cool hit counter

Sách


Lời giới thiệu Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp
Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa Thiền định phóng quang và đàm kinh nhập diệu
Nguyện hương Đoạn phiền não – tâm bình an
Đảnh lễ Phật Giàu đạo đức, giàu tuệ giác
Lễ Phật quá khứ Giới đức pháp thân
Đảnh lễ Phật hiện tại An trụ tịch diệt tướng
Lễ Phật vị lai Ý nghĩa Phật Đản theo kinh Pháp Hoa
Đảnh lễ Bồ tát Phật giáo và dân tộc Việt Nam
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh hoằng thông liệt vị Tổ sư Hoằng pháp ở thế kỷ XXI
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh thủ hộ thiện thần Dòng chảy miên viễn của Thiền
Sám hối Đức Phật sống mãi với chúng ta
Phát nguyện Đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật
Ý nghĩa thọ trì 7 phẩm Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Chùa mục đồng ở Nam bộ
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ nhất Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định của mọi thành công
Ý nghĩa phẩm Pháp sư Phật giáo, con đường dẫn đến sự sống hòa bình, phát triển, an lạc, hạnh phúc cho nhân loại.
Ý nghĩa phẩm Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15 Sức sống Thiền của Trần Thái Tông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 Sống trong tỉnh giác
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17 Quan niệm về kinh tế trong Phật giáo
Ý nghĩa phẩm Phổ Môn thứ 25 Những nét đẹp của Phật giáo Lý Trần
Ý nghĩa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28 Nghệ thuật trong Phật giáo
Hồi hướng Ý nghĩa nhà lửa tam giới trong kinh pháp hoa
Ý nghĩa tụng thủ hộ thần chú Ý nghĩa lễ tắm Phật
Ý Nghĩa Quy Y Tam Bảo Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm
Năm Giới Của Người Phật Tử Tại Gia Ý nghĩa Vu Lan  
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Pháp Hoa Và Tụng Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Sám Hối Nhứt Phật thừa
Ý Nghĩa Tụng Kinh Dược Sư Và Niệm Phật Dược Sư Quán tứ niệm xứ
Ý Nghĩa Niệm Phật Di Đà Tứ chánh cần
Lời nói đầu Tứ như ý túc
I. Lý do chọn 21 ngày tu gia hạnh Phổ Hiền
Ngũ căn ngũ lực
II. Ý nghĩa của sự khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày thành đạo của Phật Di Đà là ngày 17 tháng 11 và kết thúc vào ngày thành đạo của Phật Thích Ca là ngày mùng 8 tháng 12 Thất Bồ đề phần
III. Kết luận Thúc liễm thân tâm
Lời tựa Tùy duyên  
Tổng luận Thanh tịnh hóa thân tâm
Pháp hội 1 : Tam Tụ Luật Nghi Nhứt thiết Chúng sanh Hỷ kiến Bồ Tát
Pháp hội 2: Vô Biên Trang Nghiêm Đà la ni Chánh kiến
Pháp hội 3 : Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Tam quy và pháp niệm Phật
Pháp hội 5: Vô Lượng Thọ Như Lai Hài hòa để cùng tồn tại và phát triển
Pháp hội 6: Bất Động Như Lai Hạnh khiêm cung và bát kỉnh pháp
Pháp hội 7: Mặc Giáp Trang Nghiêm An lạc hạnh  
Pháp hội 8: Pháp Giới Thể Tánh Vô Sai Biệt Những kinh nghiệm giảng dạy
Pháp hội 9 : Đại Thừa Thập Pháp Kinh nghiệm giảng dạy Kinh Hoa Nghiêm
Pháp hội 10: Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn Một số đề tài gợi ý cho những bài thuyết giảng của Tăng Ni sinh Khóa Giảng sư
Pháp hội 11: Xuất Hiện Quang Minh & Pháp hội 12 : Bồ Tát Tạng Nổ lực tự học để kế thừa và phát huy được tinh ba của Thầy, Tổ.
Pháp hội 14: Phật Thuyết Nhập Thai Tạng Một số phương hướng cho ngành Hoằng pháp
Pháp hội 15: Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký Vài suy nghĩ về Hoằng pháp trong thời hiện đại
Pháp hội 16: Bồ Tát Kiến Thiệt Hoằng pháp trong thế kỷ 21
Pháp hội 17: Phú Lâu Na Nhà Hoằng pháp và giáo dục tiêu biểu trong thế kỷ XX
Pháp hội 18: Hộ Quốc Bồ Tát Hoằng pháp ở thế kỷ 21(thuyết giảng ngày 20 – 24 tháng 6 năm 2007)
Pháp hội 19: Úc Già Trưởng Giả Điểm chung nhứt của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền
Pháp hội 20: Vô Tận Phục Tạng Mô hình Hoằng pháp tại nước nhà trong thời đại ngày nay
Pháp hội 21: Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La Tư cách của vị trụ trì
Pháp hội 23: Ma Ha Ca Diếp Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại
Pháp hội 24: Ưu Ba Ly Ý nghĩa trụ trì
Pháp hội 25: Phát Thắng Chí Nguyện Trụ trì, người giữ chùa
Pháp hội 26: Thiện Tý Bồ Tát Kinh nghiệm làm trụ trì
Pháp hội 27 : Thiện Thuận Bồ Tát Tam pháp ấn
Pháp hội 28: Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả Nét đẹp của Phật giáo Nam Tông Khơ Me
Pháp hội 29: Ưu Đà Diên Vương Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện đại
Pháp hội 30: Diệu Huệ Đồng Nữ Điều thiết yếu của người tu : Sức khỏe tốt, trí sáng suốt và trái tim nhân ái
Pháp hội 31: Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di An trụ pháp tịch diệt
Pháp hội 32: Vô Úy Đức Bồ Tát Hoằng pháp và trụ trì
1. Lời tựa Đạo đức hành chánh
2. Khái niệm về kinh Duy Ma Ba điểm quan trọng đối với tân Tỳ kheo
3. Quán chúng sanh theo kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (Thuyết giảng tại chùa Phổ Quang)
4. Bất Nhị pháp môn trong kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (thuyết giảng tại chùa An Phước)
5. Ý nghĩa phẩm Phật Hương Tích trong kinh Duy Ma Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ : Học, tu và làm việc
6. Quan niệm về đức Phật trong kinh Hoa Nghiêm Truyền trao giới pháp và lãnh thọ giới pháp đúng như pháp.
7. Ý nghĩa lễ Phật theo kinh Hoa Nghiêm Giới tánh Tỳ kheo
8. Ý nghĩa phương tiện theo kinh Pháp Hoa Lời tựa       
9. Ý nghĩa thí dụ ba xe và nhà lửa trong kinh Pháp Hoa Tiểu sử
10. Ý nghĩa hóa thành dụ trong kinh Pháp Hoa Giới tánh tỳ kheo  
11. Pháp sư của kinh Pháp Hoa Hoằng pháp và trụ trì  
12. Ý nghĩa Long Nữ dâng châu trong kinh Pháp Hoa An lành và tĩnh giác
13. An Lạc Hạnh theo kinh Pháp Hoa Nghĩ về sự thành đạo của Đức Phật
14. Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất Mùa Xuân đọc kinh Hoa Nghiêm
15. Cảm niệm về Bồ Tát Phổ Hiền Sự lớn mạnh của Phật giáo song hành với thành phố phát triển 300 năm
Lời tựa Khai Thị 2009 Những quan niệm về Đức Phật
Xuân trong Phật đạo Thế giới tâm thức và thế giới hiện thực
Phước Lộc Thọ Pháp phương tiện
Hạnh xuất gia Tụng kinh, lạy Phật, sám hối và thiền quán
Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo Đức hạnh của vị Tỳ kheo
Hạnh nguyện Quan Âm Hành trình tâm linh : nẻo về vĩnh hằng của người tu
Tàm Quý Ý nghĩa Phật Đản PL. 2542 - 1998
Họa phước vô môn Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật
An cư kiết hạ Nương nhờ đức từ của Tam bảo
Phật giáo và vấn đề tác hại của thuốc lá Ý nghĩa Kim Cang thừa trong Phật giáo
Phật giáo và bảo vệ môi trường Cảm nghĩ về Đức Phật A Di Đà
Phật giáo và thiếu nhi Ý nghĩa Vu Lan 1998
Nói không với ma túy Bồ Tát Đạo
Đạo đức ở tại gia Mùa An cư : sáu thời tịnh niệm
Mỉm cười trong đau khổ Tinh thần Phật giáo Đại thừa
Phật giáo và dân số Phật giáo hướng về tương lai
Kính lão đắc thọ Ý nghĩa lễ Vu Lan PL 2542 - 1998 (thuyết giảng tại trường hạ chùa Hội Khánh)
Hành trì giới luật Chơn thân – huyễn thân
Ý nghĩa Vu lan Tư cách của vị trụ trì  
Hạnh nguyện Địa Tạng Bồ tát Tâm từ bi của Đức Phật
Nối vòng tay lớn 9 tuần tu học đồng đăng Cửu Phẩm Liên Hoa
Niềm vui của tuổi già Những việc cần làm trong 3 tháng An Cư
Kiến thức và trí tuệ Những việc cần làm trong 3 tháng an cư Suy nghĩ về linh hồn trong Phật giáo
Tình người Hoằng pháp   
Hạnh nguyện Bồ tát hay Bồ tát đạo Tìm hiểu ngôn ngữ của Đức Phật
Tha lực và tự lực Mùa Xuân trên đất Bắc
Hạnh nguyện Dược Sư Lời tựa        
Ơn Thầy Ý nghĩa cầu an
Vượt qua mặc cảm Hạnh nguyện Phổ Hiền
Lời tựa Lược giải Kinh Hoa Nghiêm Bản chất Niết bàn
Nghề nghiệp chân chánh Niềm tin chân chánh
CHƯƠNG I – LỊCH SỬ KINH HOA NGHIÊM
        I - Khái niệm về lịch sử kinh Hoa Nghiêm
Hóa giải hận thù
    II - Lịch sử truyền thừa và phát triển kinh Hoa Nghiêm Phật giáo và hòa bình thế giới
  III - Nội dung kinh Hoa Nghiêm Quốc thái dân an
CHƯƠNG II - Ý NGHĨA ĐỀ KINH HOA NGHIÊM Giải tỏa oan ức
CHƯƠNG III – QUAN NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT THEO KINH HOA NGHIÊM
       I - Quan niệm về Đức Phật trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
Vững trước khen chê
   II - Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Ý nghĩa sức mạnh hòa hợp
  III - Quan niệm về Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm Âm siêu dương thạnh
CHƯƠNG IV – BỒ TÁT ĐẠO
      I - Bồ tát Thập Tín
Thực tập nhẫn nhục
  II - Bồ tát Thập Trụ Thành công và thất bại
 III - Bồ tát Thập Hạnh Chiến thắng chính mình
IV - Bồ tát Thập Hồi hướng Thân cận người trí
 V - Bồ tát Thập Địa hay Thập Thánh Sống hạnh viễn ly
VI - Bồ tát Thập Định Ý nghĩa bờ bên kia
VII - Bồ tát Thập Thông Hương thơm đức hạnh
VIII - Bồ tát Thập Nhẫn Tòa án lương tâm
CHƯƠNG V – PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI Củng cố niềm tin
   1- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Đức Vân Tỳ kheo Giá trị cuộc sống
   2- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Vân Tỳ kheo Giáo dục con cái
   3- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Trụ Tỳ kheo Vượt qua tật bệnh
   4- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Di Già Đền ơn đáp nghĩa
   5- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Giải Thoát Thân phận con người
   6- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Tràng Tỳ kheo Sức mạnh của ý chí
   7- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hưu Xã Ưu bà di Quan niệm về Tịnh Độ
   8- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa Cư trần lạc đạo
   9- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thắng Nhiệt Bà la môn Làm mới cuộc sống
   10- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Từ Hạnh đồng nữ Lời tựa        
   11- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Kiến Tỳ kheo Ăn chay lợi cho sức khỏe và tâm linh
   12- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tự Tại Chủ đồng tử Chuyển hóa sanh thân thành pháp thân
   13- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Cụ Túc Ưu bà di Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam
   14- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Minh Trí Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị Tổ sư người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam
   15- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Pháp Bửu Kế Mật tông tại Việt Nam
   16- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Phổ Nhãn Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng
   17- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Vô Yểm Túc Phật giáo đi vào cuộc sống
   18- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Đại Quang Sự hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ
   19- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bất Động Ưu bà di Sức mạnh hòa hợp
   20- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Biến Hành ngoại đạo Tác động hỗ tương giữa thân và tâm
   21- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Ưu Bát La Hoa Tận dụng phương tiện hiện đại trong việc hoằng pháp
   22- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thuyền trưởng Bà Thi La Tứ chánh cần  
23.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Vô Thượng Thắng hay Di Lặc Bồ Tát Tu thiền tại Việt Nam
24- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân Vai trò của ni giới Việt Nam trong xã hội hiện đại
25- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với bà Tu Mật Đa nữ Ý nghĩa hóa thân Phật thuyết pháp
26- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Tỳ Sắc Chi La Ý nghĩa kệ dâng y
28.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Chánh Thu Ý nghĩa tập trung phân thân
27.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Quán Tự Tại Ý nghĩa tịnh độ
29- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thần Đại Thiên Cầu nguyện mùa vu lan
30- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Địa thần An Trụ Cư sĩ Phật giáo
31- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với chủ Dạ thần Bà San Bà Diễn Để Đạo đức Phật giáo trong tương lai
32- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Dạ thần Khai Phu Nhứt Thiết Thọ Hoa và Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Nhứt Thiết Chúng Sanh Điểm chung nhứt của Phật giáo nam truyền và bắc truyền  
33- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thọ thần Diệu Đức Viên Mãn Giới luật của người Phật tử tại gia
34- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ tát Di Lặc Bồ đề quyến thuộc
35- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Mối tương quan với thế giới siêu hình
36- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Phổ Hiền Bồ tát Chân tinh thần Phật giáo Bắc tông
CHƯƠNG VI – PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI – PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN Trồng căn lành và sám hối
16. Niết bàn theo kinh Pháp Hoa Lợi ích của an cư kiết hạ
17. Giáo dục của Phật Giáo Đại Thừa Tứ niệm xứ, tứ chánh cần
18. Những điều kiện tu Bồ Tát đạo Mùa xuân vĩnh hằng
19. Ngôi chùa tâm linh Kiến trúc Phật giáo
20. Hành trình về chân linh Kiến trúc Phật giáo  
21. Tu tâm Niềm tin của người phật tử Việt Nam
22. Canh tâm điền Sự an lạc trong gia đình
23. Đường về Yên Tử Báo đáp ơn nghĩa sinh thành
24. Nếp sống của một vị danh tăng Quan niệm về tịnh độ của kinh Di Đà
25. Ý nghĩa Phật Đản Pl.2538 (Tứ Nhiếp Pháp) Tam pháp ấn  
26. Ý nghĩa lễ đức Phật thành đạo Tinh thần từ bi hỷ xả, con đường tốt nhất đi đến hòa bình, phát triển và an lạc cho nhân loại
27. Phật giáo Việt Nam đang hướng về phía trước trên tinh thần vô ngã vị tha Từ bi và hòa bình trong Phật ngọc
28. Xuân hoan hỷ Tình yêu và giới tính theo tinh thần Pháp Hoa
29. Xuân trong cửa thiền Xây chùa, tô tượng, đúc chuông
30. Xuân của hành giả Pháp Hoa Xuân trong cửa đạo
Lời tựa lược giải kinh Pháp Hoa Bồ Tát Thích Quảng Đức, một bậc danh tăng siêu việt của thế kỷ 20
Lịch sử kinh Pháp Hoa Cái chết đối với người phật tử
Kinh đại thừa vô lượng nghĩa Giáo dục ở tự viện
Phẩm 1: Tựa Giới định tuệ
Phẩm 2: Phương tiện Khắc phục nghiệp, giữ chánh niệm, trụ chánh định
Phẩm 3: Thí dụ Khởi nghiệp mưu sinh theo Phật giáo
Phẩm 4: Tín giải Lễ Phật theo bổn môn Pháp Hoa
Phẩm 5: Dược thảo dụ Ngôi chùa tâm linh
Phẩm 6: Thọ ký Nhập không môn, vào vô lượng nghĩa định
Phẩm 7: Hóa thành dụ Nữ giới Phật giáo và sự kết nối toàn cầu
Phẩm 8,9: Ngũ bá đệ tử thọ ký, thọ học vô học nhơn ký Pháp phục của tăng ni Việt Nam
Phẩm 10: Pháp sư Phật giáo và môi trường sinh thái  
Phẩm 11: Hiện bảo tháp Phật giáo và phù đổng Thiên Vương
Phẩm 12: Đề Bà Đạt Đa Thâm nhập không môn
Phẩm 13: Trì Trụ định, hành trang tối thiểu của người tu
Phẩm 14: An lạc hạnh Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng
Phẩm 15: Tùng Địa Dũng Xuất Tu vô lượng nghĩa kinh, sống trong vô lượng nghĩa định, thâm nhập hội Pháp Hoa.
Phẩm 16: Như Lai thọ lượng Vô lượng nghĩa kinh và vô lượng nghĩa xứ tam muội
Phẩm 17: Phân biệt công đức Xây dựng đạo đức của người tu
Phẩm 18: Tùy hỷ công đức Yếu nghĩa của phẩm pháp sư, kinh Pháp Hoa
Phẩm 19: Pháp sư công đức Hướng đi của Phật giáo Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
Phẩm 20: Thường bất khinh Bồ Tát Những điều tâm đắc về hoằng pháp ( thuyết giảng tại Bình Định)
Phẩm 21: Như Lai thần lực Ý nghĩa Phật đản PL. 2550-2006
Phẩm 22: Đà La Ni Mỹ thuật Phật giáo
Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát bổn sự Vai trò của người phụ nữa trong kinh Hoa Nghiêm
Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát Những tư tưởng hòa bình, hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam
Phẩm 25: Phổ môn Đức Phật hằng hữu trong mỗi chúng ta
Phẩm 26: Diệu Trang nghiêm vương bổn sự Vai trò của Tăng già trong thời hiện đại
Phẩm 27: Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát Phật giáo trong nền toàn cầu hóa
Phẩm 28: Chúc lụy Giáo dục Phật giáo
Preface Một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa
Lời tựa lược giải kinh Duy Ma Ý nghĩa cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa
Tổng luận lược giải kinh Duy Ma Tịnh độ
Phẩm 1: Phật quốc Hóa thành dụ
Phẩm 2: Phương tiện   Phật giáo Nam tông vá Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Phẩm 3: Thanh văn Phật giáo trong lòng nhân dân miền Nam
Phẩm 4: Bồ Tát Vị trí của Pháp sư Huyền Trang trong Phật giáo
Phẩm 5: Văn Thù Sư Lợi thăm bệnh Xuân về trên cõi Tịnh
Phẩm 6: Bất tư nghì Vãng sanh cực lạc
Phẩm 7: Quán chúng sanh Cầu siêu bạt độ
Phẩm 8: Phật đạo Công đức của kinh Pháp Hoa
Phẩm 9: Nhập bất nhị pháp môn Nghệ thuật trong Phật giáo  
Phẩm 10: Phật Hương Tích Hoằng pháp ở thế kỷ 21
Phẩm 11: Bồ Tát đạo An cư dưỡng tánh - Thị phi phủi sạch
Phẩm 12: Kiến Phật A Súc Giữ giới và quán chiếu với tứ Thánh đế
Phẩm 13: Pháp cúng dường Gắn tâm với Đức Phật, với giáo pháp và Hiền thánh tăng
Phẩm 14: Chúc lụy Bốn pháp giải thoát
Lời tựa           Gạn sạch phiền não, nghiệp chướng, trần lao
Lịch sử Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Sám hối nghiệp chướng
Ý nghĩa Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Pháp Hoa chân kinh
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ I Ý nghĩa 12 đại nguyện của Đức Phật Dược Sư
Ý nghĩa phương tiện và chân thật Vũ trụ quan theo Phật giáo
Ý nghĩa Thí Dụ Sống an lạc, chết siêu thoát
Ý nghĩa phẩm Pháp Sư thứ 10 Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng
Ý nghĩa phẩm An Lạc Hạnh thứ 14 Quan niệm về đức Phật theo kinh Pháp Hoa  
Ý nghĩa phẩm Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ mười lăm Pháp Phật và an toàn giao thông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ mười sáu Đức Phật của chúng ta
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, phẩm Pháp Sư công đức thứ 19 Đạo đức Phật giáo
Bồ Tát hạnh: Dược Vương Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Diệu Trang Nghiêm Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Bồ tát hạnh theo kinh Pháp Hoa
Lời tựa           Mùa xuân của hành giả phát tâm bồ đề
Pháp Hội 33 : Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện Những điều tâm đắc về kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 34 : Công Đức Bửu Hoa Phu Bồ Tát Ý nghĩa Phật Đản PL 2543 - 1999
Pháp Hội 35 : Thiện Đức Thiên Tử Kinh nghiệm hoằng pháp  
Pháp Hội 36 : Thiện Trụ Ý Thiên Tử Tìm hiểu xã hội học Phật giáo
Pháp Hội 37 : A Xà Thế Vương Tử Theo dấu người xưa
Pháp hội 38: Đại Thừa Phương Tiện Những điều cần làm trong mùa An cư
Pháp Hội 39 : Hiền Hộ Trưởng Giả Bốn bậc trưởng lão được kính trọng
Pháp Hội 40 : Tịnh Tín Đồng Nữ Trở về viên minh tánh
Pháp Hội 41 : Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp Điều kiện để có kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 42 : Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại  
Pháp Hội 43 : Phổ Minh Bồ Tát Ý nghĩa an cư kiết hạ
Pháp Hội 44 : Bửu Lương Tụ Bồ tát quả môn
Pháp Hội 45 : Vô Tận Huệ Bồ Tát Mùa an cư - tiến tu tam vô lậu học
Pháp Hội 46 : Văn Thù Thuyết Bát Nhã Công việc của Tỳ kheo chân chánh
Pháp Hội 47 : Bửu Kế Bồ Tát Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ
Pháp Hội 48 : Thắng Man Phu Nhân Bất biến, tùy duyên
Pháp Hội 49 : Quảng Bác Tiên Nhân Bàn về nghi lễ
Pháp Hội 50 : Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm Tu hành đúng như pháp là tối thượng cúng dường
Pháp Hội 52 : Bửu Nữ Chọn pháp tu an lạc
Pháp Hội 53 : Bất Thuấn Bồ Tát Phát huy chân linh
Pháp Hội 54 : Hải Huệ Bồ Tát Nghĩ về Phật giáo Nhật Bản
Pháp Hội 55 : Hư Không Tạng Bồ Tát Ý nghĩa phẩm Tín giải trong kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 56 : Vô Ngôn Bồ Tát Bồ đề tâm  
Pháp Hội 57 : Bất Khả Thuyết Bồ Tát Đức Phật trong nền văn minh Ấn Độ
Pháp Hội 58 : Bửu Tràng Bồ Tát Một chuyến đi về miền đất Phật
Pháp Hội 59 : Hư Không Mục Giác Ngộ với thiên niên kỷ 3
Pháp Hội 60 : Nhựt Mật Bồ Tát Suy nghĩ về số mệnh trong Phật giáo
Pháp Hội 61 : Vô Tận Ý Bồ Tát Thiền trong đời thường
Lời tựa  Hướng về Thánh tích của Phật giáo
Tiểu sử   Lời tựa           
Thọ giới, tu hành, nỗ lực thâm nhập dòng thác trí tuệ Tam vô lậu học  
Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội Quý nhứt trên đời
Thức ăn tinh thần của người tu Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng  
Thực tu, cảm hóa được chư thiên và quần chúng Sinh hoạt trong mùa An cư  
Trau dồi giới đức, siêng tu tam vô lậu học Suy nghĩ về ý mã tâm viên  
Lời tựa    An lạc hạnh   
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2539 -1995 Tam vô lậu học: Giới, Định, Tuệ  
Tam vô lậu học An cư kiết hạ   
Quý nhất trên đời Cơm Hương Tích  
Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng Bồ tát đạo   
Ý nghĩa Vu lan PL. 2539 - 1995 Mùa An cư sáu thời tịnh niệm  
Nhìn về thế kỷ 21 Tinh thần Phật giáo Đại thừa  
Xuân Pháp Hoa Nhân duyên - căn lành  
Hướng về tương lai Chơn thân - huyễn thân  
Ý nghĩa Niết bàn Chín tuần tu học, đồng đăng cửu phẩm Liên hoa  
Internet, những nỗi lo mới Những việc cần làm trong ba tháng An cư  
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2540 -1996 Hành trang của người xuất gia: căn lành và Phật hộ niệm  
Cảm nghĩ về hoài bão của Đức Phật Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật  
Phật giáo và thực tiễn cuộc sống Trở về viên minh tánh  
Sinh hoạt trong mùa An cư Theo dấu người xưa  
Suy nghĩ về ý mã tâm viên Những điều cần làm trong mùa An cư  
Suy nghĩ về hoằng pháp Tu tâm  
An lạc hạnh Bốn bậc trưởng lão được kính trọng  
Tam vô lậu học : Giới-Định-Tuệ Bồ tát quả môn   
An cư kiết hạ   Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ  
Cơm Hương Tích Mùa An cư - tiến tu Tam vô lậu học  
Ý nghĩa lễ Vu lan Bất biến, tùy duyên  
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2540 - 1996 Công việc của Tỳ kheo chân chánh  
Ơn nghĩa đồng bào Phát huy chân linh  
Hướng về những người con tương lai của đất nước Bàn về nghi lễ  
Hãy đến với Chương trình "Hiểu và Thương" Sáu pháp hòa kỉnh trong mùa An cư  
Lòng từ của Bồ tát Quan Âm Đại thừa Phật giáo  
Bồ đề tâm Tu trên ngũ uẩn thân  
Suy tư của người Phật tử về những vấn đề lớn Trụ pháp và lực gia bị của Phổ Hiền  
Đầu tư - vấn đề nan giải Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ: học, tu và làm việc  
Những điều tâm đắc trên đường về Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Lấy từ bi xóa hận thù Hài hòa, con đường an lành  
Thuận lợi và nguy cơ Nếp sống của người tu  
Lá thư Tổng Biên tập Con đường giải thoát  
Lá thư Xuân (trích Nguyệt san GN số 10) Kinh Đại Bảo Tích pháp hội 59: Hư không mục  
Ý Xuân Ý nghĩa sám Pháp Hoa  
Lá thư Xuân (trích Báo GN số 41) Phật giáo Nam tông  
Những suy nghĩ về Hội nghị kỳ 5 khóa III Trung ương Giáo hội Đạo lực
Năm mới với niềm hy vọng mới Năm đặc điểm của người tu
Trách nhiệm và chức vụ Ý nghĩa Tam vô lậu học
Thành quả của Đại hội Phật giáo TP. HCM kỳ V Pháp tu trong ba tháng An cư
Sự đi lên của Phật giáo miền Trung Hướng đi giải thoát
Hướng phát triển tốt đẹp trong mùa An cư Hạnh an lạc
Hướng về ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7 Tỉnh giác là chơn giác
Lễ Vu lan - ngày đền ơn đáp nghĩa của Đông phương Ý nghĩa xuất gia  
Thương tiếc danh tăng An cư và hạnh đầu đà
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2541 - 1997 Cảm niệm Phật A Di Đà
Mừng 52 năm, một chặng đường phát triển của đạo pháp Cùng giúp nhau hoàn thiện tư cách người xuất gia
Vấn đề trẻ hóa lãnh đạo Hành đạo tùy duyên
Phật giáo Việt Nam, một tương lai tươi sáng Nhu đạo và Tịnh độ
Kết quả Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV Những kinh nghiệm tu hành
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VI (1994) Sự hộ niệm của Phật, Bồ tát, Thiên Long Bát Bộ
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VII (1999) Thể nghiệm pháp Phật
Cảm niệm cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa Tịnh độ   
Cảm niệm ân sư Trụ pháp Vô sanh
Đức Pháp chủ là biểu tượng đoàn kết các hệ phái Phật giáo Tu hành là chuyển hóa hữu lậu ngũ uẩn thành vô lậu ngũ uẩn
Cảm niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ Vai trò của nữ tu Phật giáo trong thời Bắc thuộc
Cảm niệm về Hòa thượng Thích Thiện Hào Y báo và chánh báo
Duyên kỳ ngộ Ý nghĩa Tịnh độ   
Hồi tưởng về đức hạnh của Hòa thượng Thích Tâm Thông Tất cả pháp môn tu đều là Phật pháp
Sáng niềm tin Ngộ tánh khởi tu
Một hình ảnh khó quên trong cuộc đời hoằng pháp của tôi Theo dấu chân Phật   
Cảm niệm ân sư (Kỷ niệm lễ chung thất Hòa thượng Thích Trí Đức) Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức
Những kỷ niệm với Hòa thượng Thích Thiện Châu Những khởi sắc của Phật giáo tỉnh Lâm Đồng
Nghĩ về Hòa thượng Thích Thanh Kiểm Trau dồi giới đức, phát triển tuệ lực
Tưởng niệm Ni trưởng Huê Lâm Tu đúng pháp
Ni sư Huỳnh Liên Tâm đức và tuệ đức
Nghĩ về Ni trưởng Như Hòa nhân ngày Tiểu tường An cư là tịnh hóa thân tâm
Lời nói đầu   An trú bây giờ và ở đây
Hoằng pháp Tăng trưởng đạo lực
Những điều tâm đắc về hoằng pháp Đi theo dấu chân Phật và các bậc tiền nhân
Kinh nghiệm hoằng pháp Tâm là Diệu pháp, thân là Liên hoa
Hoằng pháp theo nhân duyên Tu là chuyển nghiệp
Ý nghĩa thuyết pháp Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học.
Giáo dục và hoằng pháp Nương lực Phổ Hiền Bồ tát để tiến tu
Lời tựa      Sống vô ngã vị tha
Ý nghĩa kinh hành niệm Phật Trí tuệ và đạo đức là sức mạnh của người tu
Ý nghĩa tĩnh tâm Tinh thần tùy duyên và bất biến
Lục hòa Làm cho đất nước cũng là làm cho Phật giáo
Sáu pháp ba la mật Bình thường tâm thị đạo và ngôi chùa tâm linh
Tịnh độ theo kinh Duy Ma Học hiểu giáo lý đúng đắn và ứng dụng có hiệu quả vào cuộc sống tu hành
Tam minh Phát huy đạo đức và trí tuệ làm đẹp cho đạo tốt cho đời
Hồi hướng theo kinh hoa nghiêm Ngủ trong tỉnh thức
Xử thế của đạo Phật Sự gắn bó giữa Tăng Ni và Phật tử là điều cần thiết
Tam bảo Nhận ra con người thực của mình để tiến tu
Nhập thế của đạo Phật Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định mọi thành công
Tứ hoằng thệ nguyện Ý nghĩa hồng danh sám hối
Xuân Di Lặc Đoạn phiền não - tâm bình an  
Báo hiếu theo kinh vu lan Giàu đạo đức, giàu tuệ giác  
Phật giáo và pháp luật Giới đức Pháp thân  
Khái niệm về giới luật của người phật tử tại gia An trụ tịch diệt tướng  
Ý nghĩa xuất gia Lắng tâm, tịnh niệm  
Ngọn đuốc xuân Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh  
Ngũ uẩn Ngũ ấm ma trong chúng ta  
Hòa thượng Thích Quảng Đức, một con người bất tử Phát huy đạo lực  
Mông sơn thí thực Sống trong tỉnh giác  
Tính cách pháp lý của giáo hội Tấm gương sáng của Tổ Huệ Đăng  
Những thành quả của giáo hội Phật giáo Việt Nam Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp  
Ý nghĩa đại trai đàn Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội  
Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa Thức ăn tinh thần của người tu  
Lắng tâm, tịnh niệm Thực tu, cảm hóa được chư Thiên và quần chúng  
Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh. Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm  
Ngũ ấm ma trong chúng ta Trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Phát huy đạo lực Tu bồi cội phúc  
Phước đức và trí tuệ Tùy duyên      
Tấm gương sáng của tổ Huệ Đăng Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa  
Tâm tạo ra tất cả Ý nghĩa Nhà lửa tam giới trong kinh Pháp Hoa  
Tu bồi cội phúc Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa  
Tùy duyên  

 

Phẩm 3: Thanh văn

 

I. LƯỢC VĂN KINH

Lúc bấy giờ, Duy Ma Cật nghĩ rằng ông bệnh, lẽ nào Đức Thế Tôn là đấng đại từ lại không đoái lòng thương xót. Phật biết ý ông, liền bảo Xá Lợi Phất đến thăm bệnh Duy Ma.

Xá Lợi Phất bạch Phật rằng ông không dám thăm bệnh Duy Ma. Vì nhớ lại trước kia đang ngồi Thiền dưới gốc cây trong rừng, thì Duy Ma đến hỏi Xá Lợi Phất: "Thưa ngài Xá Lợi Phất, không cần phải ngồi sững như vậy mới là Thiền. Chẳng bỏ đạo pháp mà hiện việc phàm phu, như vậy là Thiền. Tâm chẳng trụ trong cũng chẳng ở ngoài, như vậy là Thiền, v.v… Nếu ngồi được như vậy, Phật sẽ ấn khả”. Xá Lợi Phất nghe xong, lặng thinh, không đáp được.

Phật bảo Mục Kiền Liên đến thăm bệnh Duy Ma, nhưng ông cũng không dám. Nhớ lại lúc ông vào thành Tỳ Da Ly thuyết pháp, Duy Ma bảo ông rằng "Thuyết pháp cho hàng cư sĩ, chẳng nên thuyết pháp như vậy. Phải y như pháp mà thuyết. Pháp không có chúng sanh, lìa chúng sanh cấu. Pháp thường vắng lặng, dứt hết các tướng, pháp không vướng mắc danh tự ngữ ngôn, pháp không sanh diệt, pháp ngoài mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, v.v… Phải tùy căn cơ hoàn cảnh, mà dùng tri kiến thuyết pháp tương ứng. Phải vì tâm đại bi, vì nhớ nghĩ đền ơn Phật, vì mong muốn ba ngôi Tam bảo thường hằng mà thuyết pháp Đại thừa”. Khi Duy Ma nói pháp xong, tám trăm cư sĩ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác.

Phật liền bảo Ca Diếp đến thăm bệnh Duy Ma. Ca Diếp bạch Phật ông không dám đến thăm Duy Ma. Vì nhớ lại trước kia, khi ông khất thực xóm nghèo, Duy Ma chợt đến nói với ông: "Này Ca Diếp, lúc khất thực, ông nên thể hiện lòng Từ bi bình đẳng. Không phải chỉ quan tâm đến nhà nghèo mà bỏ nhà giàu. Đi khất thực không phải vì ăn, không nên lựa chọn xóm làng để khất thực, không phân biệt ngon dở để ăn. Nên biết các pháp tướng như ảo hóa… Này Ca Diếp, nếu hành giả có thể dùng tướng tà để đi vào chánh pháp, đem một bữa cơm mà bố thí cho tất cả, làm được như vậy rồi mới nên ăn. Người ăn như vậy, chẳng phải có phiền não, chẳng phải lìa phiền não, chẳng phải trụ thế gian, chẳng phải trụ Niết bàn, v.v… Đó là vào Phật đạo một cách chánh trực, chẳng nương theo Thanh văn. Ca Diếp, nếu ăn như vậy không uổng của người ta thí”. Lúc Duy Ma Cật nói, ông tỏ ngộ được điều chưa từng có. Từ ấy đến nay, ông không đem hạnh Thanh văn, Bích chi Phật để dạy người.

Phật bảo Tu Bồ Đề đến thăm bệnh Duy Ma. Tu Bồ Đề cũng không dám đi, vì ông nhớ lại thuở trước vào nhà Duy Ma khất thực. Duy Ma lấy bát của ông đựng đầy cơm rồi nói với Tu Bồ Đề: "Thưa Tu Bồ Đề, đối với cơm bình đẳng, thì các pháp cũng bình đẳng. Đi khất thực như thế, mới nên nhận món ăn. Như Tu Bồ Đề không trừ dâm, nộ, si, cũng không chung cùng với nó. Không dứt si ái sanh ra giải thoát, không phải phàm phu, cũng không phải rời phàm phu, v.v… Tuy làm được tất cả pháp, mà rời tướng các pháp, như thế mới nên lấy món ăn. Tu Bồ Đề, nếu ngài vào nơi tà kiến không đến bờ giác, ở nơi tám nạn không được khỏi nạn… Những kẻ thí cho ngài chẳng gọi phước điền, những kẻ cúng dường cho ngài đọa vào ba đường ác, ngài cùng với ma nắm tay nhau làm bạn lữ, v.v… Đối với chúng sanh mà có lòng oán hận, khinh báng Phật, chê bai pháp, không vào chúng Tăng, hoàn toàn không được diệt độ. Nếu ngài được như thế mới nên lấy món ăn”.

Ông nghe lời ấy, mờ mịt không biết là nói gì, cũng không biết lấy lời chi đáp lại. Ông để bát lại, muốn ra khỏi nhà Duy Ma. Duy Ma Cật liền nói: "Thưa Tu Bồ Đề, ngài cứ mang bát đi, đừng sợ. Ý ngài nghĩ sao. Như Phật biến ra một người huyễn hóa và nếu người huyễn hóa đó đem việc này hỏi ngài, lúc ấy ngài có sợ chăng”. Tu Bồ Đề đáp: "Không sợ”. Duy Ma Cật lại nói: "Tất cả pháp như tướng huyễn hóa, ngài không nên có tâm sợ sệt. Tất cả lời nói năng không lìa tướng huyễn hóa, cho đến người trí chấp văn tự, nên không sợ. Tánh của văn tự là xa lìa, thực không có văn tự, đó là giải thoát”. Khi Duy Ma nói pháp ấy, hai trăm Thiên tử được pháp nhãn thanh tịnh.

Phật bảo Phú Lâu Na đến thăm bệnh Duy Ma. Phú Lâu Na bạch Phật không dám thăm bệnh Duy Ma, vì nhớ lại trước kia, ở trong rừng nói pháp cho Tỳ kheo mới học. Duy Ma Cật đến bảo ông: "Thưa Phú Lâu Na, ngài nên nhập định để quan sát tâm địa của những người này rồi sau mới nên nói pháp. Ngài chớ nên đem món ăn dơ để trong bát báu, phải biết rõ tâm niệm của các Tỳ kheo này, chớ cho ngọc lưu ly đồng với thủy tinh. Ngài không biết được căn tánh của chúng sanh, chớ nên dùng pháp Tiểu thừa mà dạy họ. Những người kia tự không có tỳ vết, họ muốn đi đường lớn, chớ chỉ lối nhỏ. Ngài chớ nên đem biển lớn để vào dấu chân trâu, chớ cho ánh sáng mặt trời đồng với lửa đom đóm, v.v… Ngài Phú Lâu Na, những Tỳ kheo này đã phát tâm Đại thừa từ lâu, giữa chừng bị quên. Nay tại sao lại lấy pháp Tiểu thừa dạy họ”.

Lúc ấy, Duy Ma Cật nhập tam muội, làm cho những Tỳ kheo đó biết được kiếp trước của họ đã từng ở nơi năm trăm Đức Phật vun trồng cội lành, hồi hướng đạo Vô thượng Chánh đẳng giác. Liền đó, các vị ấy bừng sáng, phát tâm Đại thừa trở lại và đảnh lễ Duy Ma.

Phật bảo Ma ha Ca Chiên Diên đến thăm bệnh Duy Ma. Ca Chiên Diên cũng từ chối, vì nhớ lại lúc trước, Phật nói lược qua yếu chỉ các pháp cho Tỳ kheo nghe. Sau đó, Ca Chiên Diên nói lại nghĩa ấy là những nghĩa vô thường, khổ, không, vô ngã và tịch diệt.

Lúc đó, Duy Ma Cật đến nói với ông: "Thưa ngài Ca Chiên Diên, ngài chớ đem tâm hạnh sanh diệt mà nói pháp tịch diệt. Các pháp rốt ráo không sanh, không diệt là nghĩa vô thường. Năm ấm rỗng không, không chỗ khởi, nghĩa là khổ. Các pháp rốt ráo, không có nghĩa, là Không. Ngã và vô ngã không hai, là nghĩa vô ngã. Pháp trước không sanh, nay cũng không diệt, là nghĩa tịch diệt”. Khi Duy Ma nói xong, các Tỳ kheo được giải thoát.

Phật bảo A Na Luật đến thăm Duy Ma. Ông cũng từ chối. Vì nhớ lại lúc trước ông đi kinh hành, có vị Phạm vương tên Nghiêm Tịnh cùng với một muôn Phạm vương khác phóng ánh sáng trong sạch đến chỗ ông và cúi đầu làm lễ hỏi rằng: "Thưa ngài, thiên nhãn của ngài thấy xa được bao nhiêu”. Ông đáp: "Tôi thấy cõi tam thiên đại thiên thế giới của Phật Thích Ca Mâu Ni như thấy trái cam trong bàn tay”.

Lúc đó, Duy Ma đến nói với ông: "Thưa A Na Luật, thiên nhãn của ngài thấy là do tạo tác hay không tạo tác. Nếu nó là tướng tạo tác, thì không khác gì ngũ thông của ngoại đạo. Nếu nó là tướng không tạo tác, tức là vô vi, thì lẽ ra không thấy”. Lúc ấy, ông im lặng, các Phạm Thiên nghe Duy Ma nói được điều chưa từng có liền làm lễ, hỏi ngài rằng trong đời ai là người có chơn thiên nhãn. Duy Ma đáp có Phật Thế Tôn được chơn thiên nhãn thấy suốt cõi Phật không có hai tướng. Khi ấy Nghiêm Tịnh Phạm vương và năm trăm Phạm vương phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác, đảnh lễ Duy Ma rồi biến mất.

Kế đến, Phật bảo Ưu Ba Ly đi thăm bệnh Duy Ma. Ông cũng từ chối, vì nhớ lại ngày trước có hai Tỳ kheo phạm luật, không dám hỏi Phật, đến hỏi Ưu Ba Ly. Ông liền y theo pháp giải nói cho hai vị ấy. Bấy giờ, Duy Ma đến nói với ông: "Thưa ngài, ngài chớ nên kết thêm tội cho hai vị Tỳ kheo này, chớ nên làm rối loạn lòng họ, vì tội tánh kia không ở trong, không ở ngoài, không ở giữa. Như lời Phật nói rằng tâm nhơ nên chúng sanh nhơ, tam sạch nên chúng sanh sạch. Tâm cũng không ở trong, ở ngoài, ở giữa. Tâm như thế nào, tội cấu cũng như thế ấy. Các pháp cũng thế, không ra ngoài chơn như. Như ngài Ưu Ba Ly khi tâm tướng được giải thoát thì có tội cấu chăng. Ưu Ba Ly đáp Không”. Duy Ma Cật nói tất cả chúng sanh tâm tướng không nhơ cũng như thế, thưa ngài Ưu Ba Ly. Vọng tưởng là nhơ, không chấp ngã là sạch, v.v… Tất cả pháp không diệt không dừng, như huyễn, như chớp, như chiêm bao, như nắng dợn, như trăng dưới nước, v.v… Người nào biết nghĩa này là giữ luật. Khi ấy hai vị Tỳ kheo dứt hết nghi hối, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác và phát nguyện rằng: "Nguyện làm cho tất cả chúng sanh đều được biện tài như ngài Duy Ma”.

Kế tiếp Phật bảo La Hầu La đi thăm Duy Ma. La Hầu La bạch Phật không dám đến thăm bệnh Duy Ma. Vì nhớ lúc trước con của các trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly đến chỗ ông cúi đầu làm lễ hỏi rằng: "Thưa ngài La Hầu La, ngài là con của Phật, vì đạo bỏ ngôi Chuyển luân Thánh vương mà xuất gia. Việc xuất gia đó có lợi ích gì”. Ông liền theo pháp mà nói sự ích lợi của công đức xuất gia. Lúc đó, Duy Ma đến nói với ông rằng: "Ngài không nên nói cái lợi của công đức xuất gia vì không lợi, không công đức mới thực là xuất gia. Về pháp hữu vi, có thể nói là có lợi có công đức. Còn xuất gia là pháp vô vi, trong pháp vô vi không lợi, không công đức. Vả chăng xuất gia là ly sáu mươi hai kiến chấp, ở Niết bàn là chỗ nhận của người trí, chỗ làm của bậc Thánh, hàng phục các ma, khỏi ngũ đạo, sạch ngũ nhãn, v.v…, vượt khỏi giả danh, không bị ràng buộc, không ngã sở, tùy Thiền định rời các lỗi. Nếu được như thế mới thực là xuất gia”.

Khi ấy, Duy Ma bảo các con của trưởng giả: "Các ông ở trong chánh pháp nên cùng nhau xuất gia, vì Phật ra đời khó gặp”. Các con của trưởng giả nói: "Chúng tôi nghe Phật dạy nếu cha mẹ không cho, không được xuất gia”. Duy Ma đáp: "Phải, nếu các ông phát tâm Vô thượng Bồ đề, đó chính là xuất gia đầy đủ giới pháp”. Lúc ấy, ba mươi hai người con của trưởng giả đều phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Kế tiếp Phật dạy ngài A Nan đi thăm bệnh Duy Ma. A Nan từ chối, vì nhớ lại lúc trước Thế Tôn có bệnh phải dùng sữa bò, nên ông cầm bát đứng trước cửa nhà Bà la môn. Duy Ma đến hỏi ông: "Này A Nan, làm gì cầm bát đứng sớm thế”. A Nan đáp rằng: "Thế Tôn bệnh, nên tôi đi xin sữa”. Duy Ma nói với A Nan rằng: "Ngài A Nan chớ nói lời ấy, thân Như Lai là thể Kim cang, các ác đã dứt, các lành đầy đủ, còn có bệnh gì, còn có não gì. Chuyển luân Thánh vương có ít phước báu còn không tật bệnh, huống chi Như Lai phước báu nhiều hơn tất cả, làm sao có bệnh được. Chớ làm cho hàng ngoại đạo nghe lời ấy sẽ nghĩ rằng Phật là Thầy, bệnh mình không cứu nổi mà cứu được bệnh người khác ư. Phải biết thân Như Lai chính là Pháp thân, không phải thân tư dục. Thân Phật là thân vô lậu, vô vi… Thân như thế, còn có bệnh gì”.

Lúc đó, A Nan quá hổ thẹn, tự nghĩ ông gần Phật không lẽ nghe lầm. Ông liền nghe trên hư không có tiếng nói rằng: "A Nan, đúng như lời cư sĩ nói, chỉ vì Phật hiện thân ở đời ác ngũ trược, nên hiện ra việc ấy để độ thoát chúng sanh. A Nan, hãy đi lấy sữa, chớ có thẹn”.

Như vậy, năm trăm vị đại đệ tử lần lượt mỗi người đều trình bày với Phật duyên cớ của mình. Vị nào cũng khen ngợi Duy Ma và đều nói không dám đến thăm bệnh ngài.

II. GIẢI THÍCH

Pháp môn tu học của Phật nhiều vô lượng, thường được biểu thị bằng con số tám mươi bốn ngàn pháp tu đe đối trị tám mươi bốn ngàn phiền não trần lao của chúng sanh. Tuy nhiên, tựu trung lại, các pháp này đều thuộc hai hệ tư tưởng là hệ Thanh văn (Tiểu thừa) và hệ Bồ tát (Đại thừa).

Phật nói pháp tu tiêu cực cho hàng Thanh văn, nhằm đối trị tâm trạng bất mãn chán đời của Sa môn ở xã hội Ấn Độ thời bấy giờ đang đặt dưới sự cai trị khắc nghiệt của Bà la môn. Phật nương theo tâm niệm chán nản, buông trôi này, dần dần giáo hóa họ. Ngài truyền cho họ tri thức xây dựng trên pháp Tứ đế và được hàng Sa môn chấp nhập triển khai thành hệ thống giáo lý Tiểu thừa yếm thế tiêu cực.

Hàng Thanh văn tu tiêu cực, lấy lợi mình làm chính, chỉ lo phát triển bản thân ra khỏi luân hồi, còn sự đau khổ của người, họ không màng tới. Đối với người căn tánh thấp kém, đạo đức trí tuệ không đủ để thực hiện những việc lợi ích cho người, Phật dạy họ pháp nhỏ của Thanh văn, là điều hợp lý tất yếu.

Mọi sự bài bác Tiểu thừa đều lạc vào sai lầm; vì người còn đầy nghiệp chướng phiền não, cho tiếp cận cuộc đời sớm, phiền não sanh, thì họ không thể thấy đạo. Với khả năng nhỏ bé, ta lại tròng thêm trách nhiệm cho họ, chẳng những không tự cứu được còn làm họ đọa thêm.

Trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy đối với chúng này, Ngài chỉ có một mục đích duy nhất làm cho họ xa rời sự chấp trước. Họ phải tu pháp phương tiện để lần hồi dẫn đến chân thật.

Phương tiện của hàng Thanh văn là bỏ ồn ào tìm yên tĩnh, bỏ Ta bà tìm Cực lạc. Phải định rõ hai thế giới là đời khổ và tu hành giải thoát, nhằm mục tiêu kéo họ ra khỏi phiền muộn thế gian, không làm thân với người đời. Trong quá trình tu học của tôi cũng vậy. Ở giai đoạn đầu, ngày tháng miệt mài tụng kinh nghe pháp, suy nghĩ lời Phật dạy, trầm mình trong giáo lý Như Lai. Chuyện hơn thua phiền não thế gian không còn xâm phạm lòng tôi. Từ bản tâm thanh tịnh đó, trí tuệ mới bừng sáng để tiến sang bước thứ hai của lộ trình Bồ tát.

Ở giai đoạn một, hàng Thanh văn tiến tu nghe pháp. Sau một thời gian, màu đạo đã nhuộm thắm tâm hồn, họ trở thành người giải thoát thực. Tuy vẫn sống trên cuộc đời, nhưng đã thoát khỏi buồn phiền của cuộc đời, tâm chấp trước rũ sạch, tri thức và đạo đức vượt hơn người. Lúc ấy, họ nhìn đời với đôi mắt không giống như xưa. Nhìn ra xã hội thấy khổ đau vì chấp trước, phiền lụy của người, là dĩ vãng mà Thanh văn từng trải qua. Các ngài mới khởi lòng Từ bi thân cận với người, để giáo hóa dìu dắt họ, giống như Phật đã sống gần gũi các ngài, dần dần đưa các ngài ra khỏi Nhà lửa tam giới. Đến giai đoạn này, Phật chuyển tư tưởng củaThanh văn tiêu cực yếm thế sang tích cực nhập thế, làm sáng đẹp cuộc đời theo Bồ tát đạo.

Phật giáo Việt Nam tiếp thu hệ tư tưởng Đại thừa, sản sanh ra các vị danh Tăng, hay Thiền sư lỗi lạc, hiến dâng cuộc đời phụng sự cho xã hội. Điển hình như Vạn Hạnh hay Tuệ Tĩnh Thiền sư. Tuy các ngài đã tắt lửa lòng mà còn chen vào chốn bụi hồng để độ sanh. Các ngài đầy đủ khả năng tự độ, dấn thân vào đời bằng tâm thương người cứu người. Hội nhập với đời, nhưng không bị cuộc đời thiêu đốt, là đóa sen vươn lên thơm ngát giữa chốn bùn nhơ. Còn bước vào đời với đầy đủ tham sân phiền não, làm trò cuời cho thế gian, chắc chắn không phải là đệ tử Phật.

Phẩm này được ngài La Thập dịch là đệ tử, Ngài Huyền Trang dịch là Thanh văn. Theo tôi, dùng danh từ Thanh văn chính xác hơn. Vì đệ tử Phật để chỉ hai hạng người là Thanh văn và Bồ tát. Các bộ kinh trước kinh Duy Ma phân ra Tam thừa giáo gồm Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thừa là ba con đường đi đến ba mục đích khác nhau. Vì tu ba nhân khác nên đưa đến ba quả khác. Tu Thanh văn thừa thành La hán, tu Duyên giác thừa thành Bích chi Phật và tu Bồ tát thừa thành Phật.

Nhưng từ kinh Duy Ma trở lên, triển khai Nhất thừa. Nhận thức của ba bộ kinh là Duy Ma, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa cho rằng tuy Tam thừa nhân nhưng là Nhất thừa quả. Vì trình độ tu chứng khác, nên phân có ba, nhưng cứu cánh là một. Ba này là ba chặng đường tiến tu của chúng ta từ Thanh văn đến Bích chi Phật, Bồ tát và cuối cùng đồng quy Nhất thừa, ai cũng thành Phật.

Mở đầu phẩm, Duy Ma thầm nghĩ ông bệnh, lẽ nào Đức Thế Tôn có tâm từ lớn, lại không đến thăm. Phần mở đầu gợi cho chúng ta ý thức phải chăng những người xuất gia cắt đứt quan hệ gia đình, thân thuộc và không dính líu thế gian để hướng tâm đến giải thoát.

Không! Chủ trương không dính líu cuộc đời hoàn toàn xa lạ đối với giáo lý đạo Phật. Phật dạy người xuất gia "Trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ” để đả phá tư tưởng không liên hệ với cuộc đời.

Dưới kiến giải của Duy Ma, người xuất gia phải liên hệ với cuộc đời ở mặt nào và không liên hệ ở mặt nào. Liên hệ y hệt như đời không phải là Sa môn Thích tử. Không quan tâm đến nhân sinh cũng không phải là đệ tử Phật.

Theo tôi, chúng ta chỉ để tâm đến sinh hoạt nào mà xã hội chấp nhận được, nhưng vẫn không trái đạo Vô thượng. Quá trình gắn bó của đạo Phật trên mảnh đất quê hương này hơn hai ngàn năm là bằng chứng lịch sử hiển nhiên cho thấy sự đóng góp của giới tu hành cho sự sinh tồn của đất nước. Và tất nhiên quan niệm người tu tự cắt đứt mối liên hệ với đời như bong bóng bay trong hư không hoàn toàn sai lầm.

Khi Duy Ma khởi lên ý tưởng đó, Phật đã biết. Điều này gợi ý rằng dù hành giả tu thanh tịnh ở chỗ vắng, cách ly thế gian, nhưng mọi việc xảy ra không qua mắt ta được. Đó mới thực là đệ tử Phật.

Về phương diện học thuật, kinh này kiết tập sau Phật Niết bàn một trăm năm đến bốn trăm năm. Trong thời gian này, chắc chắn có một số tu sĩ hiểu lầm tư tưởng xuất thế của đạo Phật, nên mang tâm niệm không biết gì thế gian. Kinh Duy Ma đặt lại vấn đề nhận thức xuất thế một cách khéo hơn, diễn tả qua hình ảnh Phật không ở gần Duy Ma, nhưng chỉ một khởi niệm của Duy Ma, Ngài đã bắt gặp. Nói cách khác, tuy Phật là bậc xuất thế đã ra khỏi ba cõi, nhưng có việc gì trên cuộc đời mà Ngài không giải quyết tốt đẹp. Vì vậy, Ngài mới được tôn làm bậc Thầy của trời người.

Phật tiếp nhận ý của Duy Ma nhưng không trực tiếp thăm bệnh Duy Ma, mà gọi mười đại đệ tử đến thăm. Theo tôi, việc Đức Phật bảo mười đệ tử đến thăm Duy Ma có thật hay không, chúng ta gác qua một bên.

Tôi nghĩ rằng kinh Duy Ma kiết tập sau Phật Niết bàn, hình thành ý thức trách nhiệm của Đại chúng bộ khác hẳn ý tưởng xuất ly của Thượng tọa bộ. Với kiến giải của Đại chúng bộ, Phật là người cứu khổ, Ngài không còn trên cuộc đời. Ngài không trực tiếp cứu, nhưng ủy thác việc này cho chư Tăng thay Phật đến với mọi người, được diễn tả bằng sự kiện Phật gọi mười đại đệ tử thăm bệnh Duy Ma.

Đệ tử Phật thay Phật thăm bệnh Duy Ma mang ý nghĩa chúng ta gánh vác trọng trách giải quyết vấn đề đau khổ của trần thế. Muốn giải quyết, hành giả phải nương theo Pháp bảo Như Lai và sử dụng thích hợp để cứu lành bệnh nhân gian.

Vấn đề quan trọng ở điểm hành giả đừng sử dụng sai thuốc. Kinh Pháp Hoa thí dụ lương y đi xa, các con ở nhà uống lầm thuốc, sanh bệnh. Có người mất bản tâm, có người còn bản tâm, ngầm chỉ cho Phật là đại lương y chữa lành tất cả bệnh; nhưng đệ tử không sử dụng được kho tàng Như Lai để lại, uống lầm thuốc, thành bệnh.

Bệnh này là mối tranh chấp giữa Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Theo tinh thần Duy Ma, đệ tử Phật hoặc là người đã trong sạch hoàn toàn hoặc là người còn lỗi lầm, nhưng biết sửa chữa. Đại chúng bộ mang tinh thần cầu tiến, chịu sửa đổi, tượng trưng cho những đứa con bệnh nhưng còn bản tâm, biết tìm nghĩa lý ẩn chứa bên trong giáo pháp để tu. Điều này đối lại với hình ảnh Thượng tọa bộ cứ mãi đóng khuôn, thần thánh hóa mình, có sai lầm mà không dám nhận, tiêu biểu cho những đứa con mất bản tâm, chỉ kế thừa giáo lý Phật theo hình thức, không chịu hiểu nghĩa sâu xa bên trong.

Kinh Duy Ma đưa ra mười đệ tử sử dụng giáo lý Phật không đúng chỗ, nên không chữa lành bệnh Duy Ma, bị Duy Ma xem thường, quở trách. Điều này gợi cho hành giả ý thức trách nhiệm mà Phật ủy thác. Chúng ta phải đem giáo lý trang trải cho đời tươi đẹp, nhưng nếu không làm tươi mát được, mà để cuộc đời khinh dể, chúng ta đã phạm tội phỉ báng Phật.

Kinh Duy Ma mượn hình ảnh mười đệ tử phạm lỗi lầm để kiểm điểm lại giáo lý Tiểu thừa và việc tu hành của chúng Tăng, làm thềm thang phát triển.

Theo chân tinh thần Duy Ma, hành giả học, suy nghĩ và ứng dụng giáo lý Phật suốt đời; đến khi thấu triệt nguồn tâm mới xong việc. Chưa thành Phật, hành giả còn sai sót đối với giáo lý Phật, còn nhiều vấn đề đặt ra cho chúng ta liên tục từ đời này sang kiếp khác vậy.

Phật ủy thác mười Thanh văn đến thăm bệnh Duy Ma, hay đó là sáu vấn đề quan trọng đặt ra cho chúng ta, khi tu hành phải ứng dụng triển khai cách nào cho lợi lạc bản thân và sáng đẹp cuộc đời.

Vấn đề 1: Tu Thiền

Vấn đề 2: Thuyết pháp

Vấn đề 3: Khất thực

Vấn đề 4: Giữ giới

Vấn đề 5: Xuất gia

Vấn đề 6: Hiểu thế nào về Đức Phật.

Phẩm Thanh văn của kinh Duy Ma không tấn công Tỳ kheo, chỉ muốn chỉnh lý sự nhận thức sai lầm của họ. Phẩm này đơn cử mười đại đệ tử tiêu biểu cho toàn thể chúng Thanh văn gồm năm trăm A la hán hay một ngàn hai trăm năm mươi vị thường tùy với Phật.

Kinh Duy Ma đưa ra lỗi lầm của mười đệ tử kiểu mẫu trên bước đường tu làm tấm gương cho ta soi bóng. Các ngài là những người lãnh đạo xuất chúng, nhưng vẫn còn sai lầm, huống chi chúng ta. Tuy nhiên, hàng A la hán nhờ gặp khó khăn, vấp phải lỗi lầm, vượt qua được những thử thách, mới trưởng thành trên bước đường tu hành.

Trong phần chuyển mạch từ Tiểu thừa sang Đại thừa, Phật dùng phương tiện giáo hóa bằng cách tạo điều kiện thử thách. Ngài sắp xếp cho các đệ tử chạm trán với đời, để họ tự rèn luyện, điều chỉnh bản tâm. Và sau này, gặp cạm bẫy thật, họ sẽ biết cách đối phó, không bị sa lầy.

Tất cả đệ tử Phật từ khi bắt đầu tiếp xúc cuộc đời, vào đời độ sanh, gặp ngay một đối kháng tiêu biểu là Duy Ma. Duy Ma hiện hữu như một đối tượng đầu tiên đập vào mắt, ghim vào tim của A la hán. Nhờ đó, các ngài thăng hoa trên bước đường hành đạo.

Trước tiên, vị đệ tử đứng đầu cho đăng tràng mổ xẻ là Xá Lợi Phất, nghĩa là lựa người giỏi nhất đem phê phán. Xá Lợi Phất là người đã tỏ ngộ Thiền đăng, tâm sáng, trở thành trí tuệ bậc nhất trong hàng La hán. Trong kinh Pháp Hoa, Phật cho biết trước kia Xá Lợi Phất đã tu đạo Bồ tát, mà nay hiện thân trong chúng Thanh văn. Xá Lợi Phất nhờ có quá trình tu sáu mươi tiểu kiếp, hiện đời ngài có bẩm tính thông minh gọi là yếu tố Bồ đề. Xá Lợi Phất đắc đạo chứng qua La hán là ngộ quá trình sáu tiểu kiếp tu hành của ngài. Cốt lõi ngài là La hán, không phải cốt lõi là Phật, nên ngộ lại bản lai diện mục của ngài là La hán. Trong khi đó, Thích Ca thành Phật từ ngũ bách ức trần, cốt lõi là Phật, nên sanh lại nhân gian bị ngũ ấm bao che, nhưng tọa Thiền biết được Ngài là Phật.

Trên bước đường tu, cốt lõi của hành giả như thế nào, thì ngộ đến đó. Và bắt đầu từ vị trí này, hành giả tiến tu, đắc đạo, không thể vay mượn của người khác tu được. Việc tu chủ yếu là ngộ đạo, nghĩa là việc tu không quan trọng nhưng quan trọng là ngộ. Ngộ được Thiền cơ thì thân là Phật, khẩu là Pháp, tâm là Thiền. Hành giả tu suốt đời không ngộ, coi như bỏ. Ví như cọ cây cốt yếu để lấy lửa, việc cọ cây không phải là chánh.

Pháp môn tu Thiền khó nhất, nên mượn Xá Lợi Phất làm điển hình cho bậc thượng căn thượng trí còn vấp phải sai lầm. Kinh Duy Ma quở trách sự sai lầm của Xá Lợi Phất. Nhưng đối với chúng ta, còn vướng trăm ngàn sai trái khác, chưa đến gần sai lầm của Xá Lợi Phất đâu!

Duy Ma chỉ trích Xá Lợi Phất ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây như vậy có phải là Thiền không, Thiền như Xá Lợi Phất còn cách trí tuệ Phật xa lắm, v.v…

Qua câu chuyện chất vấn của Duy Ma với Xá Lợi Phất gợi cho hành giả sự nhận thức thế nào là tu Thiền. Thiền không phát xuất từ đạo Phật. Nó có từ khi loài người biết suy tư. Nhưng chính Phật là người chỉnh lý vấn đề suy tư, để hình thành những nét độc đáo của Thiền theo Phật.

Thiền là tĩnh lự, nghĩa là sự hiểu biết nằm trong trạng thái yên tĩnh gọi là siêu thức, khác với sự hiểu biết qua ý thức của thế gian. Thiền định của Phật giáo khác với Thiền định của Kỳ Na giáo gọi là phái Yoga (Du Già), vì phái này chỉ cốt rèn luyện cơ thể khỏe mạnh và tâm không buồn phiền đau khổ.

Thiền của ngoại đạo mang lại cho người hành Thiền cơ thể khỏe mạnh và tâm hồn bình ổn, mà Đức Phật còn cho là thấp. Ngài dạy chúng ta nâng cấp, tiến đến Bồ tát Thiền hay Như Lai Thiền giải quyết lợi lạc cho đời, mới thực sự là pháp Thiền của Phật.

Trái lại, ngày nay chúng ta tu Thiền, đem so với Thiền ngoại đạo còn thua xa. Vì chúng ta hành Thiền để trở thành bệnh, thành khổ, thành loạn trí. Chính do tu Thiền sai pháp của những đệ tử Phật đã làm đạo Phật bị mất dạng trên đất Ấn Độ, để cho phái Yoga phát triển mạnh đến ngày nay. Sự thật lịch sử đã chứng minh điều này.

Thiền của Phật giúp chúng ta có tâm hồn yên tĩnh, sáng suốt để giải quyết mọi việc đúng đắn tốt đẹp nhất. Vì thế, Duy Ma đề cao tâm chứng Thiền phát xuất từ sinh hoạt nội tâm và bác bỏ Thiền hình thức.

Trên tinh thần thừa kế sự nghiệp của Phật, Trí Giả đại sư triển khai thành hai mươi lăm phương tiện, hay hai mươi lăm điều kiện cần phải có của người muốn bước vào thế giới Thiền. Chưa hội đủ điều kiện thiết yếu này, hành Thiền nhất định không đắc đạo. Ví như người muốn làm bánh phải chuẩn bị bột đường. Vơi hai mươi lăm phương tiện, ngài Thiên Thai dạy phương pháp chuẩn bị trước khi vào Thiền, giúp hành giả tránh được tất cả bệnh và không bị nhiễm độc tinh thần, trở thành người sáng suốt trên cuộc đời. Từ đó, lần triển khai thành Thiền của Huệ Năng, gánh nước bửa củi cũng là Thiền. Nói cách khác, đó là những phương tiện đạt đến bản tâm thanh tịnh. Hình ảnh Huệ Năng gánh nước trước khi làm Tổ gợi chúng ta nhớ đến thí dụ cao nguyên đào giếng trong kinh Pháp Hoa. Tri kiến Như Lai của chúng ta bị thân ngũ uẩn bao bọc. Chỉ còn dùng cách "Đào giếng”, chịu cực đào sâu xuống lòng đất để lấy nước, hay đào sâu tận cùng tâm mình mà ngộ được Thiền cơ, bắt gặp bản tâm thanh tịnh. Dùng tâm thanh tịnh này trang trải cho đại chúng. Càng giúp người, tâm hành giả càng sáng, giống như càng lấy nước, nước càng trong, không bao giờ cạn. Tâm Huệ Năng cứ trong lần, đạo cứ hiện ra là phương tiện thứ nhất mà ngài tu hành.

Ngoài công việc gánh nước, Huệ Năng còn bửa củi. Điều này khiến chúng ta hình dung vấn đề chẻ ngũ uẩn thân thành từng mảnh vụn để tìm tinh ba bên trong. Chẻ hết cây này đến cây kia, có khác gì trong kiếp luân hồi, hành giả chẻ hoài tìm mãi. Tìm cái đẹp trong thân mình, trong chúng sanh, tìm hoa trong lòng, tìm Phật trong tâm. Đến khi bừng ngộ, hoa lòng vụt nở. Công tác chẻ củi phục vụ đại chúng của Huệ Năng trở thành pháp tu Thiền.

Chẳng những bửa củi gánh nước, ngài còn giã gạo. Vỏ tróc, gạo hiện, tiêu biểu cho pháp tu mài dũa tánh lâu ngày trở thành trong sáng, được ngưỡng mộ là bậc đức hạnh trên cuộc đời.

Sau một thời gian Huệ Năng gánh nước bửa củi giã gạo, nghĩa là ngài trải qua quá trình tu ba mươi bảy Phẩm trợ đạo, nghiệp trần đã hết, tâm trắng sạch như hạt gạo trong cối. Lúc ấy, Tổ Huỳnh Mai mới đến với ngài. Ý này nhắc nhở rằng trên bước đường tu, Phật chỉ đến khi tâm chúng ta hoàn toàn lắng trong.

Tổ hỏi Huệ Năng gạo trắng chưa. Ngài trả lời trắng rồi, nhưng chưa sàng. Điều này mang ý nghĩa khi tu, hành giả cần gặp những nghịch duyên để sàng lọc lần cuối. Chúng ta thường nói là "bị Tổ trác”. Nhiều lúc tưởng mình tu lâu, lòng đã thanh tịnh; nhưng có những quả đấm bất ngờ làm cho lòng sân hận tham muốn ùn ùn nổi lên. Phải có thử thách mới biết, hay "Vô ma khảo bất thành đại đạo”. Và thử thách thanh lọc cuối cùng mà Huệ Năng vượt qua, thể hiện bằng bài kệ ngộ đạo được Tổ ấn chứng.

Trải qua quá trình hoàn tất sự tu học của Tam thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, đã thành tựu pháp tu ba mươi bảy Phẩm trợ đạo, mười hai Nhân duyên, sáu pháp Ba la mật, hành giả mới đạt đến vô tác diệu lực của Như Lai, đó chính là đỉnh cao nhất của Thiền. Thiền Như Lai thể hiện dưới mọi dạng sinh hoạt làm lợi ích cho đời, tâm vẫn an nhiên tự tại, không hề dao động.

Ngày nay, Thiền phát triển cao độ trong nhân gian gọi là thế gian Thiền định. Ở Nhật Bản, các chánh khách, võ sĩ hay nói chung giới trí thức mỗi khi gặp việc khó khăn thường áp dụng Thiền để suy tư, cân nhắc, quán chiếu vào vấn đề. Nhờ tập trung tư tưởng, trí bừng sáng thấy rõ giải pháp tốt đẹp. Nếu mục tiêu của Thiền nhằm lợi ích cho nhân quần xã hội, thì đó là chánh định. Ngược lại, tập trung tư tưởng để tìm cách chinh phục hại người là thuộc tà định.

Tập trung tư tưởng đi vao thế giới diệt tận định; vì thế gian buồn phiền khổ lụy, phải xa lánh thực tế và rời bỏ cả trong tâm tưởng. Tất cả mọi việc trên cuộc đời không còn dính líu gì đến thân tâm là Thiền của ngoại đạo. Tìm gốc cây ngồi Thiền như những tu sĩ ngoại đạo yếm thế ngồi để quên đời. Duy Ma bảo như vậy đã rớt vào sai lầm lớn. Có khác nào người chết giả quên hết, để rồi trở thành người không biết gì. Giáo chủ Kỳ Na giáo ngồi Thiền vào định, năm trăm cỗ xe chạy ngang, không hay biết. Thiền Đông Độ gọi đây là ám chứng Thiền sư, đạt đến trạng thái thanh tịnh hoàn toàn không lợi ích gì.

Duy Ma nhắc nhở Xá Lợi Phất không nên dẫm chân vào con đường Thiền của ngoại đạo, tiêu hủy sự hiểu biết để thành khôi thân đoạn trí, mà lầm tưởng là đắc đạo giải thoát.

Phật dạy Thanh văn từ bỏ Thiền ngoại đạo để sống với Tam pháp ấn, một trạng thái tâm yên lặng, hoàn toàn hướng ve Phật đạo. An trú ba pháp là Không, vô tác, vô nguyện, nhưng những lời Phật dạy vẫn còn man mác trong lòng suởi ấm tâm hồn họ. Vì thế, tuy Sa môn không dính líu thế gian, nhưng khác ngoại đạo, là họ bỏ thú vui thế gian để được cái vui của Niết bàn. Đó là nguồn sống của hàng Nhị thừa, tạo thành thế giới quan an lành tách biệt thế giới đau khổ trên cuộc đời.

Hàng Thanh văn nghe pháp Phật xong, tập trung tư tưởng vào giáo lý Phật, để giáo lý bừng sáng trong lòng và phát triển khả năng hiểu biết của mình. Không phải ngồi yên rồi trở thành cây khô hay than nguội củi mục. Thanh văn Thiền hay Thiền thoại đầu đưa ra đề mục theo mẫu suy cứu có sẵn, lần hồi bước theo toàn bộ mẫu của Phật trở thành A la hán.

Thiền của Thanh văn bỏ động đi tìm tịnh. Xá Lợi Phất phải vào rừng nương cảnh trí yên tịnh khả dĩ tĩnh tâm, vì thành phố Tỳ Da Ly quá ồn ào. Duy Ma chỉ trích Xá Lợi Phất hành Thiền như thế còn cách Phật xa lắm. Xá Lợi Phất cũng chợt bừng tỉnh, cảm thấy sự hiểu biết của ngài và trí tuệ của Phật cách nhau vạn dặm.

Duy Ma gợi cho Xá Lợi Phất nhận thức về tịnh và động. Ngài nhắc Xá Lợi Phất Thiền không phải tránh chỗ ồn ào tìm nơi thanh tịnh. Thanh tịnh hay không chính cốt lõi ở tâm. Cảnh dù có yên tĩnh đến đâu, nhưng khi tâm động, khó mà Định được. Giống như Xá Lợi Phất vừa trải tọa cụ ngồi Thiền ở nơi thanh vắng, liền bị Duy Ma xuất hiện quấy phá. Xá Lợi Phất không thể vao Định nổi. Vì vậy, trước khi vào Thiền, chúng ta phải xóa những tiếp xúc bên ngoài trước, không cho bất cứ đối tượng nào chạm với năm giác quan của ta, để ý thức hoàn toàn yên tĩnh. Và khi điều chỉnh thân xong, ta vượt qua tầng ý thức và vô thức.

Duy Ma nhắc Xá Lợi Phất, vì tâm Xá Lợi Phất khởi ý niệm cư sĩ, Tỳ kheo, Như Lai, phân biệt cảnh ồn ào vắng lặng, nên những thứ này hiện lên. Nếu tâm Xá Lợi Phất không phân biệt nhân ngã, không khởi Nhị nguyên, tâm ngài tức thời yên tĩnh, pháp trần không tác động được.

Duy Ma cảnh giác Xá Lợi Phất không nên đi theo lối mòn bỏ động tìm tịnh của hàng sơ tâm học đạo, sẽ uổng phí cho người có trí tuệ như Xá Lợi Phất. Sự sai lầm của Xá Lợi Phất là sai lầm trong Thiền định, giữ ngài ở vị trí A la hán, không thành Phật. Ngài chỉ phát huệ một chiều nghĩa là huệ giới hạn, khác với Phật huệ vô cùng, có khả năng điều động toàn bộ Pháp giới.

Trước khi theo Phật, Xá Lợi Phất lý luận hay nhất, nhưng tranh luận cho người nghe sướng tai còn lòng mình thì tan nát. Về điểm này, học kinh nghiệm sống và hành đạo của Xá Lợi Phất, tôi giảng pháp liên tục, vẫn giữ tâm bình ổn, không để cho sanh khởi buồn phiền chán nản.

Xá Lợi Phất chọn con đường giải thoát, chấm dứt sự tranh chấp với đời, nhưng bị rớt qua cục bộ. Ngày tháng ung dung trong tịnh xá, không dính líu với cuộc đời, khất thực xong tìm chỗ ngồi Thiền. Lâu ngày như vậy, không còn biết gì đến sinh hoạt thế gian, Xá Lợi Phất đã từ thái cực tranh chấp với đời, rớt qua thái cực cách ly cuộc đời.

Bất chợt một hôm, ngài gặp Duy Ma. Điều này tiêu biểu cho sự giáp mặt với đời, vì thực tế cuộc sống chúng ta phải luôn đối diện, không trốn tránh được. Tâm yên tĩnh nương theo khung cảnh thanh tịnh, nếu có được cũng giới hạn và tạm thời, vì sự tồn tại của hành giả trong lòng xã hội không thể cắt bỏ, nên kinh Pháp Hoa ví như cái đuôi của con trâu dính liền với nó.

Chạm trán với thực tế, giải quyết ổn thỏa mới có Niết bàn thực sự. Ngược lại, nhờ nương đạo lực của Phật, sống yên ổn chỉ là Niết bàn tạm, là Hóa thành. Sự yên tĩnh tạm bợ của Xá Lợi Phất cũng đáng ngại, không khéo lạc vào ngoại đạo Thiền, đưa đến diệt tận định, không nghe, không biết, không thấy cuộc đời, ai làm gì mặc ai. Ta yên tâm vì không quan tâm, khong phải nó không hiện hữu; trái lại, nó tồn tại tràn đầy tệ xấu. Ta như người đui điếc trong lúc xã hội không yên thì ta đồng với gỗ đá, khác nào người bị tiêm một mũi thuốc mê cũng trở thành bất giác. Tôi rất cảm thông với tâm trạng Xá Lợi Phất khi rời bỏ trạng thái tu đóng khung con người mình và đóng khung cả tư tưởng.

Phật dạy tĩnh tâm để chúng ta không bị trần cảnh chi phối, không khởi tâm động niệm, buồn phiền giống như ngoại đạo nhập diệt tận định. Tuy nhiên, khác ngoại đạo ở điểm dù lòng không vướng bận chuyện thế gian, đệ tử Phật vẫn thể hiện được oai nghi đầy đủ. Người đời nhìn thấy oai nghi nào của hành giả cũng phát tâm, làm biểu tượng tốt cho đời, làm mô phạm cho người noi theo. Bước đúng lộ trình này mới thực là người tu chánh định.

Trong hàng đệ tử Phật, chúng ta còn nhớ Mã Thắng đã thể hiện mẫu người an trụ chánh định. Theo lời Phật dạy, ngài đến độ Xá Lợi Phất, chỉ bằng sự im lặng mà ngài tác động cho Xá Lợi Phất chứng Sơ quả Tu đà hoàn. Thiền Tứ Niệm xứ của Mã Thắng dạy Xá Lợi Phất là như vậy đó, một người trầm mặc không lý luận làm cho một người chứng đạo. Từng phiền não của nhà hùng biện Xá Lợi Phất rơi rụng lần theo từng bước đi lặng lẽ của Mã Thắng và chỉ trên một đoạn đường, Xá Lợi Phất chứng sơ Thiền. Trong khi chúng ta ngày nay phần nhiều áp dụng Thiền hình thức; cho nên ngồi Thiền suốt đời mà không được gì.

Đến khi Xá Lợi Phất vừa gặp Phật, ngài liền chứng Lậu tận La hán. Những khổ tâm vì sự hiểu biết phải trái hơn thua đeo nặng tâm hồn ngài bỗng dưng được quét sạch. Lực tác động vô hình của Phật được kinh Pháp Hoa diễn tả rằng số người trí tuệ bằng Xá Lợi Phất có nhiều như lúa mè cũng không thể hiểu được.

Ơn lớn như trời biển của Thế Tôn mà Xá Lợi Phất cúi đầu xưng tán rằng dù trải qua vô số kiếp cũng không đền đáp được. Phải chăng đó là ơn của Phật tác động cho ngài trong một khoảnh khắc chớp mắt, từ nhà hùng biện đau khổ cùng cực trở thành người hoàn toàn giải thoát. Sau đó với tâm hồn an lạc thanh thản, Xá Lợi Phất đến rủ Mục Kiền Liên, đưa ngài về với Phật. Cả nhóm học trò của Mục Kiền Liên gồm hai trăm người cùng đến Lộc Uyển theo Phật lần lượt đắc Sơ quả.

Từ sự thật lịch sử này, chúng ta suy ra tìm thấy sự liên hệ bên trong giữa Phật và Thánh chúng mới thể hiện được ý nghĩa tôn giáo và đó mới là cứu cánh mà chúng ta cần đạt đến. Phật độ Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp… Nói chung, Ngài độ những ai có nhân duyên. Nhưng Phật dùng gì để độ và các đệ tử dùng pháp gì để tu, chứng được pháp gì. Những câu hỏi này chỉ có Phật giải đáp được.

Sau Niết bàn Tiểu thừa, hay pháp tu Thiền của Thanh văn, Duy Ma dạy pháp tu Thiền của Bồ tát, bắt đầu chỉnh đốn trở lại sự nhận thức. Bấy giờ, với tri thức đã qua màng lọc Phật pháp mà nhìn lại cuộc đời, thì sẽ mang kiến giải hoàn toàn khác biệt. Khi chưa tu thấy núi là núi, sông là sông. Đó là cái thấy của tham dục, của khổ. Và từ lòng thế gian đau khổ, hành giả rời bỏ cuộc đời, bước chân vào Phật đạo an trụ ba pháp là Không, vô tác, vô nguyện, hành giả cảm thấy an lành. Tuy đời đen tối, hành giả vẫn vui và an tĩnh, nên núi không còn là núi, sông không còn là sông. Xã hội không còn là đối tượng quan sát và khổ đau của cuộc đời không chi phối hành giả như trước khi vào đạo.

Nắm được bản đồ rồi, hành giả như pháp tu hành, tầm nhìn lại đổi khác, thấy núi vẫn là núi, sông vẫn là sông. Hành giả không sống trong ba pháp Không, vô tác, vô nguyện của Thanh văn nữa. Trái lại, dõi mắt vào lòng chúng sanh đau khổ, hành giả phát khởi tâm Bồ đề, cứu khổ ban vui cho chúng sanh. Bồ tát hành Thiền, tập trung tư tưởng để rọi qua cuộc đời bằng lăng kính Phật pháp, thấy sự thật của cuộc đời và giải quyết tất cả khó khăn cho chúng sanh. Tâm hành giả không rời Phật pháp, mà hành động trải khắp thế gian, lợi ích cho chúng hữu tình.

Tiêu biểu cho mẫu Bồ tát thực hành Thiền định đúng pháp là ngài Duy Ma. Duy Ma dấn thân khắp nẻo đường đời, nhưng không ai phủ nhận được sự hiểu biết vượt bực của ngài và việc làm của Duy Ma tương đồng với Phật. Duy Ma tuy thực hiện đầy đủ trách nhiệm ở thế gian, tâm vẫn trụ chánh định.

Bước theo lộ trình Thiền của Bồ tát, tâm Duy Ma hoàn toàn giải thoát, nhưng thể hiện được tất cả sinh hoạt thế gian. Tâm Duy Ma gắn liền với tâm Phật, hành động của Duy Ma là hành động của Phật. Vì vậy dù tiếp xúc, dạy dỗ mọi hạng người trong xã hội và làm tất cả mọi việc thế gian, những việc đó đều là Phật sự.

Không lúc nào tâm Duy Ma không thanh tịnh và rời giải thoát. Ngài không tu Thiền để chết lần về thế giới u tịch. Ngài vẫn tràn đầy sức sống trên thế gian, chuyển sanh tử thành Niết bàn. An trú trong Thiền định, vẫn hiện hữu trên cuộc đời, Duy Ma bước trên Bát Chánh đạo dưới dạng đại bi tâm, sửa đổi những sự sai lầm của Thanh văn, dìu dắt họ từ tâm niệm Tiểu thừa sang phát tâm Đại thừa.

Bồ tát làm mọi việc trên cuộc đời, nhưng tâm không rời Phật pháp. Ngài Duy Nhiên Thiền sư diễn tả ý này trong bài Sám Quy Mạng: "Bất xả Pháp giới biến nhập trần lao”. Hoặc trong kinh Pháp Hoa có nói "Nhứt thiết thế gian tư sanh sự nghiệp", cũng không ngoài ý thành tựu mọi việc làm trên nhân gian, tâm không rời Phật pháp, là thể hiện từ bi và trí tuệ của Phật.

Bồ tát Thiền được Trí Giả đại sư triển khai thành sáu hạnh là đi, đứng, nằm, ngồi, ăn và thuyết pháp, đều không rời chánh định. Một vị Thiền sư có nói: "Hành, trụ, tọa, ngọa diệc tham Thiền” mới thực là Thiền của đệ tử Phật, không cần phải ngồi yên. Thật vậy, Duy Ma chỉnh Xá Lợi Phất không cần ngồi yên. Khởi đầu tu, bỏ tâm phân biệt để đạt sự hiểu biết siêu ý thức. Đó là sự hiểu biết bao la, diệu vợi thuộc phần tu chứng nằm ngoài sự lạm bàn của ngôn ngữ phàm phu.

Thiền ngoại đạo ở diệt tận định không phát sanh trí tuệ. Bồ tát cũng trở lại trạng thái diệt tận định, nhưng rọi qua lăng kính Phật pháp tạo thành tác dụng khác. Từ đó, thể hiện đầy đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, nghĩa là nhìn ở khía cạnh nào, Phật cũng toàn vẹn. Không thể nói Phật không ở trong Thiền định. Trước kia, Ngài trụ Thiền định, ôm ấp quả vị tu chứng; nhưng Ngài nhìn thấy chúng sanh khổ đau trầm luân sanh tử, mới phát tâm đại bi cứu tất cả, mà vẫn không rời Thiền định. Ngài hiện hữu trên cuộc đời như mẫu người siêu việt.

Vì vậy, Thiền của Phật không phải là trạng thái mất sinh lực. Trái lại, Thiền tạo nên một sinh lực toàn diện tiến đến đỉnh cao chi phối, điều động cả vũ trụ. Như Lai Thiền hay Tối thượng thừa Thiền không ngồi, không đi, nhưng ở đâu Phật cũng hiện hữu. Ở trong hàng Thanh văn, Bồ tát, chư Thiên, hoặc ngay trong địa ngục, vẫn có Phật. Thiền Bồ tát dấn thân vào đời không bị ô nhiễm, khác với Thiền Nhị thừa. Không trụ Niết bàn, Bồ tát an nhiên hiện hữu khắp mọi nơi giáo hóa chúng sanh, tâm chơn như vẫn thường hằng bất biến.

Duy Ma gợi sáng cho Xá Lợi Phất về cách Thiền định đúng pháp. Tu Thiền để bỏ trí tuệ thế gian, có trí tuệ xuất thế gian và bỏ nếp sống nhỏ hẹp thay bằng tình thương bao phủ muôn loài, để có được tầm nhìn bao la, phóng khoáng. Gần thì thấy được nguyên tắc chi phối sự sống loài người và xa hơn, biết tất cả sinh hoạt của loài vô tình. Tùy theo trình độ tu chứng, tầm quan sát sự vật của chúng ta thay đổi qua năm trí là trí phàm phu, trí Thanh văn, trí Bích chi Phật, trí Bồ tát và Nhứt thiết chủng trí, đạt đến cái thấy toàn vẹn, không sai lầm.

Khi chạm trán với Xá Lợi Phất, chiến thắng của Duy Ma là chiến thắng không có người bại; vì Xá Lợi Phất xem Duy Ma như một ân nhân trên bước đường tu. Nhờ Duy Ma chỉnh lý, tâm trí Xá Lợi Phất bừng sáng, thấy được lầm lỗi của mình. Xá Lợi Phất quá phục Duy Ma, nên không dám đến thăm ngài.

Xá Lợi Phất tiêu biểu cho suy tư hay trí. Mục Kiền Liên tiêu biểu cho hạnh hay hành động. Suy tư và hành động cần hợp nhất, hành động có suy nghĩ và suy nghĩ để hành động. Suy nghĩ của Xá Lợi Phất cục bộ thì hành động của Mục Kiền Liên cũng trở thành sai lầm. Từ trạng thái tiêu cực bước sang nhập thế, Mục Kiền Liên nhiệt tình giáo hóa chúng sanh, nhưng thất bại nặng nề khi độ bà bán bánh bèo. Ngài dũng cảm dấn thân vào đời và gặp rất nhiều khó khăn. Về sau, ngài bị nhóm lõa thể đánh chết. Theo tinh thần Đại thừa, hành động thọ quả báo của Mục Kiền Liên là sự thị hiện để cảnh giác người nhiều nhiệt tình, nhưng thiếu trí tuệ. Và Duy Ma hiện làm người chỉ lối đưa đường, nhắc nhở chúng ta giáo hóa mà chỉ có lòng nhiệt tình, thì cần phải thận trọng. Nhìn qua bề ngoài thấy tốt, tinh tấn như vậy là đúng, nhưng việc lam của chúng ta có tốt thực hay không, thì phải xét lại. Chẳng hạn như chúng ta tấn công ngoại đạo, kêu gọi người về với Phật đạo một cách hăng say, đôi khi lại phản tác dụng hơn là có lợi.

Mục Kiền Liên cảm thấy không có khả năng đến thăm Duy Ma, vì trước vào thành Tỳ Da Ly gặp các con của trưởng giả đến rất đông. Mục Kiền Liên trình bày kiến giải mà ngài chứng ngộ trong Thiền định cho họ nghe. Họ đều bỏ đi và Duy Ma xuất hiện đúng lúc như người bạn tâm đắc của Mục Kiền Liên.

Sự thật không phải Mục Kiền Liên từ chối thăm Duy Ma. Ý này của Đại chúng bộ ngầm ám chỉ sau Phật Niết bàn, chư Tăng hay Thượng tọa bộ mang ý tưởng tiêu cực. Họ có tinh thần thoát ly mạnh, muốn tách rời thế gian, không chịu dấn thân vào đời, vì nhận thức kém hơn thế gian.

Chỉ trích này của Đại chúng bộ cũng dễ hiểu. Khi chúng ta nghiên cứu lịch sử triết học Ấn Độ, nhận thấy rõ sau Phật Niết bàn, đạo Bà la môn phục hưng và trở thành Ấn Độ giáo ngày nay. Lúc ấy, hàng Sa môn Phật giáo không kham lãnh việc giáo hóa. Vì khi xã hội chưa văn minh tiến bộ, tu sĩ Phật giáo khá hơn người, nên dạy họ dễ dàng. Ngược lại, xã hội phát triển mà tu sĩ Phật giáo lạc hậu hơn, dở hơn. Thử nghĩ bấy giờ, đến với người đời để làm Thầy họ, là cả vấn đề không đơn giản.

Duy Ma khen Mục Kiền Liên nhận thức bằng tâm chứng rất hay, nhưng nhắc nhở rằng pháp của ông chứng được của A la hán. Phải đứng trên lập trường Bát Chánh đạo mới thấy đúng, thì làm thế nào phàm phu tục tử nhận được. Điều này gợi cho chúng ta nhận thức rằng sử dụng pháp không đúng đối tượng, sẽ trở thành phi pháp hay hủy báng pháp.

Ngài khuyên Mục Kiền Liên không nên áp dụng khuôn cố định. Phải nhìn thẳng vào tâm đại chúng, dùng pháp phương tiện tương ưng với trình độ của người, họ mới chấp nhận được. Duy Ma dặn Mục Kiền Liên đừng lấy sở đắc của mình mà áp đặt cho người. Pháp dù hay đến đâu nhưng người không thích, không biết, cũng trở thành không hay.

Duy Ma xác định cho chúng ta vấn đề thuyết pháp phải chú trọng đến đối tượng, khả năng và trình độ của người nghe. Chẳng những thích ứng với trình độ, còn phải nhắm vào yêu cầu của đại chúng, đáp ứng được sự mong muốn của ho, giúp họ phát triển tâm Bồ đề.

Nhận thấy họ thuộc giới kinh doanh, Duy Ma dạy pháp tạo ra nhiều của cải và dùng tài sản này làm lợi ích cho chúng sanh. Khi nghe Duy Ma giảng như vậy, họ liền phát tâm Đại thừa, cố gắng làm việc để nâng cao đời sống hạnh phúc của người. Duy Ma gợi cho họ hình ảnh của Phật hiện hữu trên cuộc đời, chỉ nhằm làm vơi bớt khổ đau của chúng sanh và tăng thêm an lạc hạnh phúc cho mọi người.

Duy Ma nhắc nhở Mục Kiền Liên khi thuyết pháp đừng đem suy nghĩ của mình áp đặt cho người. Dùng suy nghĩ về pháp Tối thượng rọi vào chúng sanh, để biết căn tánh của họ và tùy theo đó mà dạy pháp tương ưng, mới thực là thuyết pháp giáo hóa người. Ngoài ra, có lúc thuyết pháp được, có lúc yên lặng cũng là chánh pháp. Vì nói pháp để bị chống báng cho đến bị giết hại, chẳng ích lợi gì.

Phật giáo hóa Kiều Trần Như, Mục Kiền Liên, Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp, v.v… trong tư thế hoàn toàn đối nghịch với Ngài. Họ vẫn phải quy phục, vì giữa họ và Phật có những điểm tương đồng, khiến họ tự theo Phật. Ngài không áp đảo, không dồn họ vào bước đường cùng để họ sanh liều mạng, chống lại hay giết Ngài. Phật cũng thường nhắc rằng Ngài chỉ độ được người có nhân duyên, nghĩa là có đủ ba điều kiện là đúng thời, đúng chỗ, đúng đối tượng.

Theo Duy Ma, muốn thuyết pháp ở thế giới sanh diệt, không có cách nào khác hơn là dùng phương tiện. Pháp phương tiện phải nương pháp chân thật, vì phương tiện mà rời chân thật sẽ lạc vào đường tà, trở thành người xảo trá. Không rời pháp chân thật, không rời Thiền định, mà giáo hóa tùy theo yêu cầu của người. Vì lòng đại bi, Duy Ma nương pháp phương tiện triển khai tri thức cho người, giúp họ nâng cao đời sống và hạnh phúc.

Ca Chiên Diên và Phú Lâu Na đều thuyết pháp, nên tương ưng với Mục Kiền Liên trong vấn đề giáo hóa.

Ca Chiên Diên là nghị luận đệ nhất A la han. Trước kia, ngài theo Phật giảng pháp vô thường, khổ, không và vô ngã. Trải qua nhiều ngày suy nghĩ chín chắn, ngài lập thành hệ thống lý luận vững vàng và đến khu rừng thành Tỳ Da Ly gặp các thanh niên, con của trưởng giả. Ngài đem nguyên văn này trình bày, liền bị họ bác bỏ. Duy Ma xuất hiện để gỡ rối cho Ca Chiên Diên, không phải đến để hạ ông. Ca Chiên Diên là nghị luận đệ nhất A la hán cũng phạm lỗi lầm, giảng giải theo hình thức, có bài bản đàng hoàng.

Theo tôi, Ca Chiên Diên không phạm lỗi như vậy. Điều này muốn diễn tả sau Phật diệt độ, các Tỳ kheo lớn tuổi theo chủ nghĩa hình thức, giáo điều, thường buộc mọi người rập y khuôn mẫu có sẵn. Lối thuyết pháp này, hay nói rộng hơn, lối tu theo mẫu cố định chẳng những không có tác dụng, đôi khi còn phản tác dụng; vì lịch sử không bao giờ tái diễn như cũ. Thật vậy, chúng ta học đạo, nghe nhiều. Tuy nhiên, phải biết kết hợp với sự nhận thức của riêng mình để phát huy trí tuệ rồi tùy nghi ứng xử cho kết quả trong cuộc sống; không thể theo mô hình cố định.

Vấn đề thuyết pháp cũng vậy, phải linh hoạt, đừng theo khuôn mẫu soạn sẵn. Riêng tôi, đọc kinh thật nhiều, không biết mệt mỏi. Và những gì tôi đọc tồn đọng trong trí óc, khi gặp Tăng Ni, Phật tử, những pháp này tự lưu xuất để đáp ứng đúng với yêu cầu thực tế của họ.

Duy Ma chỉnh Ca Chiên Diên tán dương Phật pháp không đúng chỗ, tán dương Niết bàn tịch tĩnh cho những người đầy nhiệt tình xây dựng xã hội là sai lầm. Tại sao Phật nói pháp vô thường, khổ, không và vô ngã. Vì đối trước những người bất lực chán đời, Ngài tuyên dương pháp này. Đối với những người đang hướng về tương lai, cả một bầu trời trong sáng trước mắt, mà ta nói pháp vô thường, tất nhiên họ sẽ chống ta.

Duy Ma gợi nhắc Ca Chiên Diên nên phân biệt căn tánh của đối tượng nghe pháp. Những người căn tánh Đại thừa, mang chí lớn muốn xây dựng phát triển xã hội, ta nên chắp cánh cho họ bay lên. Hay nói cách khác, đây là tư tưởng tiến bộ của Đại chúng bộ chống lại tư duy hình phạm cố định của Thượng tọa bộ.

Duy Ma chất vấn Ca Chiên Diên thế nào là vô thường, khổ, không và vô ngã. Theo Duy Ma, sự hiểu biết của Ca Chiên Diên là hiểu biết của con người đi tìm chân lý, không phải của con người chứng ngộ chân lý. Người tìm chân lý, tâm hướng về nơi khác. Trong khi hiểu chân lý, họ sống an nhiên với thực tại.

Duy Ma triển khai pháp vô thường, vô ngã để lớp người trẻ nghe, mà họ không thấy chán đời, không trốn đời. Ngài không nói vô thường để dẫn đến không có gì hết. Duy Ma cho biết tất cả các pháp sanh diệt, mang tính chất vô thường, luôn thay đổi. Nhưng trong sanh diệt, Phật tìm được cái không sanh diệt. Không phải vô thường rồi mất luôn. Nói vô thường để tìm thấy cái thường còn. Tìm cái chân thường trong vô thường, tìm cái không biến đổi trong cái biến đổi, tìm Niết bàn trong sanh tử. Đó chính là pháp Phật.

Tất cả nguyên tố tạo nên sự vật. Vật là pháp, nguyên tố là thể. Vật thay đổi, nhưng nguyên tố không thay đổi, tướng chân thật không thay đổi. Phải dùng tâm không thay đổi quan sát, nghĩa là Trí thân quán Pháp thân mới tìm được thường hằng bất biến; vì Trí thân và Pháp thân đồng thể Tỳ Lô Giá Na.

Cái hiểu vô thường của Ca Chiên Diên chỉ đúng về mặt tiêu cực. Nếu vô thường hoàn toàn, ta không tu làm gì.

Duy Ma giảng vô ngã cho những người trẻ chấp nhận được. Thực tế chúng ta là con người, mà nói không có con người, tức "Hữu” mà nói "Vô”, thì không thể được. Tuy nhiên, dưới kiến giải của Duy Ma, cái "Có” bị cái "Không” đánh đổ. Vì cái "Có” này chỉ do nhân duyên giả hợp mà thành, không phải cố định.

Duy Ma đánh đổ "Hữu” không phải để hiển thị "Vô”, mà để triển khai thành Trung đạo, như Trung Quán luận có nói: "Nhân duyên sở sanh phap, ngã thuyết tức thị Không”. Vấn đề quan trọng là Đức Thế Tôn thấy nhân duyên sanh và nhân duyên diệt. Nhất là vận dụng được sanh diệt này để tạo thành Vô sanh.

Duy Ma chỉ cho họ thấy Phật từ quả Vô sanh hướng về sanh diệt của thế gian quá tuyệt diệu. Vì thế, lớp người trẻ mới nhiệt tình hướng tương lai đó mà đi tới. Ngược lại, nói vô thường, khổ, không và vô ngã để ôm bình đi xin ăn, thực chán quá!

Sau khi Ca Chiên Diên từ chối thăm bệnh Duy Ma, Phú Lâu Na cũng không dám đến thăm. Phú Lâu Na kể lại trước kia ngài thuyết pháp cho hàng tân học Tỳ kheo về các pháp căn bản, Duy Ma xuất hiện bảo ông đừng đem đồ ô uế đựng vào bát lưu ly, đừng lấy nước bốn biển đổ vào lỗ chân trâu. Nghĩa là đừng lấy pháp nhỏ mà dạy cho người có tâm hồn rộng lớn.

Duy Ma có chỉnh Phú Lâu Na thực hay không, là việc ngoài tầm tay của chúng ta. Theo tôi, đây là ý niệm của những người trí thức trẻ tuổi đầy nhiệt tình của Đại chúng bộ phải chịu đựng sức đè nang của lớp cha anh bảo thủ. Họ muốn bung lên để phát triển, không bằng lòng học và làm những gì không còn thích hợp, không chấp nhận được. Những tảng đá lớn cản bước tiến của người mang chí lớn hành đạo ngày nay cũng là vấn đề tồn đọng mà chúng ta thường gặp.

Duy Ma nhắc Phú Lâu Na đừng kẹt vào pháp, nghĩa là bám theo mô hình hay nguyên tắc cố định nào đó, rồi đem áp dụng y khuôn cho tất cả những người mới vào đạo. Mỗi người có khả năng tri thức, đạo đức không giống nhau, nhưng làm việc y hệt nhau, tất nhiên không có kết quả tốt đẹp.

Duy Ma chỉnh Phú Lâu Na là bậc Pháp sư đệ nhất, nhưng thuyết pháp mà không quan sát được căn tánh hành nghiệp của Tỳ kheo, là vô tình phá hư hạnh của họ. Thật vậy, vào chùa chúng ta gặp việc dạy dỗ không thích hợp làm thủ tiêu khả năng và ý thích hướng thiện, khiến người giỏi nhiệt tình trở thành người ngông cuồng.

Duy Ma nhắc muốn dạy người, phải quán thấy rõ căn cơ của họ. Đừng căn cứ vào hình thức mới tu, còn nhỏ. Vì trên dòng sinh mệnh tương tục của Bồ tát, trong kiếp luân hồi nhân quả, nay tái sanh lại, tuy mới tu còn nhỏ tuổi; nhưng công đức và yếu tố Bồ đề của họ đã được un đúc từ nhiều đời quá khứ. Không thể đặt họ ngang bằng với người lớn tuổi tu trước, nhưng thực sự chỉ mới tu trong đời này. Điển hình như Ngộ Đạt mới 13 tuổi đã làm Quốc sư.

Duy Ma nhắc chúng ta phải nhìn thấy tài năng và đức hạnh để khai thác, dạy dỗ, trong lúc tiếp Tăng, độ chúng. Người đồng tu hay người đi trước hư hạnh, bị Duy Ma ví như đồ ô uế. Và tâm của người mới xuất gia vào đạo trong sạch ví như bát lưu ly. Thói hư tật xấu của người trước đập vào mắt, ăn sâu vào tim người mới vào đạo. Duy Ma xem đó như đồ ô uế để vào bát lưu ly. Điều này Duy Ma nhắc người xuất gia phải luôn luôn thể hiện đời sống kiểu mẫu phạm hạnh. Đó chính là bài thuyết pháp sống. Thuyết pháp không phải chỉ dùng lời nói, không cần nói nhiều, nhưng thể hiện bằng việc làm và thăng hoa trong cuộc sống. Người nhìn thấy, sẽ tự bước theo dấu chân ta.

Quan sát căn cơ của người tu còn có nghĩa là đừng làm hư tâm những người mới phát tâm, đừng bóp chết những tâm hồn lớn. Từ chối giáo hóa người mới vào đạo khi ta cảm nhận được tâm hồn họ cao thượng, còn tâm ta nhơ bẩn rồi và an nhiên đưa họ đến cho người khác xây dựng. Như trường hợp Lý Khánh Vân nuôi Lý Công Uẩn, nhận thấy Lý Công Uẩn là người có chí lớn. Tri thức và tâm hồn của ông không bằng Lý Công Uẩn. Ông đã giao Lý Công Uẩn cho Thiền sư Vạn Hạnh dạy dỗ. Hai tâm hồn cao thượng của Lý Công Uẩn và Thiền sư Vạn Hạnh gặp nhau, tạo thành sức sống Phật giáo giải thoát, cao quý, chỉ đạo cho cuộc sống ấm no hạnh phúc của nhân dân dưới thời Lý.

Thật pháp hay bài pháp sống thể hiện trong hai tâm hồn Vạn Hạnh và Lý Công Uẩn vẫn còn sáng ngời qua bao sự đổi thay của lịch sử. Pháp âm của các ngài cất lên từ thời Lý vẫn tồn tại cao cả trong suy tư, trong hành động, trong lời nói và trở thành bất tử trong lòng người chúng ta.

Qua bài pháp sống lưu đậm nét cảm tình của nhân dân đối với việc làm của đệ tử Phật đem lại thịnh vượng cho đất nước dưới triều Lý, chúng ta rút ra được mô hình thuyết pháp ở thời đại chúng ta. Đó là sự đóng góp đôi tay và khối óc của Phật giáo cho phúc lợi của dân tộc, cho sự phát triển đời sống nhân dân trên mọi lãnh vực.

Duy Ma nhắc chúng ta mục tiêu thuyết pháp giáo hóa nhằm khai tri kiến, giúp người trở thành hữu ích. Ngài cũng khuyên chúng ta nên nhận xét đúng về chúng mới xuất gia. Nhận thấy họ có tư chất Bồ tát, ta phải triển khai Bồ tát hạnh cho họ. Không được ép họ vào khuôn chán đời, để tuổi đời trôi qua vô ích. Họ nuôi chí cầu thành Phật quả, phải đem giáo pháp Đại thừa truyền dạy. Giống như Ca Nặc Ca khai tâm cho Ngộ Đạt, vì biết Ngộ Đạt đã tu chín kiếp. Vì thế hiện đời mới 13 tuổi, đã quá thông minh và trở thành Pháp sư.

Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất, Ca Chiên Diên biện luận đệ nhất, Phú Lâu Na thuyết pháp đệ nhất. Cả ba vị Pháp sư này danh tiếng trong thời Phật tại thế cũng vấp phải sai lầm, bị Duy Ma phê phán. Thực sự không phải ba vị đại đệ tử này phạm lỗi. Nếu quan sát chiều sâu của bộ kinh, chúng ta sẽ thấy rõ khi kiết tập kinh Duy Ma, những nhà tâm huyết Đại thừa nhìn vào sự tranh chấp giữa Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, nhận ra được chân ý của Phật. Và họ nêu lên những vấn đề quan trọng cho chúng ta làm kinh nghiệm khi thuyết pháp; đó là:

1) Phải nói điều mà người muốn nghe.

2) Phải quan sát đối tượng có hiểu hay không hiểu và hiểu đúng, mới nói.

3) Phải ứng vào thời kỳ.

4) Phải ứng vào quốc độ.

Theo Đại thừa, ta chỉ sử dụng ý của Phật dạy để vận dụng vào cuộc sống thực tại. Thí dụ, Phật thuyết pháp nói đến quốc vương, vương tử, Bà la môn, thứ dân, vì Ngài nhắm vô cấu tạo xã hội thời đó như vậy mà giảng. Ngày nay, không phân chia giai cấp như vậy. Xã hội xưa và nay vẫn là xã hội, nhưng danh xưng dùng khác nhau. Quốc vương nay là Chủ tịch hay Tổng thống. Đại thần là Bộ trưởng, thứ dân chỉ cho quần chúng.

Tùy theo từng thời đại, nhà truyền giáo chuyển đổi ngôn ngữ cho phù hợp với xã hội đang sống, ma không trái với giáo lý căn bản. Tùy theo quốc gia, tùy địa phương, mà thuyết pháp thích hợp, để xây dựng đất nước, nâng cao đời sống vật chất cho người. Và nhất là phát triển đời sống tâm linh, giúp người từ địa vị phàm phu tiến đến Phật quả. Đó là mục tiêu của Phật. Hành giả thừa kế Phật thuyết pháp lợi sanh, tất yếu phải bước theo lộ trình đó.

Duy Ma cũng nhắc chúng ta phải nhắm vô thực tế. Nếu nói pháp quá xa vời, người nghe không tiếp nhận được, thì pháp cũng trở thành phi pháp: "Y kinh giải nghĩa Phật oan tam thế, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Ta chỉ lấy ý kinh và sử dụng danh từ của thời đại, là không chấp kinh mà không bỏ kinh. Không bỏ kinh nghĩa là không bỏ ý kinh. Không chấp kinh là không chấp ngôn ngữ, văn tự.

Kế đến, Phật dạy Ca Diếp và Tu Bồ Đề đến thăm bệnh Duy Ma. Cả hai vị này đều không dám lãnh.

Ca Diếp là bậc đầu đà đệ nhất và Tu Bồ Đề là vị giải pháp Không đệ nhất. Cả hai vị cùng có chung một hạnh khất thực. Ca Diếp chuyên khất thực xóm nghèo, không khất thực nhà giàu. Tu Bồ Đề ngược lại, chỉ đến nhà giàu khất thực, không đến xóm nghèo.

Vấn đề khất thực được đặt ra để chúng ta thấy việc giàu nghèo và mục tiêu của khất thực. Ngày nay, chúng ta khó chịu với những người đội lốt nhà tu đi khất thực tràn lan. Thiết nghĩ đó cũng là tâm trạng của những tu sĩ nhiệt tình với đạo cách đây mấy ngàn năm ở thành Tỳ Da Ly. Họ cũng phải bực bội với thành phần Sa môn này.

Kinh Duy Ma mượn hai nhân vật Ca Diếp và Tu Bồ Đề để chỉnh lại ý niệm sai lầm về khất thực. Chúng ta xét lại việc hành đạo của Phật để xem Ngài có cho khất thực là cứu cánh hay không. Trước hết, thấy rõ Phật sử dụng nó như một phương tiện để gần gũi Sa môn.

Đoàn thể Sa môn có trước khi Phật ra đời, là một truyền thống cao đẹp nhất, xuất xứ từ Bà la môn giáo. Họ chủ trương nhỏ đi học, lớn lên làm việc, về già đi tu, trở thành Sa môn. Ngoài ra, có một tầng lớp Sa môn ở phía Đông sông Hằng lại khác. Thành phần Sa môn này phát sanh do chính thể cai trị thời ấy quá khắc nghiệt. Họ sanh trong giai cấp không thuộc dòng dõi Bà la môn hay Sát đế lợi, nên không được quyền làm việc gì và cũng không được quyền lợi gì. Họ chống lại chế độ đẳng cấp bằng cách từ bỏ gia đình, trở thành những tu sĩ lang thang.

Như vậy, có hai thứ Sa môn, một là từ Bà la môn trở thành Sa môn và hai là chán đời mà thành Sa môn. Nói chung, tạo thành giới ăn mày, đi khất thực.

Đi khất thực như Phật không phải đi xin ăn. Ngài ở trong rừng, sống trong Thiền định, không cần ăn; nhưng tại sao Phật đi vào đời. Phật vào đời sử dụng khất thực như một pháp tu, một phương tiện để tạo mối quan hệ với người đời. Lần lần, Ngài giáo hóa, dìu dắt họ tiến trên con đường thánh thiện. Vì vậy trước khi đi khất thực, Ngài quán sát nhân duyên xem nên đến độ ai và dùng pháp gì để độ.

Đối với người tu, món ăn tinh thần quan trọng hơn. Người tu cảm thấy mình là kẻ ăn xin, xin món ăn tinh thần của Đức Phật gồm có Pháp thực và Thiền thực. Xin pháp an tâm là Thiền thực.

Chúng xuất gia và tại gia đều lấy pháp an tâm làm chính. Người giàu sang nhưng lòng tràn ngập khổ đau giống như ôm vàng ngồi trên đống lửa. Ngược lại, nương pháp Thiền thực, Sa môn sống cuộc đời bình dị, mộc mạc. Họ không giữ tài sản nào trong tay, mà tâm hồn hoàn toàn an bình, thanh thoát.

Ngoài Thiền duyệt thực, hành giả nương Pháp hỷ thực, tìm được nguồn vui trong đạo, hoàn toàn khác với cái vui ngũ dục của thế gian:

Ngày tháng ta thung dung vui với đạo,

Còn lợi danh tình ái mặc người ham.

An trú trong pháp lạc của đạo hạnh, chúng ta mới sống và tu được. Nếu không, thân ở trong chùa mà tâm vướng mắc buồn phiền, ta chẳng khác nào kẻ không có tay lạc vào nhà đầy của báu, không sử dụng được. Nhờ hai món ăn Thiền thực và Pháp thực, hành giả ung dung tự tại ở thế gian.

Ca Diếp tiêu biểu cho Đầu đà đệ nhất A la hán. Đầu đà nghĩa là khổ hạnh. Ca Diếp lập hạnh xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo. Ngài mang tất cả tài sản cúng dường, chỉ mặc y phấn tảo là vải tang kết lại và sống cuộc đời đơn giản đi khất thực xóm nghèo. Với tâm niệm như vậy, ngài đến chỗ nghèo là điều tất yếu. Vì muốn giáo hóa người nghèo, ta cũng phải nghèo, muốn giáo hóa người thấp, phải tự hạ thấp trình độ của mình.

Ngươc lại, Tu Bồ Đề giải Không đệ nhất A la hán, tới chỗ giàu, không tới chỗ nghèo. Tu Bồ Đề sang trọng, thông minh, kiến giải pháp Không trong kinh Kim Cang một cách sắc bén. Hiển nhien đối tượng nghe pháp với ngài phải là người giàu kiến thức thuộc thượng tầng tri thức.

Duy Ma chỉnh Ca Diếp và Tu Bồ Đề chấp chặt hình thức, nên mỗi người chỉ được một khía cạnh. Hai người giáo hóa ở hai môi trường tương phản, tạo thành thế giàu nghèo đấu tranh với nhau, không thích hợp với pháp Phật thì bao la dung chứa được mọi người và mang lợi ích cho tất cả.

Ca Diếp nói với Phật rằng lòng ngài điềm đạm vô dục, không có mong muốn và đi vào xóm nghèo khất thực. Ngay khi đó gặp Duy Ma vặn hỏi Ca Diếp thực sự có lòng Từ bi rộng lớn, thương người nghèo hay không. Khất thực như vậy có trái với nghĩa vô dục hay không. Vô dục thì phải bình đẳng khất thực, không khởi ý nghĩ giàu nghèo. Còn ham muốn đến chỗ nghèo, là đã rớt qua dục mà cứ tưởng là vô dục.

Đạo Phật là đạo bình đẳng, đạo trí tuệ. Phật trải tình thương khắp mọi người, không phân biệt giàu nghèo. Ai có duyên với Ngài đều được tế độ. Từ bà già ăn mày cho đến nhà vua có quyền thế nhất, Ngài đều không từ bỏ.

Ca Diếp xuất thân từ giai cấp giàu có, bỏ địa vị giàu sang xuất gia và thích độ người nghèo để thấy mình cao cả. Như vậy tâm Ca Diếp đã kẹt vào pháp.

Duy Ma hỏi Ca Diếp có nên từ bỏ chỗ giàu chăng và từ bỏ có đúng không. Vì biết khéo sử dụng người giàu tri thức và giàu của cải, họ sẽ đóng góp nhiều lợi lạc cho nhân quần xã hội.

Duy Ma chất vấn Ca Diếp rằng ngài là người cao cả đức hạnh, ai cũng quý trọng. Ngài từ bỏ tất cả, nhưng nay tại sao lại ôm bình đi cầu xin ăn. Ngài có nghĩ khất thực sẽ thiệt hại lớn cho việc tu hành và giáo hóa của ngài hay không.

Đến đây, Duy Ma gợi cho Ca Diếp mục tiêu khất thực. Theo Duy Ma, không vì kéo dài mạng sống mà ăn, là ý nghĩa của pháp Đầu đà. Vì ăn mà khất thực thì chẳng khác gì ăn mày. Vì sống để ăn thì chẳng khác gì phàm phu, làm sao có thể xem là đệ nhất A la hán. Người khất thực không cầu món ăn, nhưng cầu giải thoát, cầu Pháp hỷ thực và Thiền duyệt thực, tinh tấn tu hành để đắc đạo, đắc pháp, không còn bị trói buộc trong tam giới.

Nhờ Duy Ma chất vấn, Ca Diếp tìm được ý nghĩa của pháp tu khổ hạnh, ý nghĩa của việc vào làng khất thực.

Khi Phật thuyết pháp ở Lộc Uyển, Kiều Tran Như đắc đạo trước. Phật và Kiều Trần Như đi khất thực, bốn vị kia ở lại, không được cùng đi khất thực với Phật, vì họ chưa đắc quả La hán. Điều này thể hiện rõ rệt không phải vì ăn mà Phật đi khất thực. Phật dạy khi đắc La hán, hiện tướng giải thoát. Ngày ngày khất thực, mang hình bóng giải thoát của Phật vào thế gian, để mọi người trồng căn lành. Vì vậy, phải chuẩn bị thân, khẩu, ý thanh tịnh để khi người nhìn thấy, hoặc nghe nói hay nghĩ đen hành giả, đều phát tâm Bồ đề. Không khất thực vì ăn, vì sống, nhưng hiện hữu vì lợi lạc cho mọi người. Đó là phương tiện để gần gũi người, khơi dậy tâm hồn hướng thượng cho nhân gian. Nếu không, ta trụ ở rừng núi sẽ rớt qua Tiểu thừa.

Duy Ma tiếp tục chất vấn Tu Bồ Đề. Hãy giải thích nguyên nhân từ đâu mà có miếng ăn. Nếu giải không xong, thì đừng ăn. Tu Bồ Đề sợ muốn bỏ bát. Duy Ma khuyên Tu Bồ Đề đừng sợ. Ngài hỏi để ông suy nghĩ, cân nhắc trên bước đường tu, không phải để lấy lại bát cơm. Duy Ma khuyên Tu Bồ Đề rằng người trí phải hiểu được ý và thể hiện ý sâu xa của Phật dạy trong đời sống của mình và của người.

Pháp Không cua chúng Thanh văn là Ngoan Không. Tu Bồ Đề không nghĩ gì, nhưng tại sao lại đến nhà giàu của Duy Ma khất thực. Giải thích rằng ngẫu nhiên đến, là Tu Bồ Đề đã lạc qua ngoại đạo. Còn đến mà không nghĩ gì thì không đúng.

Duy Ma chỉnh kiến giải Không của Tu Bồ Đề. Giải Không nghĩa là khi chạm phải thực tế cuộc đời, mọi việc phải giải quyết dứt khoát viên mãn, không tồn tại trong lòng sự thắc mắc buồn phiền. Phật nhắc chúng ta đừng lầm ma ni bảo châu với thủy tinh. Một Tỳ kheo đúng nghĩa vào làng khất thực, mang hình bóng, lời nói và tâm niệm đều giải thoát, khiến cho người cũng thanh tịnh theo. Ví như ma ni bảo châu để vào nước, nước liền trong. Ở bên trong của vị Tỳ kheo chân chính, tất cả đã được hóa giải, không còn phiền não trần lao, là bậc A la hán. Vì vậy bước chân của các ngài đến nơi nào, nơi đó biến thành thanh tịnh tươi mát.

Phàm Tăng, nghiệp Tăng, ác Tăng, người nhìn thấy họ thì cảm thấy phiền não, bực tức, thương hại. Phật ví họ như thủy tinh, dù có bỏ ngàn viên vào nước, nước cũng vẫn đục.

Cổ nhân thường dạy khi ăn người tu phải quán: Nhất kế công đa thiểu lượng bỉ lai xứ.

Trước nhất, ăn cơm, phải quán sát xem cơm này từ đâu tới, có hợp thời thanh tịnh không. Người thọ thanh tịnh, nhưng người cúng không thanh tịnh, thì pháp cúng dường cũng trở thành không thanh tịnh. Và thọ thực mà không hóa giải được sự mong cầu của người cúng, ta sẽ mang nợ.

Kế đến quán sát: Nhị thổn kỷ đức hạnh toàn khuyết ưng cúng.

Ta tự xét đức hạnh của mình có tương ưng với phẩm vật cúng dường không. Đức ít mà thọ lãnh, cưu mang nhiều, chỉ đọa. Người chân tu thường cân nhắc khi không đủ đức, không dám làm, vì quả báo còn theo ta ở nhiều đời sau. Kinh Vị Tằng Hữu có nói năm Thầy Tỳ kheo vì thọ thực nhưng không đủ đức hạnh, nên đời sau bốn Thầy đọa làm người khiêng kiệu và một Thầy làm người rửa nhà vệ sinh cho hoàng hậu của vua Ba Tư Nặc.

Thứ ba quán sát: Tam phòng tâm ly quá tham đẳng vi tông.

Người thọ thực phải an trụ pháp Không hoàn toàn. Không có người thọ, không có người cúng, không thấy nhiều, không thấy ít. Quán đúng pháp để tránh tâm tham khởi lên, sẽ phá vỡ công đức tu tạo được.

Thứ tư quán sát: Tứ chánh sự lương dược vị liệu hình khô.

Người tu khi ăn phải sanh tâm hổ thẹn, vì A la hán sống với Pháp thực và Thiền thực. Còn ta phải ăn để cứu xác thân khô này. Nuôi thân tứ đại để lưu giữ biểu tượng tốt cho người trên cuộc đời, làm lợi cho chúng hữu tình.

Phật vào Niết bàn, những bậc thượng căn thượng trí vẫn gần gũi Ngài, nhưng người trình độ thấp không thấy được Phật. Vì vậy các đệ tử của Ngài như Ca Diếp, Tu Bồ Đề, nói chung, các bậc Hiền Thánh Tăng đắc đạo, không vào Niết bàn. Các ngài phải duy trì mạng sống để khơi dậy tâm Bồ đề cho người.

Thứ năm quán sát: Ngũ vi thành đạo nghiệp phương thọ thử thực.

Người tu luôn hướng tâm về quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác và thọ thực cũng không ngoài mục tiêu duy trì mạng căn làm phương tiện tu hành tiến tới Phật quả.

Ngày nay, năm tâm niệm nói trên của chúng ta mỗi khi thọ thực, được rút ra từ pháp thọ thực của Tu Bồ Đề và Ca Diếp.

Sự thật, hai vị đại đệ tử Ca Diếp và Tu Bồ Đề đều nhằm mục tiêu giáo hóa chúng sanh, hướng dẫn ở hai môi trường hoàn toàn khác biệt. Tuy bên trong là một, nhưng thể hiện ra bên ngoài thành hai nhân vật Tu Bồ Đề và Ca Diếp để hội nhập hai nơi làm Phật sự.

Theo tinh thần Đại thừa, Bồ tát không câu nệ hình thức. Các ngài hiện hữu trên cuộc đời để thể hiện phúc lợi cho dân tộc và nhân loại. Đức Phật chúng ta xuất hiện ở Ta bà cũng không ngoài mục tiêu này. Và thực tế ngày nay cũng vậy, dân Nhật kính nể Thủ tướng Sato không phải vì chiếc áo phấn tảo. Họ khâm phục đức độ và tài trí thông minh của ông đã khéo lèo lái con thuyền đất nước của họ vượt qua những thử thách sóng gió.

Bồ tát đa dạng, khoác chiếc áo nào làm lợi cho đạo thì cứ mặc, áo nào cũng được. Đó là chuyện bình thường không đáng quan tâm. Vì họ nhận chân được rằng áo tốt hay xấu đều tùy thuộc phước đức nhân duyên, không tự tạo, không để tâm mong cầu. Ý nghĩa Không của Tu Bồ Đề chính là vậy.

Tiếng nói của Duy Ma với Tu Bồ Đề hay Ca Diếp không phải phát xuất từ một ông Duy Ma bên ngoài. Riêng tôi, thiết tưởng trên cuộc đời có hai Đức Phật, một Phật Thích Ca ở bên ngoài và một vị Phật thứ hai ở trong lòng ta. Chính Phật trong ta thể hiện ra thành ông Duy Ma vấn đáp ta.

Duy Ma là phản ánh tâm tư của người tu khi chạm với thực tế cuộc đời. Duy Ma không phải là người bên ngoài. Lòng tôi tự hỏi tôi và tự thảo luận với lòng để tìm ra pháp tu của chính mình. Ngài Nhật Liên ví Phật Thích Ca như chim hót ngoài trời và chim trong lồng là hình ảnh Duy Ma nghe chim bên ngoài kêu nó thoát khỏi lồng vàng.

Duy Ma không ai khác hơn là bản tâm thanh tịnh của chính ta. Lòng chúng ta thật yên tĩnh, phiền não trần lao không xâm nhập. Ta mới lắng nghe được tiếng nói chân tình phát xuất từ đáy lòng phê phán và tùy theo đó mà điều chỉnh cho đúng chánh đạo. Những điều Duy Ma phê phán là những gì tâm vương ta phát hiện. Hay nói cách khác, là lẽ chân thật giúp ta thăng hoa trên đường đạo.

Tiếp theo, bốn vị đại đệ tử còn lại là A Na Luật, Ưu Ba Ly, La Hầu La và A Nan lần lượt đều từ chối thăm bệnh Duy Ma.

A Na Luật hay A Nâu Lâu Đà là thiên nhãn đệ nhất A la hán. Tầm nhìn sự vật, phân tích sự vật, không ai vượt qua ngài. Ngài tham Thiền đến độ mù mắt, nhưng huệ nhãn phát sanh thấy tất cả vật chính xác hơn. Từ đây ta rút ra được kinh nghiệm trên bước đường tu khổ luyện, thường vấp phải sai lầm. Nếu có minh sư chỉ dạy có thể tránh khỏi. Còn tự ta tu, đạt được một pháp, thường hư mất một phần thân thể. Trường hợp Huệ Tư Thiền sư chứng được Tam trí Tam quán thì thân hoại, phải truyền pháp lại cho Trí Giả đại sư.

A Na Luật quán sát sự vật bằng tâm, không bằng mắt. Dùng trí rọi qua chân lý, không rọi qua cảnh. Ta có mắt thường bị sắc trần chi phối, nên sự hồi quang phản chiếu của ta bị yếu kém. Ngài A Na Luật sinh hoạt với thế giới nội tâm mạnh hơn, phong phú hơn, vì không còn nhục nhãn, không bị nhãn thức chi phối. Một hôm, ngài vừa tham Thiền, vừa kinh hành, thấy thế giới Phạm Thiên hiện ra và nghe Phạm Thiên hỏi: "Thiên nhãn của ngài thấy xa được bao nhiêu”. A Na Luật trả lời rằng vật mà ngài quán sát thấy rõ như thấy một trái cam trong lòng bàn tay. Lúc đó Duy Ma Cật xuất hiện.

Duy Ma không phải là người bên ngoài, nhưng là người từ thế giới thuần tịnh đến, hay là một hiện thân của Phật để giáo hóa. Duy Ma Cật nghĩa là bản tâm thanh tịnh, tức tu hành đạt đến trạng thái bình ổn cao nhất, tự đáy lòng ta hiện lên tiếng nói của Duy Ma. Vì vậy, Duy Ma không nói với người ngoài, chỉ nói với người tu cao. Duy Ma nói với A Na Luật mù ở thế gian, nhưng sáng ở chân lý.

Duy Ma chỉ trích A Na Luật thấy thế giới bằng cách nào. Nếu thấy bằng hình tướng thì thuộc giả tướng, tức dùng tâm sanh diệt thấy pháp sanh diệt. Cả hai nằm trong tướng vô thường là sanh diệt. Như vậy đâu đáng gọi là Phật pháp. Nếu thấy dưới dạng thể, thì tánh thấy và vật bị thấy là một, nên phải nói không thấy. Còn nói thấy thì rớt qua Nhị nguyên.

Không thấy mà thấy, nghĩa là cái thấy vượt thế gian và xuất thế gian. Nói cách khác, vượt hiện tượng giới và bản thể, một cái thấy chỉ có Phật Thích Ca sau bốn mươi chín ngày tư duy ở Bồ đề đạo tràng chứng nghiệm được.

Phạm Thiên nghe Duy Ma chất vấn A Na Luật như vậy liền hỏi ai là người có chơn thiên nhãn. Duy Ma cho biết chỉ có Phật Thích Ca đạt được. Ngài từ bản thể hiện ra hiện tượng, nhưng vẫn không rời bản thể. Siêu xuất cả hai mặt, mới là Như Lai.

Ưu Ba Ly trì luật đệ nhất A la hán, thích sống khuôn mẫu nên dễ rớt vào giới điều. Ông chấp chặt giới luật trong việc xét xử hai Tỳ kheo và bị Duy Ma chỉnh lý, nay khiếp sợ không dám đến thăm bệnh Duy Ma.

Có hai Tỳ kheo phạm giới, xấu hổ, không dám thưa với Phật, liền đến hỏi Ưu Ba Ly phải sám hối bằng cách nào. Ưu Ba Ly chiếu theo luật ghi sao xử vậy, buộc một ông tội dâm, một ông tội sát, đưa ra chúng xử và đuổi khỏi Tăng đoàn.

Hai thầy Tỳ kheo thất vọng quá, đúng lúc đó Duy Ma đến, nghĩa là lương tâm con người sống dậy. Khi họ phạm lỗi, Ưu Ba Ly muốn xử nặng để làm gương; nhưng thấy họ khổ lại thương, lòng thương từ chơn tâm hiện ra là hình ảnh Duy Ma xuất hiện. Hay có thể nói Duy Ma này là bản tâm thanh tịnh của Ưu Ba Ly hiện lên, nhắc nhở ông một tình huống nào cũng có hai mặt là mặt lý và mặt tình không giống nhau, phải cân nhắc suy xét cho kỹ.

Giới luật nhằm bảo vệ giới thân huệ mạng của người tu. Tuy nhiên chấp giới, nó sẽ ràng buộc ta không làm được gì. Luật có mặt lợi ngăn chặn việc ác, nhưng cũng hại vì ngăn chặn cả việc thiện. Ta cần áp dụng nó một cách chiết trung.

Xử theo Ưu Ba Ly, được lợi gì và có hại gì. Trên thực tế, hai vị Tỳ kheo bị đuổi, không được ở chung với chúng. Quyết định như vậy, lợi chưa thấy; nhưng hại trước mắt là đẩy hai người vào tâm trạng tuyệt vọng, thường đưa họ đến những hành động liều lĩnh, dễ gây tội lỗi thêm.

Duy Ma xuất hiện giải tỏa sự khó khăn cho Ưu Ba Ly trong việc áp dụng giới. Duy Ma nói với Ưu Ba Ly tuy hai Tỳ kheo có tội, nhưng ông đừng tròng cho họ thêm một tội thứ hai. Ta đưa ra giới để ngăn ngừa. Tuy nhiên, lỡ phạm tội thì phải tùy theo đó mà ngăn tội kế tiếp. Không phải xét xử để đưa họ đến phạm tội khác. Mục tiêu chính nhằm gỡ họ ra, không buộc họ nữa. Thay vì phạm một giới, nhưng chúng ta không xóa, nên họ phạm thêm tất cả giới khác. Chẳng những hai ông phạm tất cả cấm giới, mà làm tâm các Tỳ kheo còn lại hư luôn.

Chuyện tội lỗi chỉ có hai Tỳ kheo và Ưu Ba Ly biết. Ông nên dùng trí tuệ xóa đi. Tại sao lại đem phơi bày cho cả trăm người biết, gây cho họ ấn tượng xấu đối với hai Tỳ kheo kia. Ta tu hành sợ nhất là ấn tượng xấu trong lòng. Người xấu, nhưng hành động xấu này chỉ huyễn ảo sanh diệt luôn. Còn ấn tượng xấu rất tai hại vì sống để dạ chết mang theo.

Ưu Ba Ly xử như vậy gieo vào lòng đại chúng tâm niệm dâm, dạy họ giới dâm. Trong khi họ hoàn toàn thanh tịnh, chưa biết gì về giới dâm. Giới Đại thừa lấy Tam tụ tịnh giới làm căn bản, tất cả việc làm của chúng ta đưng cho tâm ác sanh ra là chánh. Vì vậy, giới Đại thừa được gọi là giới tâm. Tâm tốt, hiện tượng tốt tự hiện ra. Ta giữ giới kỹ lưỡng trong sạch, thường khởi tâm thù ghét người không trong sạch. Nghĩa là ta đã mang ý niệm thù ghét vào tâm, thì giữ giới Tiểu thừa bằng cách này trở thành nguy hiểm.

Ưu Ba Ly tiêu biểu cho sự giữ giới hình thức, nên Duy Ma xuất hiện để phát triển phần nội dung; vì đôi khi hình thức rườm rà giết chết nội dung quan trọng. Những việc tốt trên thế gian ta làm thật nhiều, nhưng nó bao vây ta qua chặt chẽ, không khéo trở thành nghiệp.

Giới luật tạo điều kiện cho ta giải thoát, phần gội rửa linh hồn mới chánh yếu, còn việc bên ngoài chỉ phụ thuộc. Trong tâm hồn chúng ta đạt được một sở đắc nào để làm tư trang tu hành cho đời sau mới quan trọng. Pháp Phật giúp ta khai tri kiến, thăng hoa cuộc sống. Không biết sử dụng, nó ràng buộc ta chặt cứng, thì dù tu pháp nào cũng chỉ đọa thôi.

Giới Đại thừa nhằm mục tiêu ngăn cấm tội lỗi, nên có hiện tượng mới ngăn. Vì vậy, người nào phạm tội, người đó có giới. Trong mười hai năm đầu, đối với thanh tịnh Tăng, Phật không chế giới. Ngài chỉ đưa ra ba nguyên tắc sống là tam quy làm nền tảng, tức sống với trí tuệ, sống với chánh pháp và sống theo tinh thần hòa hợp.

Cuộc đời giáo hóa của Phật có thể chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn một, vì thanh tịnh Tăng, không nói giới luật. Phật dùng tâm Ngài ảnh hưởng vào tâm Tang, chuyển tâm họ thành thanh tịnh. Đến thời kỳ thứ hai, Phật thuyết pháp từ Lộc Uyển đến Linh Thứu. Đối trước những người có trình độ thấp, không cảm được tâm Phật, không có khả năng tư duy, Ngài phải nói đủ cách. Dạy mới làm, nên việc làm có giới hạn, làm theo mẫu. Nhưng đến thời kỳ thứ ba, nói cũng không nghe, phải dọa mới sợ, nghĩa là thời kỳ đặt ra giới luật.

Duy Ma nhắc nhở Ưu Ba Ly tôn trọng giới luật, nhưng phải hiểu giới luật. Duy Ma thuyết pháp Không cho hai Tỳ kheo. Tâm thanh tịnh thì tất cả cũng trở thành thanh tịnh.

Nếu đặt mục tiêu yêu nước thương đạo, thì ta làm gì cũng nằm trong mục tiêu này, không cần đặt vấn đề giới, không đặt vấn đề làm việc này hay không làm việc kia. Mục tiêu là chánh, tất cả chỉ là phương tiện để đi đến mục tiêu.

Cứu cánh của người tu hành nhằm đạt tới Phật quả, nên Duy Ma nhắc vấn đề chính cốt đắc đạo. Giới chỉ là phương tiện giúp ta đắc đạo, không phải lấy giới ràng buộc để cột cứng ta lại, chẳng làm được gì.

Duy Ma hỏi Ưu Ba Ly tại sao ông thanh tịnh. Ưu Ba Ly trả lời vì đời này ông không phạm giới nên thanh tịnh. Duy Ma hỏi vậy đời trước ông có thanh tịnh không. Ưu Ba Ly trả lời hiện tại thanh tịnh thì quá khứ cũng thanh tịnh. Quá khứ thuộc về ảo giác nghĩa là nghiệp, không có thực thể.

Vì vậy, Đại thừa chủ trương nỗ lực làm việc thiện để xóa tội ác. Ưu Ba Ly nghiệp nhiều, nhưng nghe Phật thuyết pháp, tâm bỗng thanh tịnh, tội tự mất. Vì tội tự tánh Không, do vô minh mà có. Chính Phật làm cho Ưu Ba Ly tiêu tội. Tại sao ông không làm cho hai Tỳ kheo hết tội, mà còn tròng thêm tội lỗi cho họ.

Hai vị Tỳ kheo nghe Duy Ma giảng xong liền phát tâm Bồ đề. Trên bước đường tu hành, chúng ta lưu ý đừng để việc trì luật làm khổ ta và người. Nhận chân được Phật pháp chỉ có một vị giải thoát và tội tánh Không. Ta tạo nghiệp đều do ảo giác. Bao giờ ta chuyển được tâm hoàn toàn thanh tịnh, trí tuệ bừng sáng thì tội tự mất. Bồ đề tâm phát, tội tự tiêu, giống như mặt trời lên, bóng tối tan đi. Đạt được tâm địa này, ta chuyển hóa người, dần họ cũng hết phiền não nhiễm ô và thanh tịnh theo.

Chúng ta tinh tấn tu hành lấy giới tâm làm chánh. Giữ tâm Bồ đề kiên cố, quyết chí đạt được Như Lai huệ, cũng như luôn ấp ủ tình yêu thương đạo pháp, dân tộc và nhân loại. Từ đó, thể hiện thành việc làm phát triển đạo pháp, xây dựng đất nước, mang phước lạc cho dân tộc, cho nhân loại.

La Hầu La mật hạnh đệ nhất A la hán. Tuy ngài thực tu hạnh Bồ tát, nhưng bề ngoài hiện tướng phàm phu. Ngài thường gây chuyện bất hòa, nhằm tạo những thử thách giúp các Tỳ kheo tu chung nỗ lực vượt khó, trưởng thành trên bước đường hành đạo. La Hầu La phát nguyện tu nghịch hạnh đến khi các Tỳ kheo này đắc quả A la hán, ngài nhập diệt, vì đã hoàn tất bản nguyện.

Tuy nhiên, La Hầu La cũng vấp phải lỗi lầm về quan niệm xuất gia khi ngài khuyên các vương tử ở thành Tỳ Da Ly xuất gia để được công đức.

Có Duy Ma và La Hầu La nói chuyện thật hay không, không quan trọng. Đối với tôi, đây là vấn đề xuất gia đặt ra cho chúng ta suy nghĩ. Vì người theo đạo Phật không cúi đầu chấp nhận đơn giản, mà phải suy nghĩ cho cùng.

Dưới kiến giải của Đại thừa, thường nhìn hiện thực cuộc sống để suy nghĩ. Nhìn thấy sự thật cùng là vương tử, nhưng bốn người xuất gia mang đến bốn kết quả khác nhau. Thật vậy, Đức Phật xuất gia thành Phật, A Na Luật xuất gia bị mù mắt, La Hầu La xuất gia 25 tuổi chết. Riêng ngài A Nan xuất gia theo Phật, trở thành người kiết tập được tạng kinh của Phật giáo. Nhưng vẫn thấy Phật và A Nan xuất gia có thành quả khác nhau.

Từ sự hiện thực đó, Đại thừa không quan niệm xuất gia giống nhau chung chung. Mỗi người có hoàn cảnh và tâm niệm xuất gia khác nhau, đương nhiên dẫn đến kết quả khác nhau. Có người phê phán nếu quan niệm như vậy sẽ mất tính cách bình đẳng. Tuy nhiên, theo tinh thần Đại thừa, bình đẳng trên sanh diệt cuộc đời chỉ là bình đẳng tạm. Bình đẳng trên chân lý, tuy không thấy, nhưng là bình đẳng thực.

Tư tưởng Duy Ma nhằm chỉnh lý sai lầm của chúng ta về vấn đề xuất gia bằng cách mượn nhận thức sai lầm của một số người gắn lên cho La Hầu La. Mượn sự kiện chết sớm của La Hầu La để chỉ chúng ta thế nào là xuất gia đúng pháp.

Chúng ta thử kiểm xem tại sao Phật Thích Ca xuất gia tu thành Phật và tại sao La Hầu La tu lại chết sớm, A Na Luật tu lại mù mắt. Nói cách khác, Đại thừa muốn xác định lại việc tu sai pháp của người cố chấp hay vì lợi danh, để chúng ta tự chọn con đường tu thành Phật và từ bỏ con đường tu rồi bệnh hoạn, chết yểu.

Đại thừa khẳng định giáo lý Phật giúp hành giả có đời sống cao cả, không phải làm khổ đau. Đạo Phật là đạo diệt khổ, chữa lành thân bệnh, tâm bệnh cho chúng sanh, không phải tu để dẫn đến chết yểu.

Duy Ma hiện ra chỉnh La Hầu La xuất gia không có công đức. Cần phân biệt rõ hoàn cảnh, tâm niệm của Phật Thích Ca và La Hầu La đi tu khác nhau.

Đức Phật tu với tư cách con người đầy đủ phước đức mang tâm niệm cứu khổ chúng sanh. Ngài hoàn toàn khác với La Hầu La xuất gia để cầu phước đức. Người quan niệm xuất gia có phước đức rồi xuất gia, là lạc vào sai lầm lớn. Họ vì lợi mà xuất gia. Kẹt vào lợi thì có khác gì phát xuất từ lòng tham, thuộc nghiệp và phiền não, quả báo chắc chắn sẽ đến.

Ngược lại, Phật xuất gia vì muốn gánh vác trọng trách đối với chúng sanh, không phải vì phước lạc riêng, nên Ngài trở thành bất tử. Bao giờ còn chúng sanh, thì Phật còn hiện hữu. Từ góc độ này, hành giả suy nghĩ để điều chỉnh thai độ xuất gia của chúng ta và việc làm của chúng ta cho đúng con đường của Phật đã vạch ra.

Duy Ma khẳng định xuất gia không có công đức. Xuất gia là hy sinh để làm chuyện khó khăn hơn. Tại sao hành giả bỏ nhà đi tu. Vì có gia đình, chúng ta bị ràng buộc trong môi trường nhỏ hẹp, ý chí không tung hoành ngang dọc được. Vì ấp ủ tình thương bao la, muốn ôm cả vũ trụ vào lòng. Vì không trông coi gia đình nhỏ bé, mà muốn điều động cả thiên nhiên. Bỏ cha mẹ, người thân để bao phủ tình thương cho muôn loài… Tất cả những điều này đều khó làm, thuộc vô vi pháp, khởi lên từ những tâm hồn hướng thượng cao cả, từ chối quyền lợi thế gian đạt đến siêu xuất thế gian.

Sự nghiệp của người xuất gia là giáo hóa chúng sanh:

"Nhất bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Kỳ vi sanh tử sự

Giáo hóa độ xuân thu”.

Người xuất gia trau giồi giới đức và phát huy trí tuệ, đạt đến cái thấy, hiểu biết chính xác, làm cố vấn chỉ đạo cho mọi sinh hoạt thế gian. Người tu không thể hiện được việc này là có tội. Cả một trách nhiệm nặng nề mà người xuất gia phải gánh vác.

Duy Ma bảo La Hầu La đừng làm cho người thấy quyền lợi trước mắt mới đi tu. Phải thấy trọng trách của Phật giao phó cho chúng ta, cân nhắc xem chúng ta có thực hiện nổi hay không.

Duy Ma vẽ ra cho hành giả lộ trình của người xuất gia đúng chánh pháp là:

1.- Xuất thế tục gia:

Người xuất gia quyết tâm dứt khoát tất cả quyền lợi trên cuộc đời, hướng tâm cầu thành Vô thượng Đẳng giác. Hai vai luôn mang trọng trách phục vụ chúng sanh để thành tựu Phật quốc, không hưởng lợi lạc, chỉ hướng về chúng sanh đáp ứng mọi nhu cầu cho họ.

Người xuất gia bỏ nhà thế tục vào nhà Như Lai, bỏ sanh diệt vào sống trong không sanh diệt, làm thế nào để trở thành người bất tử như Phật. Đức Phật vì lòng thương đối với chư Thiên và loài người mà Ngài hiện hữu trong lòng người, bên cạnh người như tàng lọng che mát nhân gian.

2. – Xuất phiền não gia:

Người xuất gia đối diện với khó khăn chông gai, lòng không nao núng hay buồn phiền, oán hận. Đức Phật thường ví tâm dũng mãnh của người tu như đàn voi kéo nặng leo ngược dốc, nhưng không gì có thể cản bước tiến của nó.

Người xuất gia gạn lọc thân tâm trong sạch, rời xa tình cảm tham sân tầm thường. Nói chung, vui buồn vinh nhục, phiền não trần lao không tác hại được. Hành giả hiện hữu cao thượng ở thế gian như đóa sen thơm ngát vượt khỏi bùn lầy hôi tanh.

Người tu xuất phiền não gia tuyệt đối phải chấp nhận ba điều căn bản là người mắng chửi nói xấu ta, ta không được mắng chửi nói xấu lại. Người đánh ta, ta không được đánh lại. Người hại ta, ta không được hại lại.

3.- Xuất tam giới gia:

Hành giả quán sát lần cuối xem cái gì là TA, tức đối tượng quán sát là thân ngũ ấm. Xuất gia là ra khỏi nhà ngũ ấm hay ra khỏi nhà tam giới. Con người đau khổ với cái thân đòi hỏi miếng cơm manh áo và những dục vọng khát ái. Đó là tầng đau khổ thấp nhất của con người sống trong cõi Dục giới.

Tiến đến cái khổ thứ hai là tư duy sai lầm, chỉ cho những người sống trong Thiền định. Tuy họ có thân, nhưng không bị sự tác dụng của dục nhiễm. Hạng này sống ở tầng thứ hai của tam giới thuộc về Sắc giới.

Và trạng thái thứ ba của người sống ở Vô sắc giới. Họ không còn thân, nhưng còn Thức và chỉ sống với thức uẩn.

Ba trạng thái sống này là ba cái muôn đời đeo đẳng, buộc chặt chúng ta trầm luân sanh tử trong tam giới. Người xuất gia phải chuyển đổi ngũ uẩn thân thành ngũ phần Pháp thân là giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Chuyển bằng cách thanh lọc thân tâm sanh tử hữu lậu này đến mức thuần thiện, trở thành thân ngũ uẩn vô lậu. Lúc ấy, qua lăng kính tuệ giác, hành giả thấy chính xác mọi việc ở cả hai phương diện thể tánh và hiện tượng, cũng như vận dụng được mọi pháp một cách tự tại, không còn bị trói buộc trong sanh tử luân hồi. Đây là điểm cao nhất của lộ trình xuất gia.

Thành tựu được ba điểm nêu trên của người xuất gia, là tròn hạnh. Ngược lại, mang tâm niệm lợi danh phiền não nhiễm ô của đời mà bước vào đạo, là ta đã bôi nhọ ý nghĩa cao thượng của người xuất gia.

Duy Ma giảng xong, ngài khuyên các vương tử nên xuất gia. Họ đáp lại rằng nghe Phật dạy nếu cha mẹ không cho, không được xuất gia. Duy Ma trả lời rằng ngài không bảo họ xuất gia theo hình thức của La Hầu La. Theo ngài, bất cứ ai thể hiện được ba điểm nêu trên, là biểu tượng của người xuất gia. Nghĩa là mẫu người hiện hữu trên cuộc đời mang tâm niệm giải thoát, phát tâm Bồ đề, cầu trí tuệ vô thượng của Phật, tô điểm cho đời tươi sáng. Không câu nệ phần hình tướng xuất gia. Ai đầy đủ phương tiện nào, thì sử dụng hình thức nấy. Cốt yếu đạt đến đỉnh cao của tri thức và đạo đức.

A Nan đa văn đệ nhất A la hán, nghe và nhớ hết lời Phật dạy. Ngài nghe Phật nóikhông khỏe nên đến Bà la môn xin sữa cho Phật.

Duy Ma xuất hiện chỉnh A Nan, bảo ông nên yên lặng đừng để chư Thiên và Bồ tát mười phương nghe lời nói ấy. Ông nghĩ về Phật thế nào, mà nói Phật bệnh. Chuyển luân vương phước báu chưa bao nhiêu còn không tật bệnh. Như Lai có thân kim cang, các ác đã dứt, các lành tròn đủ, làm sao bệnh được. Nếu Phật không tự điều chỉnh thân, còn cứu được ai.

Đây là quan niệm trái ngược quan niệm nguyên thủy. Giáo lý Nguyên thủy nói đến Phật là nhắc đến sanh thân Phật Thích Ca tu hành, thành Phật, thuyết pháp và 80 tuổi chết.

Nhưng kinh Duy Ma mở màn cho kiến giải Đại thừa nhìn về Phật qua tinh thần, qua lý tưởng cao đẹp của Ngài. Phật cũng là con người, nhưng khác với chúng sanh ở điểm Ngài thành đạo. Thành đạo đồng nghĩa với chân lý. Trong thân tứ đại của Phật hàm chứa cái gì cao quý, đó là chân lý. Chân lý thì làm sao sanh già bệnh chết được. Kinh Pháp Hoa ví chân lý như hạt châu trong chéo áo, hay túi da đựng hạt châu.

Phật dạy Tu Bồ Đề nếu nhìn Như Lai qua ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, thì Như Lai không khác Chuyển luân Thánh vương. Thân ngũ ấm tuy giống nhau, nhưng bên trong là đạo đức thánh thiện và trí tuệ siêu việt của Phật kết tụ thành một hiện hữu khác biệt vượt hơn mọi người.

Hướng về Phật, nghĩa là chúng ta hướng về đạo đức và trí tuệ của Ngài. Kinh Pháp Hoa gọi là Phật thường trụ không sanh già bệnh chết. Chúng sanh nghiệp nặng, vô minh ngăn che, không thể tiếp cận được với vị Phật kết hợp bằng trí tuệ và đạo đức; nhưng Ngài vẫn luôn hiện hữu miên viễn trong tâm hồn người đắc đạo.

Ta kính trọng Đức Phật và đi theo con đường của Ngài, vì Ngài thể hiện trí tuệ tuyệt vời siêu nhân loại. Phật thấy biết và điều động mọi diễn biến trong tam thiên đại thiên thế giới một cách chính xác và an ổn. Trí tuệ của Ngài gọi là Pháp thân vô thỉ vô chung, bất sanh bất diệt, tồn tại mãi với thời gian. Chúng ta chưa thành Phật nhưng vẫn có Pháp thân. Pháp Thân này còn bị vô minh phiền não bó chặt. Vì vậy, Phật phải xuất hiện ở Ta bà để khai tri kiến cho chúng ta.

Ngoài trí tuệ hay Pháp thân bất sanh bất diệt, thân Phật còn kết tụ bằng đạo hạnh tinh khiết tích lũy từ nhiều đời, làm lợi ích cho vô số quần sanh. Ngày nay, trải qua hơn hai ngàn năm, Ngài vẫn còn là biểu tượng mô phạm cho cả nhân loại sùng kính quy ngưỡng.

Ta học Phật là học đạo đức của Ngài. Đạo đức là Báo thân hữu thỉ vô chung. Ba mươi tuổi, Phật thành đạo và Ngài tiếp tục phat huy đạo hạnh trong bốn mươi chín năm thuyết pháp, dìu dắt vô số chúng sanh đến con đường an lành giải thoát. Mỗi bước đi giáo hóa của Ngài, đạo đức ngời sáng thêm.

Phật diễn tả Báo thân của Ngài trong phẩm Như Lai thọ lượng: "Ta xưa tu hành đạo Bồ tát cảm thành thọ mạng, nay vẫn chưa hết, lại còn hơn số trên…”

Duy Ma dạy A Nan nhìn Phật qua Pháp thân và Báo thân, thì làm gì có bệnh. A Nan cảm thấy nghi ngờ. Ngài là người nghe nổi tiếng chính xác, chẳng lẽ nghe lầm sao. Đến đây mở ra cho hành giả ý niệm "Nghe chính xác bằng ngôn ngữ, nhưng nghe lầm bằng tư duy”, nghĩa là từ tinh thần Tiểu thừa chuyển sang Đại thừa.

Trên bước đường tu, chúng ta nghe Phật dạy theo ba cách. Cách thứ nhất nghe thanh trần bằng tai, hay đọc văn tự kinh, nhưng không giải thoát, không tác động gì đến cuộc song. Chúng ta đã nhận lầm "Trần” là pháp Phật. Kinh diễn tả A Nan nhận lầm Thế Tôn bệnh đi xin sữa, để chỉnh lại cái nghe của chúng ta.

Cách nghe thứ hai là nghe qua ngôn ngữ, phải suy nghĩ, hiểu được ý Phật hàm chứa bên trong. Điểm này kinh diễn tả A Nan nghe tiếng nói chư Thiên cho biết thân Kim cang Như Lai không bệnh. Nghe theo cách này, nghĩa là hiểu được cốt lõi Phật dạy và thể nghiệm trong cuộc sống có kết quả, dạy người giải thoát, mới thực là cái nghe trọn vẹn. Nghe bằng hành động thực tiễn tu hành của chúng ta.

Từ nghe bằng tai của thân sanh diệt, vì giữa A Nan và Phật liên hệ qua sanh thân, tiến đến gặp Duy Ma hay Tịnh Danh. Nói cách khác, bản tâm thanh tịnh của con người va chạm với thực tế nảy sanh ra tư duy, hình thành nên A Nan thứ hai là A Nan bằng tư duy.

Dưới nhãn quan của con người bằng tư duy quán sát sẽ hiểu Phật qua trí tuệ và đạo đức của Ngài. Không đơn thuần thấy Phật qua con người bằng xương thịt. Thấy Phật dưới dạng đức hạnh, nên Phật trọn lành, không tỳ vết, không bệnh, không ai phê phán được, mặc dù sanh thân Ngài có bệnh.

Với con người A Nan bằng xương thịt nghe Phật nói sao ghi y vậy là kinh Nguyên thủy. Tiến lên A Nan bằng tư duy nghe Phật thuyết, suy nghĩ và kiết tập lại là kinh Duy Ma.

Ở đây mượn sự sai lầm của tu sĩ Thượng tọa bộ đem gán lên cho A Nan để nhắc nhở hành giả dõi theo bước chân Phật, phải đọc giáo lý, phải suy nghĩ, nhận thức va ứng dụng vào cuộc sống; ngõ hầu nắm bắt được Pháp thân Phật tồn tại mãi trong thời gian vô tận và không gian vô cùng.

A Nan chợt bừng tỉnh khi nghe tiếng nói trên hư không rằng Duy Ma nói đúng, thân Như Lai là Kim cang thân. Vì muốn giáo hóa người ở Ta bà, Ngài ứng hiện sanh thân như họ. Ở mặt bản thể, Phật có Pháp thân thường trú bất sanh bất diệt; nhưng trên hiện tượng giới, mang thân tứ đại vào, dù thần thông biến hóa đến đâu cũng không thoát khỏi bốn tướng vô thường là sanh, già, bệnh, chết. Và Phật nhập diệt thì thân tứ đại cũng phải trả về cho cát bụi. Chỉ có đạo đức và trí tuệ của Phật còn lưu lại muôn đời cho nhân loại nương theo.

A Nan đang xúc động với sự cảm nhận có một Đức Phật thường hằng bất biến, thì nghe trên hư không có tiếng nói rằng A Nan, hãy đi lấy sữa, chớ có hổ thẹn.

Qua sự chất vấn, Duy Ma gợi cho ngài A Nan, hay gợi cho chính chúng ta hình ảnh Pháp thân và Báo thân hàm chứa bên trong Phật Thích Ca mang thân hữu hạn của con người bình thường. Gợi nhắc như vậy cũng có nghĩa là khơi dậy trong ta tấm gương đạo đức thuần thiện và trí tuệ siêu việt của Phật. Chính điều ấy tồn tại miên viễn trong lòng nhân thế, hòa đồng với vũ trụ bao la và thể nhập trong những tâm hồn giải thoát. Từng bước chân theo Phật, từng bước an lành của chúng ta đi trên con đường trí tuệ, đạo đức của Ngài.

Tóm lại, mười vị đại đệ tử tiêu biểu cho mười hạnh tu của Phật, gợi cho chúng ta nhận thức tu hành thế nào đúng chánh pháp. Mỗi vị chuyên tu một pháp, suốt đời chỉ rèn luyện một hạnh mà còn vấp phải sai lầm. Huống chi chúng ta thực hiện nhiều hạnh, chắc hẳn sẽ lạc vào sự sai trái và khó đắc quả.

Mới đọc qua kinh Duy Ma, chúng ta nhận thấy giá trị của Tỳ kheo thấp. Mười vị đại đệ tử đều lãnh đạo đại chúng, nhưng vẫn bị Duy Ma chê trách. Vì vậy dưới cái nhìn của Tiểu thừa, họ cho kinh này bôi nhọ chư Tăng. Làm gì có chư Tăng thấp kém hơn cư sĩ. Tuy nhiên, trên thực tế, điển hình tôi thấy cụ Lê Đình Thám, một nhân vật rất gần chúng ta. Ngài là Thầy cua các vị danh Tăng như Hòa thượng Mật Hiển, Hòa thượng Mật Nguyện, Hòa thượng Trí Thủ, Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Thiện Hòa, v.v…

Sự nhận thức của chúng xuất gia không chính xác bằng cư sĩ, gợi cho tôi liên tưởng đến hình ảnh Duy Ma là hiện thân của Phật. Ngài chỉnh lý mười đệ tử Phật để khích lệ chúng xuất gia nỗ lực phát triển đạo đức và tri thức, loại bỏ tánh tự mãn, ngõ hầu thăng hoa trên bước đường tu. Nếu không, chúng xuất gia sẽ dễ dàng vấp ngã trong đời ngũ trược ác thế này.

Dưới tầm nhìn của Đại thừa lấy tri thức làm nền tảng quyết định, thì hình thức bên ngoài mang thân cư sĩ hay xuất gia không thành vấn đề. Sự nhận thức của chúng ta ở tầm mức nào và chúng ta thành tựu được lợi ích gì cho xã hội, cho nhân loại. Chỉ có sự đóng góp này quyết định giá trị của chúng ta trên cuộc đời.

Kinh Duy Ma không có kinh Pháp Hoa phụ đính, chúng ta dễ hiểu sai lầm. Kinh Pháp Hoa cho thấy các đại đệ tử Phật không dở, không thua bất cứ người nào, chứ không riêng gì cư sĩ. Có thể nói các ngài giả bộ thua, để tạo thành tấm gương cho hàng tăng thượng mạn Tỳ kheo khiếp sợ, nỗ lực tu học. Điển hình như Ca Diếp có lần được Phật nhường cho ngài nửa tòa ngồi, thì làm sao Ca Diếp có thể thua được. Hoặc ngài Phú Lâu Na đã từng ở chín mươi ức Phật quá khứ hộ trì trợ tuyên chánh pháp của Như Lai. Trong hiện tại và trong hiền kiếp về tương lai, ngài cũng là bậc nhất. Hay ngài A Nan đã từng phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác với Phật Thích Ca từ thời Phật Không Vương. Thực sự, những vị này không phải thuộc hàng Thanh văn tầm thường. Kinh Pháp Hoa cũng xác định nếu Phật nói tất cả sự thật, mọi người sẽ không tu.

Đệ tử Phật thua Duy Ma, vì ý của Phật muốn như vậy. Phật sắp xếp cho họ thất bại, đẩy họ vào đường cùng để trí sanh, đưa ra một bài học giáo hóa sống động cho mọi người. Thật vậy, trên bước đường tu, thân tâm ta luôn chạm trán với những điều thuận nghịch, mới phát hiện được chân lý, tức thấy được sự thật của cuộc đời.

Mười đại đệ tử thể hiện pháp tu Thanh văn, nhưng thực sự các ngài có căn tánh Đại thừa. Xuất hiện trên sân khấu cuộc đời, đối trước những người mang tâm niệm chán đời, các ngài phải khoác chiếc áo tiêu cực yếm thế để giáo hóa để lần khai ngộ cho họ. Sự thực tâm hồn của các ngài quá cao thượng, đã cùng với Phật dấn thân trên vạn nẻo đường đời, tích cực trợ lực Phật trong việc tuyên dương chánh pháp, mới tạo được uy tín rộng lớn cho Tăng đoàn thời bấy giờ.

Công đức, hạnh nguyện và trí tuệ của các vị đại đệ tử như Đức Phật đã khẳng định trong kinh Pháp Hoa rằng ngoài Đức Như Lai, không ai có thể thấu biết được.