thực sự không còn ai tốt trên cuộc đời này. Và khi ta chịu tu, nhìn lại bản thân mình cũng thấy không tốt, nên kết luận tất cả hiện tượng trên đời không có gì tốt cả ! Bước theo chánh pháp, mọi việc đối với ta đều là giả huyễn, thì đến đâu là làm an lạc nơi đó, đáp ứng yêu cầu chánh đáng của người, chắc chắn người sẽ có thiện cảm với ta. Và làm được việc gì, chúng ta cũng sẵn lòng làm mới thành công.

Đối với các bậc tôn túc, ta luôn kính trọng, không dám xem thường. Có người đáng kính trọng về đức hạnh. Có người lỗi lầm, nhưng cũng nên kính trọng họ về tuổi tác, về việc tu hành trước ta. Một số Giảng sư ra trường nghĩ có học là hơn người, nghĩ thế nhất định thất bại. Trong đạo cũng có thượng, trung, hạ tọa. Nếu có người ngồi sau, nhưng ta nghi họ tu trước nên kính nhường họ lên trên. Đối với một Tỳ kheo mà tôi không biết là đồng hạ hay lớn hạ hơn tôi, tôi hỏi Thầy ấy thọ giới năm nào. Thầy này trả lời thọ giới năm 1957, vậy tôi thọ giới năm 1960, nhỏ hơn 3 hạ, nên tôi thỉnh Thầy này lên ngồi trước. Thấy người ngồi sau lớn hơn mà ta cứ ngồi trước tỉnh bơ thì chết không có đất chôn. Biết kính trọng người lớn, lớn đạo đức, hay lớn tuổi đời, tuổi hạ là chúng ta đã tranh thủ được tình cảm ngay tại chỗ họp.

Anh em nhường được một bước là lấy được cảm tình của một người và càng có nhiều người cảm tình với ta thì càng dễ làm đạo. Tôi làm được một số Phật sự từ năm 1963 đến nay nhờ các Hòa thượng lớn rất thương, vì tôi biết kính trọng, khiêm tốn, nên các Ngài sẵn sàng bảo vệ, tôi mới làm được. Khi từ Nhật Bản về nước, tôi chưa tham gia Giáo hội. Tôi ra Vũng Tàu thăm Hòa thượng Thanh Từ. Lúc đó, có Đại hội Phật giáo kỳ 5, Hòa thượng Trí Thủ cho người tìm tôi để cơ cấu vào Viện Hóa Đạo. Vì Ngài biết rõ tôi khi Ngài làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp thì tôi là Giảng sư mang số 3 trong đoàn Giảng sư của Ngài thành lập. Trong thời kỳ này, được gởi đi giảng bất cứ nơi nào, tôi không bao giờ từ chối. Đó là ý quan trọng mà các Giảng sư cần lưu tâm. Ngài mời tôi hợp tác vì biết tôi chịu cực, chịu khó, chịu khổ. Có tâm hồn như thế chắc chắn có đất dụng võ. Ở mảnh đất phì nhiêu thì có quá nhiều người khai thác, còn mảnh đất hoang sơ, ta đến đó dễ làm.

Các Giảng sư ra trường hay những vị không xuất thân trường lớp chịu tích cực đi diễn giảng vùng xa, không có quyền lợi gì. Đó chính là nơi rộng bước, nếu một thời gian mà tạo được uy tín, có quần chúng ủng hộ, Giáo hội sẽ mời họ cộng tác. Còn tốt nghiệp mà chờ được rước thì e rằng khó có. Chờ 5, 10 năm là cháy bằng, vì lớp trẻ có học vị Tiến sĩ mỗi ngày tiến lên, chúng ta sẽ không bằng ai nữa. Một số anh em đồng khoa với tôi, nhưng mảnh bằng bị đốt cháy; vì tốt nghiệp không làm việc, theo thời gian mọi người đã quên họ. Phải nỗ lực dấn thân và làm được việc, Giáo hội thấy được thành quả tốt đẹp và ý chí năng nổ của anh em thì mới cơ cấu. Tôi muốn nhắc anh em thực tế này.

Tôi sang Nhật học năm 1965. Lúc đó ở Việt Nam, chế độ Diệm bị sụp đổ. Phật giáo được coi như ở thời kỳ vàng son, mọi người vui mừng. Nhưng riêng tôi, tôi thấy đó là thời kỳ tranh chấp. Hành đạo, anh em phải thấy được bề trong của sự việc, không đơn giản chỉ nhìn bề ngoài. Lao đầu vào tranh chấp thì kết cục mỗi người đều bị ảnh hưởng thế lực chính trị chi phối; nhưng cứ nghĩ Phật giáo là nhất. Phạm sai lầm lớn như vậy, không thấy được thực chất, thực lực của chính mình, nên từng cá nhân bị thế lực ác thổi phồng để xua mọi người trong giới Phật giáo tự đấu tranh, chống nhau. Tôi đặt mình ra ngoài sự tranh chấp này bằng cách sang Nhật tu học.

Tôi nhắc anh em việc học cần như thế nào cho đúng. Nếu nói học là lao vào học để lấy học vị cũng tốt. Tuy nhiên, như vậy chúng ta sẽ trở thành nhà chuyên môn, không thể thành nhà truyền giáo lãnh đạo. Ngoài việc chuyên môn học, tôi còn ý hướng khác để về nước làm được việc. Ở Nhật, vào Đại học làm nghiên cứu sinh, nhưng tôi cũng dành thì giờ nghiên cứu các tông phái Phật giáo Nhật và tham vấn các bậc cao Tăng là việc chính. Nghe nơi nào có cao Tăng, tôi đều đến tham vấn với tư cách người cầu đạo hết lòng, các Ngài thương mới chỉ bảo kinh nghiệm hoằng pháp.

Theo tôi, học ở trường quan trọng, nhưng học ở Thầy, ở bạn, ở cuộc đời còn quan trọng hơn. Xã hội là Đại học lớn nhất dạy cho chúng ta những điều rất hay mà trường không dạy được. Ở Thầy và bạn, chúng ta học được những điều mình cần, trong khi trường dạy nhiều điều chúng ta không cần. Ta chọn Thầy, thậm chí không phải là giáo sư ở trường, nhưng ta thích đạo đức, lý luận, hay pháp môn của họ thì ta đến để học cái đó. Sở thích của mình đồng với Thầy mới phát triển được. Ở trường những môn không thích cũng phải học. Thí dụ trong khóa học này, anh em thích tôi giảng hay không thích cũng phải ngồi nghe. Nhưng Thầy Tâm Đức mến tôi, nên ngoài giờ học, Thầy đến phòng riêng để học hỏi với tôi. Việc học như vậy tuy ngắn ngủi mà rất quan trọng. Tôi tiến được nhờ học theo cách này. Tôi không trực tiếp học ở lớp với Hòa thượng Trí Thủ hay các Hòa thượng ở miền Trung. Nhưng tôi học được rất nhiều khi làm thị giả các Ngài. Siêng năng hầu hạ, làm mọi việc sai vặt để các Ngài thương mà cho tôi những giây phút tâm tình về việc hành đạo thật quý giá vô cùng. Những kinh nghiệm sống vô giá của các bậc cao đức mà tôi được truyền trao như vậy không thể nào thu thập được ở nhà trường. Những vị làm nên đạo nghiệp, chúng ta phải thể nhập nội tâm mới nhận ra được nguyên nhân tạo nên công đức của các Ngài.

Tôi chọn kinh Pháp Hoa làm pháp môn tu hành và mở đạo tràng Pháp Hoa cũng có lý do riêng. Anh em phải có chí hướng, mục tiêu rõ ràng, theo đó chúng ta mới học và bồi đắp cho mục tiêu này để đạt đến thành công. Tôi thấy ở Việt Nam thường nói tín đồ Phật giáo đến 85%, nhưng thực chất Giáo hội chúng ta nắm được mấy phần trăm dân số. Không nắm được số lượng tín đồ, không ảnh hưởng được tình cảm, cuộc sống của họ, tất nhiên không điều động được họ; vậy mà có khi còn dám nói Phật giáo chiếm đến 95% dân số.

Chúng ta nhìn kỹ thấy tín đồ Phật giáo Việt Nam luôn luân chuyển từ chùa này sang chùa khác, từ Thầy này sang Thầy khác theo tư duy của người tu hành. Quan trọng là tư tưởng chủ đạo mới có sức thu hút người, đưa họ tới với đạo. Chùa chúng ta lớn nhỏ có đủ, nhưng trụ trì làm gì? Vì không có bổn đạo riêng nên khi Phật tử tập họp đến chùa thì trụ trì chỉ nói cái tốt của mình thôi, vì thế Phật tử luân chuyển, đấu tranh nhau, làm Phật giáo trở thành suy yếu. Lực lượng Phật tử vì đạo rất lớn, tuy nhiên các Thầy sử dụng cách này làm Phật giáo tan nát; gần nhất là chống đối giữa Việt Nam Quốc tự và Ấn Quang đã xảy ra sau năm 1965, chưa nói đến cả chục hệ phái không bằng lòng nhau. Tình trạng này nguy hiểm vô cùng, không cần ai dẹp chúng ta, chúng ta xử sự kiểu này thì tự diệt mà thôi. May mắn, đất nước thống nhất, chúng ta có cơ hội sinh hoạt chung với nhau, mới có Giáo hội thực sự, mới kiểm tra được Tăng Ni tự viện. Trước 1975, làm gì có được thành quả này. Phật giáo chúng ta cứ mãi phân hóa, cứ lo phê phán các tôn giáo khác mà quên mất nhà chúng ta đang bị sụp đổ.

Tôi thấy ở các Tổ đình có sơn môn và hệ phái của Phật giáo Nhật, pháp môn tu hành đều được tôn trọng. Giáo hội chúng ta tồn tại và phát triển là nhờ lời nói đầu trong bản Hiến Chương rằng thống nhất tổ chức, thống nhất ý chí, thống nhất hành động, nhưng pháp môn tu biệt truyền được tôn trọng. Tổng hội Phật giáo Nhật Bản phát triển mạnh vì mang tính cách Thầy trò, không có tính cách Thầy trò, không còn là tôn giáo. Tôn giáo mang tính cách thiêng liêng, Thầy trò, không phải là đoàn thể xã hội cho thành lập và giải tán được. Không giải tán tôn giáo được vì nó ở trong lòng chúng ta mang tính kế thừa. Có điều kiện thuận, nó phát triển bề ngoài trông thấy được, nhưng không thuận thì nó âm ỉ trong lòng. Ngày nào loài người cần Phật giáo hiện hữu, chúng ta có mặt; không cần thì chúng ta vào Niết bàn, khỏi cần ai giải tán. Đó là tinh thần sâu sắc của Phật giáo. Các Giảng sư dứt khoát như vậy, không tranh chấp với ai, chúng ta không có quyền lợi gì ở đây.

Người Nhật tổ chức Phật giáo theo đàn gia chế độ, theo đó gắn liền tín đồ với chùa, với Giáo hội từ tổ tiên, ông bà cho đến con cháu. Mỗi chùa có một số Phật tử nòng cốt. Họ sinh hoạt thường xuyên với chùa và chết rồi, họ cũng được thờ cúng ở đây. Con cháu đến chùa lễ Phật, thăm Tăng và cũng thăm hài cốt của ông bà; đó là những yếu tố tạo sự gắn bó Phật tử với chùa.

Ở Việt Nam chùa nào có để cốt thờ thì Phật tử sẽ đông, còn không thì chỉ có khách vãng lai. Thí dụ chùa Hoằng Pháp có Phật tử đông vì chùa này có nghĩa địa. Phật tử có người thân chôn cất ở đây, dù họ lưu lạc ở đâu cũng tìm cách về cúng dường, thăm viếng chùa và mồ mã ông bà. Thiết nghĩ chúng ta phải xây dựng được bổn đạo nồng cốt của chùa, không như vậy sức sống của chùa không tồn tại lâu. Ở Việt Nam rơi vào tình trạng không tốt vì Thầy trụ trì thường muốn làm chủ, không lo chăm sóc bổn đạo của chùa. Chăm sóc bổn đạo là chăm sóc cả ông bà, tổ tiên, con cháu của họ. Đạo tràng Pháp Hoa của tôi phát triển vì toàn thể gia đình từ cha mẹ, ông bà đến con cháu đều sinh hoạt theo đạo tràng. Khi các đạo hữu lập gia đình, tôi làm lễ thành hôn cho họ theo nghi thức Phật giáo. Khi con họ đầy tháng thì bế vào cho tôi quy y Tam bảo, thậm chí có người còn xin quy y cho con cháu họ từ khi nó còn trong thai mẹ. Đó là cách sinh hoạt gắn bó của đạo tràng chúng tôi từ trước cho đến nay và mãi về sau. Tôi nhắc nhở các Phật tử không lo chăm sóc thế hệ sau, đến khi già chết thì ai thờ cúng.

Phật giáo Nhật Bản có Ký Thành Phật giáo và Tân Hưng Phật giáo. Ký Thành Phật giáo là Phật giáo cổ truyền từ ngàn năm trước không thay đổi. Tân Hưng Phật giáo hay chấn hưng Phật giáo là tổ chức đưa ra những sinh hoạt mới để Phật giáo thích hợp với sự đổi mới của nước Nhật từ phong trào Minh Trị Duy tân. Nhờ thích nghi với sinh hoạt của đất nước, Tân Hưng Phật giáo trở thành tổ chức rất mạnh. Họ bắt đầu gởi Tăng sĩ tài giỏi, có ý chí sang Mỹ và các nước Âu châu để học văn minh tiến bộ và trở về xây dựng Phật giáo ở đất nước họ. Nổi tiếng là Thiền sư Suzuki và Kimura Taiken là những học Tăng đầu tiên ra nước ngoài để duy tân Phật giáo Nhật cho thích hợp với trào lưu tiến triển của xã hội mới. Xã hội cần gì, Phật giáo phải đáp ứng được thì người ta mới ủng hộ.

Khi tôi từ Nhật trở về nước, ít lâu sau, đất nước thống nhất độc lập. Trong giai đoạn khó khăn chung, chúng tôi không thể làm gì được, làm khác là tự diệt. Kinh Pháp Hoa dạy tinh thần này là "Thế gian tướng thường trụ” nghĩa là xã hội thế nào, chúng ta phải sinh hoạt thế đó thì mới sống còn. Nhật Liên Thánh nhân dạy việc thích nghi của chúng ta phải căn cứ vào bốn yếu tố là giáo, cơ, thời, quốc. Ta biết các pháp sanh diệt vô thường, mà ta sống trong sanh diệt vô thường thì phải thuận thế để tồn tại. Còn cái không sanh diệt dành cho ai có khả năng thăng hoa theo nó hay dành cho một góc tâm linh của riêng chúng ta an trú.

Đất nước Nhật đổi mới, Phật giáo Nhật đổi mới theo bằng cách xây dựng thế hệ Tăng trẻ có trình độ tri thức và đưa họ hội nhập vào đời để hướng dẫn mọi người thăng hoa hiểu biết. Phật giáo chúng ta ngày nay được nhân dân và Nhà nước trân trọng, vì kết quả những việc làm từ thiện của Phật giáo cả nước thật đáng kể, sự đóng góp của Tăng Ni Phật tử cho công cuộc xây dựng đất nước rất lớn. Không có những thành tích lớn lao này e rằng chúng ta không có sinh hoạt phát triển ngày nay. Đáp ứng được yêu cầu của xã hội là vị trí của Phật giáo chúng ta đã có trong lòng người.

Phật giáo Nhật đã có một thay đổi quan trọng rất tốt, nên ngày nay mới có được sinh hoạt phát triển song song với mọi hoạt động trong xã hội cực kỳ văn minh. Còn trước đó, họ cũng ở trong tình trạng như chúng ta là Tăng Ni đông nhưng không có việc làm và cũng không biết làm gì. Tăng Ni không bệnh hoạn mà lại trở thành lực lượng tiêu thụ lớn của xã hội quả là nguy hiểm. Vì vậy, Tân Hưng Phật giáo Nhật không chú trọng hình thức phải khoác áo tu sĩ cho nhiều, mà quan tâm đến chất lượng.

Thử nghĩ thành phố chúng ta có cần đến số lượng sáu, bảy ngàn Tăng Ni hay đến vài chục ngàn tu sĩ hay không. Lực lượng Tăng Ni quá đông như vậy, chúng ta mừng ít mà lo nhiều. Họ làm gì? Tất cả chúng ta phải trả lời được câu hỏi này, tìm được đáp số cho vấn đề này là trách nhiệm không của riêng ai.

Phật giáo Nhật đã sáng suốt và tích cực trong việc giảm bớt số lượng Tăng Ni và tăng cường lực lượng tín đồ. Thử nghĩ ta nuôi một vị Tăng từ nhỏ đến 20 tuổi cho thọ giới, rồi tấn phong Thượng tọa; nhưng họ cũng không độ được một tín đồ nào thì có thấy lãng phí quá lớn hay không?

Phật giáo Nhật chủ trương rõ ràng nếu là nhà truyền giáo thì phải có tín đồ. Muốn làm Thượng tọa thì phải làm Thượng tọa của Đại đức, nghĩa là giáo hóa được Đại đức và muốn làm Đại đức thì phải giáo hóa được bổn đạo. Tốt nghiệp ra trường bằng nhau, nhưng thời gian phấn đấu phải tìm cho được việc làm bằng cách nương một vị Thượng tọa để tập sự quản lý, điều hành sinh hoạt của tín đồ. Thí dụ Thượng tọa Giác Toàn có bổn đạo đông thì nương theo Thượng tọa để ta thực tập việc chăm sóc, quản lý Phật tử. Theo tinh thần này, ngày nay các Tăng Ni trẻ của chúng ta tốt nghiệp nên trở về chùa địa phương của mình để Thầy trụ trì phân chia công việc, mới tiến thân từ đây.

Theo Phật giáo Nhật, mỗi Đại đức phải quản lý được 100 nóc gia và được 10 Đại đức tín nhiệm thì mới được bầu lên Thượng tọa. Tôi thấy chuẩn mực tấn phong như vậy rất công bằng, vì Thượng tọa phải lãnh đạo các Đại đức. Còn đến kỳ là cứ tấn phong, tạo thành tình trạng thừa Thượng tọa, Đại đức không làm việc.

Đối với Phật giáo Nhật, tất cả tu sĩ phải có việc làm, lãnh đạo quần chúng hay giảng dạy ở các trường. Vì vậy, số tu sĩ chuyên môn cúng bái sẽ bị giới hạn và nâng số cư sĩ lên trở thành bốn đoàn thể rất mạnh. Thứ nhất là Hội đoàn Sokai Gakkai có 16 triệu tín đồ, có quản lý rõ ràng, có phân cấp, không phải bổ nhiệm mà không quản lý được. Hai là Hội đoàn Rissho Koseikai có 8 triệu tín đồ. Khi tôi học ở Nhật, người bạn cùng học với tôi làm chức vụ Tổng Thư ký hội đoàn này, nên tôi thường đến thăm sinh hoạt của họ. Hiện nay, ông làm Chủ tịch hội này và cũng là Chủ tịch Hội đồng Tôn giáo thế giới. Hội này tổ chức sinh hoạt tín đồ rất chặt chẽ theo hệ thống trong nước và cả nước ngoài. Họ cũng đóng góp nhiều cho công tác từ thiện xã hội trong nước và trên thế giới. Làm được nhiều việc quan trọng nên uy tín của hội rất cao và đưa sinh hoạt Phật giáo vào nề nếp rất tốt, phát triển rất mạnh.

Các hội đoàn Phật giáo Nhật đã thành công trong việc tổ chức sinh hoạt Phật giáo mở rộng dưới hình thức nâng cao số lượng tín đồ và dạy họ sống theo tinh thần Phật pháp do chính các cư sĩ có trình độ Phật học, có uy tín đảm trách. Với sinh hoạt Phật giáo như vậy vừa gọn nhẹ, ít tốn kém, lại vừa phát triển Phật pháp đến mọi người, mọi nơi và giải quyết được vấn đề thừa tu sĩ không có việc làm.

Cũng vậy, đạo tràng Pháp Hoa của chúng tôi với một vạn tín đồ, nhưng tôi không tốn kém nhiều cho sinh hoạt của đạo tràng; vì mọi việc đã có những Phật tử cư sĩ quản lý. Tôi học được cách tổ chức quản lý của Phật giáo Nhật rất thực tế, rất lợi ích, theo đó Phật giáo tồn tại trong lòng xã hội, trong lòng con người. Đối với tôi, ngoài việc học ở trường, tôi dành tất cả thì giờ tham dự sinh hoạt với các hội đoàn Phật giáo, với các Tổ đình sơn môn. Nhờ đó, tôi biết được cách tổ chức ít tốn kém mà hiệu quả nhất, mới xây dựng sinh hoạt cho đạo tràng phát triển nhanh chóng. Ngoài ra, tôi thành công là nhờ học được kinh nghiệm hành đạo của các Hòa thượng trong và ngoài nước. Rút tỉa những bài học quý giá ấy, tôi phát triển khả năng mình trong hoàn cảnh đặc biệt của đất nước.

Thiết nghĩ một Giảng sư lúc mới hành đạo, ít nhất cũng độ được một người và với thời gian, đạo lực phát triển theo công phu tu hành thì số người giáo hóa được nâng lên thành 100. Như vậy, với công việc hoằng pháp độ sanh của 100 vị Giảng sư thì chúng ta đã giáo hóa được một vạn tín đồ. Nếu chúng ta tổ chức chặt chẽ như vậy, Phật giáo nhất định phải phát triển tốt đẹp.

Ngày nay quý Thầy cô có những điều kiện tu học tốt hơn chúng tôi nhiều thì sẽ làm được việc lớn hơn, giải quyết những gút mắc tồn đọng và đưa sinh hoạt Phật giáo chúng ta đến đỉnh cao. Hiện nay, Tăng Ni đông, nhưng không quản lý được tín đồ; thậm chí có Ban Đại diện nói rằng không huy động nổi 500 tín đồ dự lễ Phật đản. Một quận có cả trăm chùa với hàng trăm Tăng Ni mà không điều động được 500 bổn đạo là yếu quá. Mỗi người dù không thuộc Ban Đại diện Phật giáo cũng cần có trách nhiệm gắn bó sinh hoạt với tín đồ một cách mật thiết thì mới làm được Phật sự.

Tôi kỳ vọng rằng tất cả chúng ta đều rút tỉa được ít nhiều những bài học cần thiết quý báu làm hành trang trên con đường phát triển hoằng pháp trong tương lai. Và mỗi vị Giảng sư hôm nay sẽ là những nhân tố tốt đẹp cho việc thành tựu mỹ mãn công việc hoằng pháp lợi sinh trong thời đại mới.