cool hit counter

Sách


Lời giới thiệu Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp
Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa Thiền định phóng quang và đàm kinh nhập diệu
Nguyện hương Đoạn phiền não – tâm bình an
Đảnh lễ Phật Giàu đạo đức, giàu tuệ giác
Lễ Phật quá khứ Giới đức pháp thân
Đảnh lễ Phật hiện tại An trụ tịch diệt tướng
Lễ Phật vị lai Ý nghĩa Phật Đản theo kinh Pháp Hoa
Đảnh lễ Bồ tát Phật giáo và dân tộc Việt Nam
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh hoằng thông liệt vị Tổ sư Hoằng pháp ở thế kỷ XXI
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh thủ hộ thiện thần Dòng chảy miên viễn của Thiền
Sám hối Đức Phật sống mãi với chúng ta
Phát nguyện Đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật
Ý nghĩa thọ trì 7 phẩm Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Chùa mục đồng ở Nam bộ
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ nhất Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định của mọi thành công
Ý nghĩa phẩm Pháp sư Phật giáo, con đường dẫn đến sự sống hòa bình, phát triển, an lạc, hạnh phúc cho nhân loại.
Ý nghĩa phẩm Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15 Sức sống Thiền của Trần Thái Tông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 Sống trong tỉnh giác
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17 Quan niệm về kinh tế trong Phật giáo
Ý nghĩa phẩm Phổ Môn thứ 25 Những nét đẹp của Phật giáo Lý Trần
Ý nghĩa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28 Nghệ thuật trong Phật giáo
Hồi hướng Ý nghĩa nhà lửa tam giới trong kinh pháp hoa
Ý nghĩa tụng thủ hộ thần chú Ý nghĩa lễ tắm Phật
Ý Nghĩa Quy Y Tam Bảo Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm
Năm Giới Của Người Phật Tử Tại Gia Ý nghĩa Vu Lan  
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Pháp Hoa Và Tụng Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Sám Hối Nhứt Phật thừa
Ý Nghĩa Tụng Kinh Dược Sư Và Niệm Phật Dược Sư Quán tứ niệm xứ
Ý Nghĩa Niệm Phật Di Đà Tứ chánh cần
Lời nói đầu Tứ như ý túc
I. Lý do chọn 21 ngày tu gia hạnh Phổ Hiền
Ngũ căn ngũ lực
II. Ý nghĩa của sự khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày thành đạo của Phật Di Đà là ngày 17 tháng 11 và kết thúc vào ngày thành đạo của Phật Thích Ca là ngày mùng 8 tháng 12 Thất Bồ đề phần
III. Kết luận Thúc liễm thân tâm
Lời tựa Tùy duyên  
Tổng luận Thanh tịnh hóa thân tâm
Pháp hội 1 : Tam Tụ Luật Nghi Nhứt thiết Chúng sanh Hỷ kiến Bồ Tát
Pháp hội 2: Vô Biên Trang Nghiêm Đà la ni Chánh kiến
Pháp hội 3 : Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Tam quy và pháp niệm Phật
Pháp hội 5: Vô Lượng Thọ Như Lai Hài hòa để cùng tồn tại và phát triển
Pháp hội 6: Bất Động Như Lai Hạnh khiêm cung và bát kỉnh pháp
Pháp hội 7: Mặc Giáp Trang Nghiêm An lạc hạnh  
Pháp hội 8: Pháp Giới Thể Tánh Vô Sai Biệt Những kinh nghiệm giảng dạy
Pháp hội 9 : Đại Thừa Thập Pháp Kinh nghiệm giảng dạy Kinh Hoa Nghiêm
Pháp hội 10: Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn Một số đề tài gợi ý cho những bài thuyết giảng của Tăng Ni sinh Khóa Giảng sư
Pháp hội 11: Xuất Hiện Quang Minh & Pháp hội 12 : Bồ Tát Tạng Nổ lực tự học để kế thừa và phát huy được tinh ba của Thầy, Tổ.
Pháp hội 14: Phật Thuyết Nhập Thai Tạng Một số phương hướng cho ngành Hoằng pháp
Pháp hội 15: Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký Vài suy nghĩ về Hoằng pháp trong thời hiện đại
Pháp hội 16: Bồ Tát Kiến Thiệt Hoằng pháp trong thế kỷ 21
Pháp hội 17: Phú Lâu Na Nhà Hoằng pháp và giáo dục tiêu biểu trong thế kỷ XX
Pháp hội 18: Hộ Quốc Bồ Tát Hoằng pháp ở thế kỷ 21(thuyết giảng ngày 20 – 24 tháng 6 năm 2007)
Pháp hội 19: Úc Già Trưởng Giả Điểm chung nhứt của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền
Pháp hội 20: Vô Tận Phục Tạng Mô hình Hoằng pháp tại nước nhà trong thời đại ngày nay
Pháp hội 21: Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La Tư cách của vị trụ trì
Pháp hội 23: Ma Ha Ca Diếp Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại
Pháp hội 24: Ưu Ba Ly Ý nghĩa trụ trì
Pháp hội 25: Phát Thắng Chí Nguyện Trụ trì, người giữ chùa
Pháp hội 26: Thiện Tý Bồ Tát Kinh nghiệm làm trụ trì
Pháp hội 27 : Thiện Thuận Bồ Tát Tam pháp ấn
Pháp hội 28: Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả Nét đẹp của Phật giáo Nam Tông Khơ Me
Pháp hội 29: Ưu Đà Diên Vương Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện đại
Pháp hội 30: Diệu Huệ Đồng Nữ Điều thiết yếu của người tu : Sức khỏe tốt, trí sáng suốt và trái tim nhân ái
Pháp hội 31: Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di An trụ pháp tịch diệt
Pháp hội 32: Vô Úy Đức Bồ Tát Hoằng pháp và trụ trì
1. Lời tựa Đạo đức hành chánh
2. Khái niệm về kinh Duy Ma Ba điểm quan trọng đối với tân Tỳ kheo
3. Quán chúng sanh theo kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (Thuyết giảng tại chùa Phổ Quang)
4. Bất Nhị pháp môn trong kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (thuyết giảng tại chùa An Phước)
5. Ý nghĩa phẩm Phật Hương Tích trong kinh Duy Ma Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ : Học, tu và làm việc
6. Quan niệm về đức Phật trong kinh Hoa Nghiêm Truyền trao giới pháp và lãnh thọ giới pháp đúng như pháp.
7. Ý nghĩa lễ Phật theo kinh Hoa Nghiêm Giới tánh Tỳ kheo
8. Ý nghĩa phương tiện theo kinh Pháp Hoa Lời tựa       
9. Ý nghĩa thí dụ ba xe và nhà lửa trong kinh Pháp Hoa Tiểu sử
10. Ý nghĩa hóa thành dụ trong kinh Pháp Hoa Giới tánh tỳ kheo  
11. Pháp sư của kinh Pháp Hoa Hoằng pháp và trụ trì  
12. Ý nghĩa Long Nữ dâng châu trong kinh Pháp Hoa An lành và tĩnh giác
13. An Lạc Hạnh theo kinh Pháp Hoa Nghĩ về sự thành đạo của Đức Phật
14. Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất Mùa Xuân đọc kinh Hoa Nghiêm
15. Cảm niệm về Bồ Tát Phổ Hiền Sự lớn mạnh của Phật giáo song hành với thành phố phát triển 300 năm
Lời tựa Khai Thị 2009 Những quan niệm về Đức Phật
Xuân trong Phật đạo Thế giới tâm thức và thế giới hiện thực
Phước Lộc Thọ Pháp phương tiện
Hạnh xuất gia Tụng kinh, lạy Phật, sám hối và thiền quán
Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo Đức hạnh của vị Tỳ kheo
Hạnh nguyện Quan Âm Hành trình tâm linh : nẻo về vĩnh hằng của người tu
Tàm Quý Ý nghĩa Phật Đản PL. 2542 - 1998
Họa phước vô môn Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật
An cư kiết hạ Nương nhờ đức từ của Tam bảo
Phật giáo và vấn đề tác hại của thuốc lá Ý nghĩa Kim Cang thừa trong Phật giáo
Phật giáo và bảo vệ môi trường Cảm nghĩ về Đức Phật A Di Đà
Phật giáo và thiếu nhi Ý nghĩa Vu Lan 1998
Nói không với ma túy Bồ Tát Đạo
Đạo đức ở tại gia Mùa An cư : sáu thời tịnh niệm
Mỉm cười trong đau khổ Tinh thần Phật giáo Đại thừa
Phật giáo và dân số Phật giáo hướng về tương lai
Kính lão đắc thọ Ý nghĩa lễ Vu Lan PL 2542 - 1998 (thuyết giảng tại trường hạ chùa Hội Khánh)
Hành trì giới luật Chơn thân – huyễn thân
Ý nghĩa Vu lan Tư cách của vị trụ trì  
Hạnh nguyện Địa Tạng Bồ tát Tâm từ bi của Đức Phật
Nối vòng tay lớn 9 tuần tu học đồng đăng Cửu Phẩm Liên Hoa
Niềm vui của tuổi già Những việc cần làm trong 3 tháng An Cư
Kiến thức và trí tuệ Những việc cần làm trong 3 tháng an cư Suy nghĩ về linh hồn trong Phật giáo
Tình người Hoằng pháp   
Hạnh nguyện Bồ tát hay Bồ tát đạo Tìm hiểu ngôn ngữ của Đức Phật
Tha lực và tự lực Mùa Xuân trên đất Bắc
Hạnh nguyện Dược Sư Lời tựa        
Ơn Thầy Ý nghĩa cầu an
Vượt qua mặc cảm Hạnh nguyện Phổ Hiền
Lời tựa Lược giải Kinh Hoa Nghiêm Bản chất Niết bàn
Nghề nghiệp chân chánh Niềm tin chân chánh
CHƯƠNG I – LỊCH SỬ KINH HOA NGHIÊM
        I - Khái niệm về lịch sử kinh Hoa Nghiêm
Hóa giải hận thù
    II - Lịch sử truyền thừa và phát triển kinh Hoa Nghiêm Phật giáo và hòa bình thế giới
  III - Nội dung kinh Hoa Nghiêm Quốc thái dân an
CHƯƠNG II - Ý NGHĨA ĐỀ KINH HOA NGHIÊM Giải tỏa oan ức
CHƯƠNG III – QUAN NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT THEO KINH HOA NGHIÊM
       I - Quan niệm về Đức Phật trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
Vững trước khen chê
   II - Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Ý nghĩa sức mạnh hòa hợp
  III - Quan niệm về Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm Âm siêu dương thạnh
CHƯƠNG IV – BỒ TÁT ĐẠO
      I - Bồ tát Thập Tín
Thực tập nhẫn nhục
  II - Bồ tát Thập Trụ Thành công và thất bại
 III - Bồ tát Thập Hạnh Chiến thắng chính mình
IV - Bồ tát Thập Hồi hướng Thân cận người trí
 V - Bồ tát Thập Địa hay Thập Thánh Sống hạnh viễn ly
VI - Bồ tát Thập Định Ý nghĩa bờ bên kia
VII - Bồ tát Thập Thông Hương thơm đức hạnh
VIII - Bồ tát Thập Nhẫn Tòa án lương tâm
CHƯƠNG V – PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI Củng cố niềm tin
   1- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Đức Vân Tỳ kheo Giá trị cuộc sống
   2- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Vân Tỳ kheo Giáo dục con cái
   3- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Trụ Tỳ kheo Vượt qua tật bệnh
   4- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Di Già Đền ơn đáp nghĩa
   5- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Giải Thoát Thân phận con người
   6- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Tràng Tỳ kheo Sức mạnh của ý chí
   7- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hưu Xã Ưu bà di Quan niệm về Tịnh Độ
   8- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa Cư trần lạc đạo
   9- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thắng Nhiệt Bà la môn Làm mới cuộc sống
   10- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Từ Hạnh đồng nữ Lời tựa        
   11- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Kiến Tỳ kheo Ăn chay lợi cho sức khỏe và tâm linh
   12- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tự Tại Chủ đồng tử Chuyển hóa sanh thân thành pháp thân
   13- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Cụ Túc Ưu bà di Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam
   14- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Minh Trí Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị Tổ sư người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam
   15- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Pháp Bửu Kế Mật tông tại Việt Nam
   16- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Phổ Nhãn Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng
   17- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Vô Yểm Túc Phật giáo đi vào cuộc sống
   18- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Đại Quang Sự hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ
   19- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bất Động Ưu bà di Sức mạnh hòa hợp
   20- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Biến Hành ngoại đạo Tác động hỗ tương giữa thân và tâm
   21- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Ưu Bát La Hoa Tận dụng phương tiện hiện đại trong việc hoằng pháp
   22- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thuyền trưởng Bà Thi La Tứ chánh cần  
23.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Vô Thượng Thắng hay Di Lặc Bồ Tát Tu thiền tại Việt Nam
24- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân Vai trò của ni giới Việt Nam trong xã hội hiện đại
25- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với bà Tu Mật Đa nữ Ý nghĩa hóa thân Phật thuyết pháp
26- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Tỳ Sắc Chi La Ý nghĩa kệ dâng y
28.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Chánh Thu Ý nghĩa tập trung phân thân
27.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Quán Tự Tại Ý nghĩa tịnh độ
29- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thần Đại Thiên Cầu nguyện mùa vu lan
30- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Địa thần An Trụ Cư sĩ Phật giáo
31- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với chủ Dạ thần Bà San Bà Diễn Để Đạo đức Phật giáo trong tương lai
32- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Dạ thần Khai Phu Nhứt Thiết Thọ Hoa và Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Nhứt Thiết Chúng Sanh Điểm chung nhứt của Phật giáo nam truyền và bắc truyền  
33- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thọ thần Diệu Đức Viên Mãn Giới luật của người Phật tử tại gia
34- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ tát Di Lặc Bồ đề quyến thuộc
35- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Mối tương quan với thế giới siêu hình
36- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Phổ Hiền Bồ tát Chân tinh thần Phật giáo Bắc tông
CHƯƠNG VI – PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI – PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN Trồng căn lành và sám hối
16. Niết bàn theo kinh Pháp Hoa Lợi ích của an cư kiết hạ
17. Giáo dục của Phật Giáo Đại Thừa Tứ niệm xứ, tứ chánh cần
18. Những điều kiện tu Bồ Tát đạo Mùa xuân vĩnh hằng
19. Ngôi chùa tâm linh Kiến trúc Phật giáo
20. Hành trình về chân linh Kiến trúc Phật giáo  
21. Tu tâm Niềm tin của người phật tử Việt Nam
22. Canh tâm điền Sự an lạc trong gia đình
23. Đường về Yên Tử Báo đáp ơn nghĩa sinh thành
24. Nếp sống của một vị danh tăng Quan niệm về tịnh độ của kinh Di Đà
25. Ý nghĩa Phật Đản Pl.2538 (Tứ Nhiếp Pháp) Tam pháp ấn  
26. Ý nghĩa lễ đức Phật thành đạo Tinh thần từ bi hỷ xả, con đường tốt nhất đi đến hòa bình, phát triển và an lạc cho nhân loại
27. Phật giáo Việt Nam đang hướng về phía trước trên tinh thần vô ngã vị tha Từ bi và hòa bình trong Phật ngọc
28. Xuân hoan hỷ Tình yêu và giới tính theo tinh thần Pháp Hoa
29. Xuân trong cửa thiền Xây chùa, tô tượng, đúc chuông
30. Xuân của hành giả Pháp Hoa Xuân trong cửa đạo
Lời tựa lược giải kinh Pháp Hoa Bồ Tát Thích Quảng Đức, một bậc danh tăng siêu việt của thế kỷ 20
Lịch sử kinh Pháp Hoa Cái chết đối với người phật tử
Kinh đại thừa vô lượng nghĩa Giáo dục ở tự viện
Phẩm 1: Tựa Giới định tuệ
Phẩm 2: Phương tiện Khắc phục nghiệp, giữ chánh niệm, trụ chánh định
Phẩm 3: Thí dụ Khởi nghiệp mưu sinh theo Phật giáo
Phẩm 4: Tín giải Lễ Phật theo bổn môn Pháp Hoa
Phẩm 5: Dược thảo dụ Ngôi chùa tâm linh
Phẩm 6: Thọ ký Nhập không môn, vào vô lượng nghĩa định
Phẩm 7: Hóa thành dụ Nữ giới Phật giáo và sự kết nối toàn cầu
Phẩm 8,9: Ngũ bá đệ tử thọ ký, thọ học vô học nhơn ký Pháp phục của tăng ni Việt Nam
Phẩm 10: Pháp sư Phật giáo và môi trường sinh thái  
Phẩm 11: Hiện bảo tháp Phật giáo và phù đổng Thiên Vương
Phẩm 12: Đề Bà Đạt Đa Thâm nhập không môn
Phẩm 13: Trì Trụ định, hành trang tối thiểu của người tu
Phẩm 14: An lạc hạnh Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng
Phẩm 15: Tùng Địa Dũng Xuất Tu vô lượng nghĩa kinh, sống trong vô lượng nghĩa định, thâm nhập hội Pháp Hoa.
Phẩm 16: Như Lai thọ lượng Vô lượng nghĩa kinh và vô lượng nghĩa xứ tam muội
Phẩm 17: Phân biệt công đức Xây dựng đạo đức của người tu
Phẩm 18: Tùy hỷ công đức Yếu nghĩa của phẩm pháp sư, kinh Pháp Hoa
Phẩm 19: Pháp sư công đức Hướng đi của Phật giáo Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
Phẩm 20: Thường bất khinh Bồ Tát Những điều tâm đắc về hoằng pháp ( thuyết giảng tại Bình Định)
Phẩm 21: Như Lai thần lực Ý nghĩa Phật đản PL. 2550-2006
Phẩm 22: Đà La Ni Mỹ thuật Phật giáo
Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát bổn sự Vai trò của người phụ nữa trong kinh Hoa Nghiêm
Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát Những tư tưởng hòa bình, hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam
Phẩm 25: Phổ môn Đức Phật hằng hữu trong mỗi chúng ta
Phẩm 26: Diệu Trang nghiêm vương bổn sự Vai trò của Tăng già trong thời hiện đại
Phẩm 27: Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát Phật giáo trong nền toàn cầu hóa
Phẩm 28: Chúc lụy Giáo dục Phật giáo
Preface Một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa
Lời tựa lược giải kinh Duy Ma Ý nghĩa cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa
Tổng luận lược giải kinh Duy Ma Tịnh độ
Phẩm 1: Phật quốc Hóa thành dụ
Phẩm 2: Phương tiện   Phật giáo Nam tông vá Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Phẩm 3: Thanh văn Phật giáo trong lòng nhân dân miền Nam
Phẩm 4: Bồ Tát Vị trí của Pháp sư Huyền Trang trong Phật giáo
Phẩm 5: Văn Thù Sư Lợi thăm bệnh Xuân về trên cõi Tịnh
Phẩm 6: Bất tư nghì Vãng sanh cực lạc
Phẩm 7: Quán chúng sanh Cầu siêu bạt độ
Phẩm 8: Phật đạo Công đức của kinh Pháp Hoa
Phẩm 9: Nhập bất nhị pháp môn Nghệ thuật trong Phật giáo  
Phẩm 10: Phật Hương Tích Hoằng pháp ở thế kỷ 21
Phẩm 11: Bồ Tát đạo An cư dưỡng tánh - Thị phi phủi sạch
Phẩm 12: Kiến Phật A Súc Giữ giới và quán chiếu với tứ Thánh đế
Phẩm 13: Pháp cúng dường Gắn tâm với Đức Phật, với giáo pháp và Hiền thánh tăng
Phẩm 14: Chúc lụy Bốn pháp giải thoát
Lời tựa           Gạn sạch phiền não, nghiệp chướng, trần lao
Lịch sử Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Sám hối nghiệp chướng
Ý nghĩa Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Pháp Hoa chân kinh
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ I Ý nghĩa 12 đại nguyện của Đức Phật Dược Sư
Ý nghĩa phương tiện và chân thật Vũ trụ quan theo Phật giáo
Ý nghĩa Thí Dụ Sống an lạc, chết siêu thoát
Ý nghĩa phẩm Pháp Sư thứ 10 Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng
Ý nghĩa phẩm An Lạc Hạnh thứ 14 Quan niệm về đức Phật theo kinh Pháp Hoa  
Ý nghĩa phẩm Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ mười lăm Pháp Phật và an toàn giao thông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ mười sáu Đức Phật của chúng ta
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, phẩm Pháp Sư công đức thứ 19 Đạo đức Phật giáo
Bồ Tát hạnh: Dược Vương Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Diệu Trang Nghiêm Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Bồ tát hạnh theo kinh Pháp Hoa
Lời tựa           Mùa xuân của hành giả phát tâm bồ đề
Pháp Hội 33 : Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện Những điều tâm đắc về kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 34 : Công Đức Bửu Hoa Phu Bồ Tát Ý nghĩa Phật Đản PL 2543 - 1999
Pháp Hội 35 : Thiện Đức Thiên Tử Kinh nghiệm hoằng pháp  
Pháp Hội 36 : Thiện Trụ Ý Thiên Tử Tìm hiểu xã hội học Phật giáo
Pháp Hội 37 : A Xà Thế Vương Tử Theo dấu người xưa
Pháp hội 38: Đại Thừa Phương Tiện Những điều cần làm trong mùa An cư
Pháp Hội 39 : Hiền Hộ Trưởng Giả Bốn bậc trưởng lão được kính trọng
Pháp Hội 40 : Tịnh Tín Đồng Nữ Trở về viên minh tánh
Pháp Hội 41 : Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp Điều kiện để có kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 42 : Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại  
Pháp Hội 43 : Phổ Minh Bồ Tát Ý nghĩa an cư kiết hạ
Pháp Hội 44 : Bửu Lương Tụ Bồ tát quả môn
Pháp Hội 45 : Vô Tận Huệ Bồ Tát Mùa an cư - tiến tu tam vô lậu học
Pháp Hội 46 : Văn Thù Thuyết Bát Nhã Công việc của Tỳ kheo chân chánh
Pháp Hội 47 : Bửu Kế Bồ Tát Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ
Pháp Hội 48 : Thắng Man Phu Nhân Bất biến, tùy duyên
Pháp Hội 49 : Quảng Bác Tiên Nhân Bàn về nghi lễ
Pháp Hội 50 : Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm Tu hành đúng như pháp là tối thượng cúng dường
Pháp Hội 52 : Bửu Nữ Chọn pháp tu an lạc
Pháp Hội 53 : Bất Thuấn Bồ Tát Phát huy chân linh
Pháp Hội 54 : Hải Huệ Bồ Tát Nghĩ về Phật giáo Nhật Bản
Pháp Hội 55 : Hư Không Tạng Bồ Tát Ý nghĩa phẩm Tín giải trong kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 56 : Vô Ngôn Bồ Tát Bồ đề tâm  
Pháp Hội 57 : Bất Khả Thuyết Bồ Tát Đức Phật trong nền văn minh Ấn Độ
Pháp Hội 58 : Bửu Tràng Bồ Tát Một chuyến đi về miền đất Phật
Pháp Hội 59 : Hư Không Mục Giác Ngộ với thiên niên kỷ 3
Pháp Hội 60 : Nhựt Mật Bồ Tát Suy nghĩ về số mệnh trong Phật giáo
Pháp Hội 61 : Vô Tận Ý Bồ Tát Thiền trong đời thường
Lời tựa  Hướng về Thánh tích của Phật giáo
Tiểu sử   Lời tựa           
Thọ giới, tu hành, nỗ lực thâm nhập dòng thác trí tuệ Tam vô lậu học  
Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội Quý nhứt trên đời
Thức ăn tinh thần của người tu Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng  
Thực tu, cảm hóa được chư thiên và quần chúng Sinh hoạt trong mùa An cư  
Trau dồi giới đức, siêng tu tam vô lậu học Suy nghĩ về ý mã tâm viên  
Lời tựa    An lạc hạnh   
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2539 -1995 Tam vô lậu học: Giới, Định, Tuệ  
Tam vô lậu học An cư kiết hạ   
Quý nhất trên đời Cơm Hương Tích  
Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng Bồ tát đạo   
Ý nghĩa Vu lan PL. 2539 - 1995 Mùa An cư sáu thời tịnh niệm  
Nhìn về thế kỷ 21 Tinh thần Phật giáo Đại thừa  
Xuân Pháp Hoa Nhân duyên - căn lành  
Hướng về tương lai Chơn thân - huyễn thân  
Ý nghĩa Niết bàn Chín tuần tu học, đồng đăng cửu phẩm Liên hoa  
Internet, những nỗi lo mới Những việc cần làm trong ba tháng An cư  
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2540 -1996 Hành trang của người xuất gia: căn lành và Phật hộ niệm  
Cảm nghĩ về hoài bão của Đức Phật Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật  
Phật giáo và thực tiễn cuộc sống Trở về viên minh tánh  
Sinh hoạt trong mùa An cư Theo dấu người xưa  
Suy nghĩ về ý mã tâm viên Những điều cần làm trong mùa An cư  
Suy nghĩ về hoằng pháp Tu tâm  
An lạc hạnh Bốn bậc trưởng lão được kính trọng  
Tam vô lậu học : Giới-Định-Tuệ Bồ tát quả môn   
An cư kiết hạ   Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ  
Cơm Hương Tích Mùa An cư - tiến tu Tam vô lậu học  
Ý nghĩa lễ Vu lan Bất biến, tùy duyên  
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2540 - 1996 Công việc của Tỳ kheo chân chánh  
Ơn nghĩa đồng bào Phát huy chân linh  
Hướng về những người con tương lai của đất nước Bàn về nghi lễ  
Hãy đến với Chương trình "Hiểu và Thương" Sáu pháp hòa kỉnh trong mùa An cư  
Lòng từ của Bồ tát Quan Âm Đại thừa Phật giáo  
Bồ đề tâm Tu trên ngũ uẩn thân  
Suy tư của người Phật tử về những vấn đề lớn Trụ pháp và lực gia bị của Phổ Hiền  
Đầu tư - vấn đề nan giải Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ: học, tu và làm việc  
Những điều tâm đắc trên đường về Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Lấy từ bi xóa hận thù Hài hòa, con đường an lành  
Thuận lợi và nguy cơ Nếp sống của người tu  
Lá thư Tổng Biên tập Con đường giải thoát  
Lá thư Xuân (trích Nguyệt san GN số 10) Kinh Đại Bảo Tích pháp hội 59: Hư không mục  
Ý Xuân Ý nghĩa sám Pháp Hoa  
Lá thư Xuân (trích Báo GN số 41) Phật giáo Nam tông  
Những suy nghĩ về Hội nghị kỳ 5 khóa III Trung ương Giáo hội Đạo lực
Năm mới với niềm hy vọng mới Năm đặc điểm của người tu
Trách nhiệm và chức vụ Ý nghĩa Tam vô lậu học
Thành quả của Đại hội Phật giáo TP. HCM kỳ V Pháp tu trong ba tháng An cư
Sự đi lên của Phật giáo miền Trung Hướng đi giải thoát
Hướng phát triển tốt đẹp trong mùa An cư Hạnh an lạc
Hướng về ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7 Tỉnh giác là chơn giác
Lễ Vu lan - ngày đền ơn đáp nghĩa của Đông phương Ý nghĩa xuất gia  
Thương tiếc danh tăng An cư và hạnh đầu đà
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2541 - 1997 Cảm niệm Phật A Di Đà
Mừng 52 năm, một chặng đường phát triển của đạo pháp Cùng giúp nhau hoàn thiện tư cách người xuất gia
Vấn đề trẻ hóa lãnh đạo Hành đạo tùy duyên
Phật giáo Việt Nam, một tương lai tươi sáng Nhu đạo và Tịnh độ
Kết quả Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV Những kinh nghiệm tu hành
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VI (1994) Sự hộ niệm của Phật, Bồ tát, Thiên Long Bát Bộ
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VII (1999) Thể nghiệm pháp Phật
Cảm niệm cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa Tịnh độ   
Cảm niệm ân sư Trụ pháp Vô sanh
Đức Pháp chủ là biểu tượng đoàn kết các hệ phái Phật giáo Tu hành là chuyển hóa hữu lậu ngũ uẩn thành vô lậu ngũ uẩn
Cảm niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ Vai trò của nữ tu Phật giáo trong thời Bắc thuộc
Cảm niệm về Hòa thượng Thích Thiện Hào Y báo và chánh báo
Duyên kỳ ngộ Ý nghĩa Tịnh độ   
Hồi tưởng về đức hạnh của Hòa thượng Thích Tâm Thông Tất cả pháp môn tu đều là Phật pháp
Sáng niềm tin Ngộ tánh khởi tu
Một hình ảnh khó quên trong cuộc đời hoằng pháp của tôi Theo dấu chân Phật   
Cảm niệm ân sư (Kỷ niệm lễ chung thất Hòa thượng Thích Trí Đức) Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức
Những kỷ niệm với Hòa thượng Thích Thiện Châu Những khởi sắc của Phật giáo tỉnh Lâm Đồng
Nghĩ về Hòa thượng Thích Thanh Kiểm Trau dồi giới đức, phát triển tuệ lực
Tưởng niệm Ni trưởng Huê Lâm Tu đúng pháp
Ni sư Huỳnh Liên Tâm đức và tuệ đức
Nghĩ về Ni trưởng Như Hòa nhân ngày Tiểu tường An cư là tịnh hóa thân tâm
Lời nói đầu   An trú bây giờ và ở đây
Hoằng pháp Tăng trưởng đạo lực
Những điều tâm đắc về hoằng pháp Đi theo dấu chân Phật và các bậc tiền nhân
Kinh nghiệm hoằng pháp Tâm là Diệu pháp, thân là Liên hoa
Hoằng pháp theo nhân duyên Tu là chuyển nghiệp
Ý nghĩa thuyết pháp Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học.
Giáo dục và hoằng pháp Nương lực Phổ Hiền Bồ tát để tiến tu
Lời tựa      Sống vô ngã vị tha
Ý nghĩa kinh hành niệm Phật Trí tuệ và đạo đức là sức mạnh của người tu
Ý nghĩa tĩnh tâm Tinh thần tùy duyên và bất biến
Lục hòa Làm cho đất nước cũng là làm cho Phật giáo
Sáu pháp ba la mật Bình thường tâm thị đạo và ngôi chùa tâm linh
Tịnh độ theo kinh Duy Ma Học hiểu giáo lý đúng đắn và ứng dụng có hiệu quả vào cuộc sống tu hành
Tam minh Phát huy đạo đức và trí tuệ làm đẹp cho đạo tốt cho đời
Hồi hướng theo kinh hoa nghiêm Ngủ trong tỉnh thức
Xử thế của đạo Phật Sự gắn bó giữa Tăng Ni và Phật tử là điều cần thiết
Tam bảo Nhận ra con người thực của mình để tiến tu
Nhập thế của đạo Phật Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định mọi thành công
Tứ hoằng thệ nguyện Ý nghĩa hồng danh sám hối
Xuân Di Lặc Đoạn phiền não - tâm bình an  
Báo hiếu theo kinh vu lan Giàu đạo đức, giàu tuệ giác  
Phật giáo và pháp luật Giới đức Pháp thân  
Khái niệm về giới luật của người phật tử tại gia An trụ tịch diệt tướng  
Ý nghĩa xuất gia Lắng tâm, tịnh niệm  
Ngọn đuốc xuân Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh  
Ngũ uẩn Ngũ ấm ma trong chúng ta  
Hòa thượng Thích Quảng Đức, một con người bất tử Phát huy đạo lực  
Mông sơn thí thực Sống trong tỉnh giác  
Tính cách pháp lý của giáo hội Tấm gương sáng của Tổ Huệ Đăng  
Những thành quả của giáo hội Phật giáo Việt Nam Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp  
Ý nghĩa đại trai đàn Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội  
Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa Thức ăn tinh thần của người tu  
Lắng tâm, tịnh niệm Thực tu, cảm hóa được chư Thiên và quần chúng  
Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh. Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm  
Ngũ ấm ma trong chúng ta Trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Phát huy đạo lực Tu bồi cội phúc  
Phước đức và trí tuệ Tùy duyên      
Tấm gương sáng của tổ Huệ Đăng Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa  
Tâm tạo ra tất cả Ý nghĩa Nhà lửa tam giới trong kinh Pháp Hoa  
Tu bồi cội phúc Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa  
Tùy duyên  

 

Phẩm 7: Quán chúng sanh

 

I. LƯỢC VĂN KINH

Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi Duy Ma Cật rằng Bồ tát quán sát chúng sanh như thế nào.

Duy Ma Cật đáp: Ví như nhà huyễn thuật thấy người huyễn của mình hóa ra, Bồ tát quán chúng sanh cũng như thế. Như người trí thấy trăng dưới nước, thấy mặt trong gương, như ánh nắng dợn, như mây giữa hư không, như bọt nước, như cây chuối bền chắc, như đại thứ năm, như ấm thứ sáu, như căn thứ bảy, như tam độc của A la hán, như tham giận phá giới của Bồ tát chứng Vô sanh nhẫn, như tập khí phiền não của Phật, như người mù thấy sắc tướng, v.v… Bồ tát quán sát chúng sanh cũng như thế đó.

Ngài Văn Thù hỏi: Nếu Bồ tát quán sát như thế phải thực hành lòng Từ thế nào.

Duy Ma Cật đáp: Bồ tát quán sát như thế rồi tự nghĩ rằng ta phải vì chúng sanh nói pháp như trên. Đó là lòng Từ chân thật. Thực hành lòng Từ tịch diệt bởi vì không sanh. Thực hành lòng Từ không nóng bức, bởi không có phiền não. Thực hành lòng Từ bình đẳng, bởi ba đời như nhau. Thực hành lòng Từ A la hán vì phá các giặc kiết sử. Thực hành lòng Từ Bồ tát vì an vui chúng sanh. Thực hành lòng Từ Như Lai vì được tướng như như. Thực hành lòng Từ của Phật vì giác ngộ chúng sanh. Thực hành lòng Từ không có chi sánh bằng vì đoạn các ái kiến. Thực hành lòng Từ không nhàm mỏi, quán Không, vô ngã. Thực hành lòng Từ pháp thí, lòng Từ trì giới, lòng Từ nhẫn nhục, lòng Từ tinh tấn, lòng Từ Thiền định, lòng Từ trí tuệ v.v… Lòng Từ của Bồ tát là như thế đó.

Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi sao gọi là lòng Bi.

Duy Ma đáp: Bồ tát làm công đức gì đều cốt để cho chúng sanh.

- Sao gọi là lòng Hỷ?

- Có lợi ích đều hoan hỷ, không hối hận.

- Sao gọi là lòng Xả?

- Những phước báu đã làm không có hy vọng quả báu cho riêng mình.

Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi: Sự sanh tử đáng sợ, Bồ tát nên nương vào đâu.

Duy Ma đáp: Bồ tát nên nương vào công đức lực của Như Lai.

- Bồ tát muốn nương vào công đức lực của Như Lai, nên trụ vào đâu?

- Nên trụ ở việc độ thoát tất cả chúng sanh.

- Muốn độ chúng sanh, nên trừ bỏ những gì?

- Nên trừ bỏ những phiền não của mình, v.v…

- Pháp thiện và pháp bất thiện lấy gì làm gốc?

- Cái thân là gốc.

- Thân lấy gì làm gốc?

- Tham dục là gốc.

- Tham dục lấy gì làm gốc?

- Phân biệt quấy bậy là gốc, tư tưởng điên đảo là gốc, không có chỗ trụ là gốc. Văn Thù Sư Lợi, do nơi gốc không có chỗ trụ, người ta tạo ra tất cả pháp.

Lúc ấy, trong nhà Duy Ma có một Thiên nữ thấy các vị trời, người đến nghe pháp, liền hiện thân ra tung rải hoa trời trên mình các vị Bồ tát và Thanh văn. Khi hoa đến mình các vị Bồ tát đều rơi hết, đến các vị Thanh văn đều dính lại. Các ngài dùng thần lực phủi hoa, mà hoa cũng không rớt.

Lúc ấy, Thiên nữ hỏi Xá Lợi Phất tại sao phải phủi hoa. Xá Lợi Phất đáp vì hoa này không như pháp, nên ngài phủi.

Thiên nữ nói: Chớ bảo hoa này không như pháp, vì hoa này không có phân biệt. Tự ngài phân biệt mà thôi. Nếu người xuất gia ở trong Phật pháp có phân biệt là không như pháp. Nếu không phân biệt là như pháp. Hãy xem các vị Bồ tát có dính hoa đâu, vì đã đoạn hết tưởng phân biệt, v.v… Do tập khí kiết sử chưa dứt nên hoa mới dính nơi thân. Còn người kiết tập hết rồi, hoa không dính được.

Xá Lợi Phất hỏi: Thiên nữ ở nhà này đã được bao lâu?

- Tôi ở nhà này cũng như ngài được giải thoát.

- Ở đây đã lâu vậy sao?

- Ngài giải thoát cũng lâu lắm sao?

Xá Lợi Phất lặng thinh không đáp.

Thiên nữ nói: Tại sao vị trí tuệ bậc nhất lại im lặng?

- Giải thoát không có ngôn thuyết, nên ta không biết nói làm sao.

Thiên nữ nói: Ngôn thuyết, văn tự đều là tướng giải thoát. Vì giải thoát không có ở trong, không ở ngoài, không ở hai bên. Văn tự cũng vậy. Thế nên, ngài Xá Lợi Phất chớ nên rời văn tự mà nói giải thoát, vì tất cả pháp là tướng giải thoát.

Xá Lợi Phất hỏi: Không cần ly dâm, nộ, si được giải thoát sao?

Thiên nữ đáp: Phật vì kẻ tăng thượng mạn nói ly dâm, nộ, si là giải thoát. Nếu với kẻ không tăng thượng mạn thì Phật nói tánh của dâm, nộ, si là giải thoát.

Xá Lợi Phất nói: Hay thay Thiên nữ, nàng chứng cái gì mà biện tài như thế.

Thiên nữ đáp: Tôi không được, không chứng, mới được biện tài như thế. Nếu có được, có chứng thì ở trong Phật pháp là kẻ tăng thượng mạn.

Xá Lợi Phất hỏi: Ở trong ba thừa, nàng cầu thừa nào.

Thiên nữ nói: Cần pháp Thanh văn để hóa độ chúng sanh, tôi làm Thanh văn. Cần pháp nhân duyên để hóa độ, tôi làm Bích chi Phật. Cần pháp đại bi để hóa độ chúng sanh, tôi làm Đại thừa. Thưa Xá Lợi Phất, như người vào rừng chiêm bặc chỉ ngửi thấy mùi chiêm bặc, không có mùi hương nào khác, v.v… Thưa ngài Xá Lợi Phất, tôi ở nhà này đã mười hai năm chưa từng nghe nói pháp Thanh văn, Bích chi Phật. Chỉ nghe đại từ đại bi của Bồ tát và những pháp bất khả tư nghì của chư Phật.

Xá Lợi Phất, trong nhà này thường hiện ra tám pháp chưa từng có, khó được:

1- Nhà này thường dùng hào quang màu vàng ròng mà soi sáng. Chẳng dùng ánh sáng mặt trời mặt trăng.

2- Khi người ta vào nhà này, chẳng bị các thứ cấu nhơ làm rối loạn.

3- Nhà này thường có Đế Thích, Phạm vương, Tứ Thiên vương, chư Bồ tát các phương khác nhóm họp không dứt.

4- Nhà này là nơi thường thuyết giảng sáu pháp Ba la mật.

5- Nhà này là nơi thường trỗi nhạc bậc nhất của trời người, vang ra vô lượng pháp âm.

6- Nhà này có bốn kho tàng lớn chứa đầy món báu giúp cho kẻ nghèo. Hễ cầu liền được, không bao giờ hết.

7- Nhà này Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Phật A Súc, v.v… vô lượng chư Phật mười phương đều hiện đến. Khi vị Thượng nhơn đây tưởng niệm các Ngài, các Ngài thuyết tạng pháp bí yếu của chư Phật. Thuyết xong, các Ngài trở về.

8- Nhà này tất cả cung điện của chư Thiên và các Tịnh độ của chư Phật đều hiện ở trong đây.

Thưa Xá Lợi Phất, nhà này thường hiện ra tám pháp chưa từng có, khó được như thế. Ai thấy được việc không thể nghĩ bàn đó, mà lại còn ham ưa pháp Thanh văn sao.

Xá Lợi Phất nói: Vì sao cô không chuyển thân nữ thành thân nam.

Thiên nữ đáp: Mười hai năm nay tôi kiếm mãi cái tướng nữ nhân không được. Tại sao phải chuyển. Ví như nhà huyễn thuật hóa ra một người nữ huyen. Nếu có người hỏi rằng sao không chuyển thân nữ đó đi. Vậy người đó hỏi có đúng chăng.

Xá Lợi Phất đáp: Không đúng, huyễn hóa không có tướng nhất định. Còn phải chuyển đổi gì nữa.

Thiên nữ nói: Tất cả pháp cũng như thế, không có tướng nhất định. Tại sao lại hỏi không chuyển thân nữ. Tức thì Thiên nữ dùng sức thần thông biến Xá Lợi Phất thành Thiên nữ. Thiên nữ lại tự hóa mình giống Xa Lợi Phất mà hỏi rằng tại sao ngài không chuyển thân nữ đi.

Xá Lợi Phất đáp: Ta nay không biết tại sao lại biến thành thân đàn bà này.

Thiên nữ nói: Thưa Xá Lợi Phất, nếu ngài chuyển được thân đàn bà đó, thì tất cả người nữ cũng sẽ chuyển được. Như Xá Lợi Phất khôngphải người nữ mà hiện thân nữ, thì tất cả ngườinữ cũng lại như thế, tuy hiện thân nữ mà không phải người nữ. Vì thế, Phật nói tất cả các pháp không phải đàn ông, không phải đàn bà.

Bấy giờ, Thiên nữ thu nhiếp thần lực, thân Xá Lợi Phất trở lại như cũ. Thiên nữ hỏi Xá Lợi Phất: "Tương đàn bà bây giờ ở đâu”.

Xá Lợi Phất đáp: Tướng đàn bà không ở đâu, mà ở tất cả.

Thiên nữ nói: Tất cả pháp cũng như thế, không ở đâu mà ở tất cả.

Xá Lợi Phất hỏi Thiên nữ: Nàng chết rồi sẽ sanh ở đâu.

Thiên nữ đáp: Phật hóa sanh thế nào, tôi cũng hóa sanh thế ấy.

Xá Lợi Phất nói: Phật hóa sanh, không phải chết rồi mới sanh.

Thiên nữ nói: Chúng sanh cũng thế, không phải chết rồi mới sanh.

Xá Lợi Phất hỏi Thiên nữ: Bao lâu co sẽ chứng được Vô thượng Chánh đẳng giác.

Thiên nữ đáp: Khi nào Xá Lợi Phất trở lại phàm phu, tôi sẽ được Vô thượng Chánh đẳng giác.

Xá Lợi Phất nói: Có khi nào ta trở lại phàm phu.

Thiên nữ nói: Có khi nao tôi lại được Vô thượng Chánh đẳng giác. Vì sao? Vì Bồ đề không xứ sở, nên không có được.

Xá Lợi Phất nói: Hiện nay các Phật chứng Vô thượng Bồ đề, các Phật đã chứng, sẽ chứng nhiều như số cát sông Hằng gọi là gì.

Thiên nữ đáp: Đó là theo số mục văn tự ở đời mà nói có ba đời, chớ không phải nói Bồ đề có quá khứ, vị lai và hiện tại.

- Thưa Xá Lợi Phất, ông có đắc quả A la hán không?

- Không được mà được.

Thiên nữ nói: Các Phật, Bồ tát cũng như thế, không được mà được.

Bấy giờ, Duy Ma Cật bảo Xá Lợi Phất: Thiên nư này đã từng cúng dường chín mươi hai ức Đức Phật, đã được thần thông du hý của Bồ tát, nguyện lực đầy đủ, chứng Vô sanh nhẫn, không thối chuyển. Vì theo bổn nguyện, nên tùy ý hiện ra để giáo hóa chúng sanh.

II. GIẢI THÍCH

Sau khi Văn Thù và chúng hội xem Duy Ma phô diễn khả năng siêu việt hay lực bất tư nghì giải thoát của đại Bồ tát, Văn Thù hỏi Duy Ma đứng ở lập trường siêu việt nghĩ gì về chúng sanh. Nghĩa là từ những điều Văn Thù thấy được trong thế giới Bồ tát gợi cho ngài nảy sanh nhận thức rằng thế giới quan Bồ tát là bất tư nghì. So với thế giới quan phàm phu, thế giới này hoàn toàn khác. Ở đây, mở ra hai loại hình thế giới, thế giới lý tưởng và thế giới thực tế.

Bồ tát đầy đủ thần thông, nhưng trở về thực tế sống với chúng sanh phải giải quyết thế nào, thấy chúng sanh ra sao. Đó là vấn đề chuyển biến đặt ra mở đầu cho phẩm này.

Theo quan niệm từ trước đến nay, trên căn bản ta tu hành, thường xem chúng sanh chướng ngăn chánh đạo. Chúng sanh thuộc sanh tử môn và Niết bàn thuộc giải thoát môn, là hai thái cực, hai thế giới hoàn toàn riêng biệt. Chúng sanh là cái gì đáng ghê sợ. Một người, ta còn sợ, huống chi nhiều người. Hay nhìn thấy loài người còn ngán, kể gì đến loài khác. Tất cả hàm linh đủ kiểu. Hóa độ thế nào cho xuể.

Vì vậy, chúng ta thường nghĩ muốn giải thoát phải từ bỏ chúng sanh, từ bỏ sanh tử. Thuở mới tu, tôi vẫn mang tâm niệm này. Phật tại thế, tâm niệm của Thanh văn cũng giống như vậy, mà Ca Diếp là người tiêu biểu như chúng ta vừa thấy trong phẩm 6.

Thanh văn nhìn chúng sanh là đối tượng đáng sợ, thì Duy Ma khai ngộ khác. Duy Ma trả lời Văn Thù rằng ngài quán thấy tất cả chúng sanh như nhà ảo thuật nhìn những vật do mình biến hóa ra. Nghĩa là chúng sanh được coi như một cái gì lệ thuộc Bồ tát.

Từ chúng sanh là một cái đáng sợ, Duy Ma nâng lên một nấc, coi nó như là vật mình tự biến tạo; vì ngài đứng trên lập trường quả môn hay bản thể môn nhìn xuống hiện tượng giới. Tất cả hiện tượng đều phát xuất từ bản thể, hay nói cách khác, do mình tạo ra; vì mình là bản thể và chúng sanh là hiện tượng.

Ở lập trường tu chứng, Bồ tát thấy chúng sanh do Bồ tát bất tư nghì giải thoát biến hóa, hay tất cả hiện tượng đều do bản thể sanh ra. Ví như người làm ảo thuật nhìn vật do họ biến hóa, chắc chắn họ không ưa thích hay sợ vật giả đó. Nói cách khác, phàm phu ham mê vật thế gian. Thanh văn thì sợ vật thế gian, trong khi Bồ tát bất tư nghì giải thoát thấy vật do mình tạo ra, nên không sợ, không ham mê. Tuy nhiên, khi ta còn là phàm phu mà tự cho rằng chúng sanh do ta biến hóa, là rớt vào tăng thượng mạn.

Chúng sanh trên dạng bản thể bất sanh, bất diệt, bất biến. Nếu đứng ở lập trường này, ta là người bất tử, thì ta thấy chúng sanh là những hiện tượng xảy ra nhứt thời. Quá khứ, hiện tại, vị lai tiếp nối nhau sanh và chết, không có gì vĩnh cửu. Tuy nó sanh diệt, nhưng không rời bản thể.

Chúng sanh từ nghiệp hay vô minh sanh nên cái thấy đổi khác. Hiện tượng vốn sanh diệt, luôn luôn thay đổi. Ta lại mang thêm cặp kính nghiệp để thấy khác nữa, là tạo thêm một tầng sai biệt. Thiền sư diễn tả cái thấy biết lệch lạc của chúng sanh bằng câu "Đừng tìm tri thức trong mộng”.

Con người trong một thời gian nhất định của mạng sống hạn hẹp nằm trong thời gian vô tận, giống như một giấc mơ nằm trong một khoảng ngắn của cuộc đời. Ta lạc vào một cơn mộng xa rời bản thể để có hiện tượng giới. Con người trên hiện tượng so với con người bản thể chẳng khác nào con người nằm mộng trong giấc mộng của con người. Nếu so với mạng sống bất tử của Bồ tát, thì mạng của ta trên sanh diệt, quả là cách nhau quá xa.

Cái thấy của chúng sanh sai khác, thay đổi liên tục tùy theo hành nghiệp. Và hành nghiệp phát xuất từ vô minh. Duy Ma ví cái thấy này như người lữ hành thấy nước trong sa mạc có thật. Theo Phật, nhân duyên hòa hợp tạo thành tất cả. Từ sa mạc biến thành nước, từ nước biến thành hư không, v.v… Nếu ta biết phát huy và vận dụng năng lực, thì sẽ có nước. Trên mặt bản thể, nước và sa mạc không khác. Còn trên hiện tượng, tùy theo nghiệp thấy hoàn toàn khác.

Duy Ma bảo ngài thấy chúng sanh như cái lõi của cây chuối, nghĩa là do tu chứng thấy cái thật trên cuộc đời. Bồ tát thấy chúng sanh khác hơn chúng sanh thấy chúng sanh. Một chúng sanh nhìn chúng sanh dưới mọi dạng thức khác nhau, rồi khởi niệm vui buồn giận khổ. Cuối cùng các pháp tương đối này ràng buộc họ, không còn lối thoát, rơi vào cùng tột khổ đau. Rõ ràng đối với chúng sanh, thương hay ghét đều làm họ khổ. Nói chung, mọi sự suy nghĩ dẫn đến quả khổ là phương cách chúng sanh quán sát chúng sanh qua lăng kính thiện nghiệp và ác nghiệp, thấy có người dễ thương và không dễ thương.

Hàng Nhị thừa trụ pháp Không, không thương không ghét, tâm dửng dưng trước sự vật, chỉ lo tu, nên thấy chúng sanh không có. Hai cái thấy của phàm phu và Thanh văn là hai thái cực của Chân đế và Tục đế. Thanh văn đứng ở lập trường Chân đế, ly trần nên trần ai không dính vô. Chúng sanh ở Tục đế hiệp trần, nên bị trần làm ô nhiễm.

Bồ tát tu hành phát xuất từ Tục đế, tiến đến Chân đế và từ Chân đế trở về Trung đế của Bồ tát, đạt được Đệ nhất nghĩa đế. Bồ tát khởi đầu tu, thấy chúng sanh y như chúng sanh thấy. Giai đoạn hai, Bồ tát thấy chúng sanh như Thanh văn thấy không có gì. Sau đó, nảy sanh cái thấy thứ ba, thấy chúng sanh theo Bồ tát. Bỏ hai cái thấy trước cũng không có Trung đế. Bồ tát thấy chúng sanh như khong có, vì an trụ pháp Không.

Tại sao chúng sanh không thật có. Dưới kiến giải của Bồ tát, trước khi sanh, chúng ta không có, gọi là Không. Nhưng hiện hữu ở cuộc đời, chúng ta cũng không tồn tại vĩnh viễn mà thay đổi từng giờ từng phút. Cuối cùng trả hơi thở cho gió, ta không con gì. Như vậy, trước Không, sau Không, niệm giữa không dừng, nên toàn bộ đều Không.

Trước mắt Bồ tát, tuy vô số chúng sanh, nhưng không có; vì các chúng sanh này đều nằm dưới dạng sanh diệt, có mà không có, hay giả có. Nói cách khác, Bồ tát thấy sự vật theo nhân duyên, thay tướng chân thật từ Không hiện có, từ có trả lại Không.

Chúng sanh không có tánh hằng hữu, nên không thể nói một người tốt hay xấu. Họ có thể vừa tốt vừa xấu, xấu với người này nhưng tốt với người khác. Vì tánh không hằng hữu nên tùy người, tùy nghiệp, nghĩa là tùy đối tượng mà tướng chúng sanh sanh diệt hiện ra sai khác. Ý thức được điều này, khi ta bị người đối xử tệ, nếu biết đổi tánh xấu, người sẽ tốt với ta. Đức Phật dạy chúng sanh không có tánh cố định, nếu cố định không thể tu thành Phật. Bồ tát quán sát như vậy, không sanh tâm tham đắm. Chúng sanh hiện hữu từ đâu và mất về đâu là cách nhìn của Bồ tát.

Bồ tát nhìn chúng sanh trên hiện tượng hoàn toàn giả, do mình biến hóa, tức từ bản thể khởi hiện tượng. Bồ tát truy nguyên chỗ phát xuất và chỗ trở về, nghĩa là giải quyết tận gốc. Vì thế, việc giáo hóa chúng sanh của Duy Ma không giống Bồ tát sơ phát tâm.

Chúng ta thấy người khổ, phát tâm giúp. Ngày mai lại thấy nó khổ, giúp nữa. Giúp hoài vẫn thấy chúng sanh khổ y nguyên. Giáo hóa chúng sanh như vậy, chẳng mấy chốc Bồ tát sẽ thoái chuyển. Đó là Bồ tát đứng trên hiện tượng giáo hóa chúng sanh ở hiện tượng. Đối với Duy Ma, làm vậy không ích lợi gì.

Chúng ta mới phát tâm nhiệt tình lắm. Nhưng trải qua một thời gian hành đạo, cảm thấy ngán, không muốn làm gì. Chúng ta ngồi yên suy tư lời Phật dạy, bỗng giáo lý bừng sáng trong tâm. Theo cái thấy mới phát hiện từ bản tâm thanh tịnh này mà tu hành, chúng ta nhận được những kết quả ngoài sự suy luận bình thường. Nhận ra nhữngviệc làm tính toán trước kia của chúng ta hoàn toàn vô ích, khổ công nhiều nhưng chẳng được bao nhiêu. Thiết nghĩ chúng ta học nhiều, tu đủ thứ, nhưng dùng được pháp nào là việc quan trọng. Và nhất là phải quán sát thấy được chỗ khởi tu của mình, mới đi lần vào thế giới Phật được.

Từ giả có của hiện tượng, Bồ tát thấy chúng sanh bên ngoài là Không. Tiến lên một nấc, Bồ tát quán sát bên trong thấy sự tồn tại của con người mang tính di truyền tiếp nối từ đời này sang đời khác, gọi là sinh mệnh tương tục. Than con người chết xác này sanh thân khác, nhưng vẫn tồn tai cái hằng hữu bên trong. Sự tồn tại của hằng hữu này ở đâu? Chỉ có mắt huệ nhìn thấy được, như Thiền sư Nhật Bản diễn tả:

Bốn mùa hoa đều nở

Chẻ cây hoa ở đâu

Bồ tát chứng được cái hằng hữu là chơn tánh nằm ngoài khả năng vói tới của ngoại đạo, Thiên ma. Phật dạy chơn tánh này khi chúng ta còn là phàm phu, nó không nhỏ và lúc chúng ta thành Phật nó cũng không lớn. Bồ tát thấy được chơn tánh bất sanh bất diệt và sống với chơn tánh, hình thành thế giới Cực lạc.

Dưới dạng thật tánh, Bồ tát thấy Phật, chúng sanh và ngài, cả ba không hề khác nhau, nên ngài không giáo hóa mà thực là giáo hóa.

Trên dòng sanh diệt từ quá khứ dẫn đến hiện tại và lũy kiếp trong tương lai, tâm chúng sanh và Bồ tát luôn tương ưng để tồn tại dưới dạng quyến thuộc. Ở lập trường tứ đại ngũ uẩn, thì có muôn ngàn sai khác, chúng muốn làm gì cũng được. Ngược lại, ở lập trường thật tánh thì Phật, chúng sanh và Bồ tát không có một niệm xa rời. Chính vì vậy, Bồ tát thấy chúng sanh không có, nhưng vẫn không từ bỏ tâm đại bi.

Theo Duy Ma, chúng ta không nắm bắt được chân lý, mà cứ phân biệt trên sanh diệt là cái không có, thì chẳng ích lợi gì. Vì vậy, Duy Ma nói với Văn Thù rằng Bồ tát quán chúng sanh như lõi cây chuối. Cây chuối làm gì có lõi. Lột hết bẹ là hết. Chúng sanh sanh diệt nằm trong ngũ uẩn thân cũng vậy, mất thân ngũ uẩn là hết.

Từ lập trường Bồ tát của Duy Ma nhìn về chúng sanh, hay cao hơn từ lập trường Phật của Thiên nữ nhìn về chúng sanh, thì xuất gia hay tại gia đều là chúng sanh sanh diệt, không có gì đáng quan tâm. Điều đáng quan tâm là người tạo ra hình chúng sanh, tức là nghiệp. Biết được nghiệp tạo hình, chúng ta chuyển từ gốc nghiệp này. Không nặn hình chúng sanh, thì làm gì có chúng sanh.

Chúng ta thường rớt vào sai lầm, tu cực khổ, nhưng không diệt được nghiệp, cũng kể như vô ích. Bồ tát quán chúng sanh như cây chuối lột hết bẹ khong còn, nghĩa là không thực hữu. Bồ tát cũng quán chúng sanh như giấc mơ, tức thay đổi, không có thật. Thân này có được do ý thức sanh ra, do phân biệt hiểu biết của con người tạo ra ngũ ấm. Ý thức có, thì vật hiện hữu. Ý thức không, thì vật cũng không. Bồ tát quán chúng sanh như nước trong sa mạc không thật, chúng sanh do khát ái và vô minh sanh ra. Tuy quan sát chúng sanh không thực có, do nghiệp mà thành, Bồ tát vẫn giáo hóa chúng sanh bằng cách tự hóa giải nghiệp của mình cho sạch. Khi nào nghiệp của Bồ tát hoàn toàn tiêu, thì chúng sanh trong sa mạc sanh tử cũng không còn.

Ngoài ra, Duy Ma xác định rằng ngài thấy chúng sanh như Đại thứ năm, như Thức thứ bảy, như Nhập thứ mười ba, như Giới thứ mười chín, v.v… Trong khi Phật dạy chúng ta tu chỉ có bốn Đại, sáu Thức, mười hai Nhập, mười tám Giới. Chỗ này không khéo, ta dễ hiểu lầm là không có.

Đại thứ năm, Thức thứ bảy, Nhập thứ mười ba, Giới thứ mười chín, là ý muốn chỉ những cái nằm ngoài phương tiện của chúng ta, nằm ngoài sự nhận thức của con người nên gọi là bất tư nghì. Sự thật của nó chúng ta không thấy, hay không diễn tả được mà kinh Pháp Hoa nói tất cả các pháp tướng thường tự vắng lặng. Cái vắng lặng này được Duy Ma diễn tả bằng những gì nằm ngoài pháp Phật đã dạy là Đại thứ năm, Thức thứ bảy, v.v… Những cái không có trên cuộc đời, nhưng là sự thật.

Những pháp vắng lặng này được Duy Ma gợi lên, để chúng ta có khái niệm về sự tu hành của Bồ tát. Cái chúng ta thấy không có là cái thấy có của Bồ tát, một việc làm vượt qua sự hiểu biết của phàm phu. Vì vậy, Bồ tát hành đạo không giống chúng sanh hành đạo. Kinh Pháp Hoa diễn tả sự sai biệt này bằng câu "Bất như tam giới kiến ư tam giới”.

Thanh văn an trú pháp Không, nghe pháp bất tư nghì giải thoát của Bồ tát là Không, dễ hiểu lầm giống pháp Không của họ. Văn Thù hỏi Duy Ma về pháp Không của Bồ tát. Hai thượng thủ này vấn đáp với nhau nhằm mục tiêu khai ngộ cho mọi người tu hành.

Pháp Không của Thanh văn tu, không làm và không để tâm đến việc làm của thế gian, không dính líu cuộc đời, xem cuộc đời là không có. Duy Ma nâng pháp Không của Thanh văn lên một nấc, là Không nằm ngoài Có, không phải Có và Không đối lập nhau. Tuy nằm ngoài mà bao bọc vạn vật, nên vận dụng được vạn vật theo ý của Bồ tát.

Văn Thù đọc được tâm niệm của Thanh văn liền hỏi Duy Ma rằng nếu thấy tất cả vật trên cuộc đời hoàn Không thì các ngài hành Bồ tát đạo làm gì. Tu rồi cũng chết, sao lại tu. Và việc làm của Bồ tát có giống công tác của dã tràng xe cát cho sóng lên cuốn trôi hết hay không.

Thanh văn nhìn việc hành đạo của Bồ tát là công dã tràng, là người trong sanh tử độ người sanh tử. Trên bước đường tu, ta không hiểu lý này dễ rớt thành công dã tràng, tu nhiều không có công đức, rồi sanh ra chán nản.

Bồ tát ở lập trường bất tư nghì hành đạo, nhìn chúng sanh khác, nên việc làm cũng khác. Vấn đề có lợi ích và không lợi ích được đặt ra. Nếu thấy cứu chúng sanh rồi chúng sanh cũng chết, thì đừng cứu. Từ sự gợi ý này, Duy Ma giảng dạy cho chúng ta thấy vấn đề cứu vớt chúng sanh của Bồ tát, củaPhật, để chúng ta tùy hỷ với việc làm của các Ngài.

Cùng một việc giúp đỡ, nhưng người được trả ơn, còn ta bị trả oán. Theo Duy Ma muốn thấy vấn đề, phải đứng ở lập trường giải thoát hay Quả môn mới thấy. Còn ở lập trường chúng sanh mà tu pháp Bồ tát, chỉ là nhà từ thiện xã hội, không phải Bồ tát thật.

Bồ tát đứng trên lập trường Không mà giáo hóa, không phải ở lập trường Hữu giáo hóa. Vì ở lập trường Hữu, chúng sanh giáo hóa chúng sanh, không thể giải thoát. Ta là người, họ cũng là người. Ta giúp họ, cuối cùng họ chết và ta cũng chết. Nghĩa là tu hành giáo hóa trong sanh tử thì không khác gì tu trong mộng, chẳng đắc đạo bao giờ. Trên cuộc đời, chúng ta làm gì cũng rớt qua chỗ mộng. Vì chúng ta không nằm trong quỹ đao của Bồ tát, nên việc làm của chúng ta hoàn toàn khác.

Chúng sanh ở dạng không sanh diệt mới thật là đối tượng của Bồ tát giáo hóa. Duy Ma gợi ý này cho Thanh văn phát tâm. Thông thường, phải có vật thì ta mới điều chỉnh vật theo ý muốn. Hay phải có đối tượng mới vận dụng đối tượng này để giáo hóa. Ta nhìn thấy chúng sanh là thật, ta mới giáo hóa được. Nhưng Phật lại dạy mọi vật trên thế gian đều Không. Nếu chúng sanh không thật, mà ta phải giáo hóa, thì việc làm này đi về đâu. Đó là vấn đề Thanh văn không giải quyết được.

Giáo hóa thì phải thấy thật và nếu thấy thật thì lại rớt qua thật hưu của chúng sanh phàm phu và lâu ngày bị tham sân phiền não chi phối, chắc chắn lọt vào trần ai. Đó là điều mà Thanh văn ghê sợ.

Còn nói Không thì cần gì làm. Ở điểm này, Duy Ma dạy đạt đến quả vị A la hán phát tâm Bồ đề, mới thấy được thật hữu. Kinh Pháp Hoa gọi là ra khỏi Nhà lửa, đến khoảng đất trống, tức Chơn Không, Không này là thực tướng các pháp. Nếu Không suông, không có gì là Ngoan Không, hay giả danh A la hán. Đạt đến Chơn Không, chúng sanh sẽ hiện ra khác với chúng sanh lúc ta mới tu.

Cái thấy của người đắc đạo được diễn tả bằng hình ảnh trước khi tu thấy núi là núi, sông là sông. Đắc đạo rồi, thấy núi vẫn là núi, sông vẫn là sông. Cái thấy sau cùng núi vẫn là núi, sông vẫn là sông nằm bên kia tri thức của phàm phu. Vì vậy, đắc A la hán nhìn thấy chúng sanh ở dạng khác, không thể thấy theo mắt thường. Lúc ấy, chúng sanh không có cảm giác bị giáo hóa hay bị chi phối, mới thực là giáo hóa. Như khi còn là thái tử Sĩ Đạt Ta, chưa thành đạo, Phật sống chung với năm anh em Kiều Trần Như cũng không hòa được với họ. Nhưng khi thành đạo nghĩa là đứng trên lập trường bất tư nghì giải thoát, Ngài đến với họ, tự nhiên họ kính phục, đảnh lễ Phật dù Ngài chưa nói một lời nào và thỉnh Phật thuyết pháp. Sau đó, Ngài độ Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, v.v… Và sự giáo hóa của Phật lan rộng nhẹ nhàng cả xứ Ấn Độ.

Qua hiện tượng lịch sử này, tu sĩ Phật giáo phát triển nhận chân được lực giáo hóa của Phật ở dạng bản thể. Họ đã vận dụng ý này để phê phán sự tranh chấp hơn thua giữa Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ là sai lầm.

Đắc đạo và chưa đắc đạo cũng là một con người, không phải người khác. Nhưng Thanh văn nghĩ rằng Phật đắc đạo thành con người khác là sai. Chúng ta ở trong sanh tử nghĩ Phật là con người, cũng sai. Ở đây muốn diễn tả người sanh tử không giáo hóa được người sanh tử. Hay nói cách khác, muốn giáo hóa chúng sanh sanh tử phải đứng trên bản thể, nhìn sự vật đúng hoàn toàn. Từ đó trở lại thực tế mượn nhân vật Duy Ma là người sống đã đạt đến trạng thái giải thoát của người không sanh tử giáo hóa được mọi người ở thành Tỳ Da Ly, để diễn tả ý này.

Và xa hơn nữa, Duy Ma không cần mặc áo Sa môn cho người theo. Vì khoác chiếc áo tu để người nghe theo, chẳng khác gì lừa dối người và tự lừa dối mình. Duy Ma dưới lớp áo cư sĩ, nhưng chứng ngộ giải thoát, được mọi người quy phục kính ngưỡng. Ngài là nhân vật mà Phật giáo phát triển đưa ra nhằm phá bỏ ý tưởng chấp chặt hình thức. Tư tưởng mới đưa ra hình ảnh cư sĩ nói pháp giáo hóa hơn chư Tăng còn được đẩy mạnh xa hơn nữa bằng cách mượn hình ảnh Thiên nữ hiện thân trong nhà Duy Ma rải hoa Trời trên mình các vị Bồ tát và Thanh văn.

Theo quan niệm của Ấn Độ thời bấy giờ, người nữ không làm được gì. Trong kinh Pháp Hoa, Xá Lợi Phất nói rõ người nữ có năm điều chướng không thể thành Phật. Nhưng dưới kiến giải của Phật giáo phát triển, chẳng những cư sĩ mà cả người nữ đều có những điều phi thường, nếu họ chứng được bản thể, nắm được quy luật, điều động được sự vật. Trên hiện tượng sanh diệt, thì thân tướng có muôn ngàn sai khác; nhưng ở dạng bản thể, tất cả các pháp đồng nhau không khác. Ai nắm được quy luật, người đó trở thành chủ tể.

Ý niệm Thiên nữ có thần thông biến hóa không lường, bằng với Phật, qua câu nói của Thiên nữ "Phật sanh sao, tôi sanh vậy”, nhằm phá hủy tâm phân biệt giữa xuất gia và tại gia, Chơn đế và Tục đế, tướng nam và tướng nữ. Ý niệm Thiên nữ bằng với Phật trong kinh Duy Ma, được triển khai thành Long nữ trong kinh Pháp Hoa. Long nữ thành Phật trong chớp mắt, hay hình ảnh Đức Quan Âm thể hiện lòng từ bi đối với chúng sanh dưới ba mươi ba thị hiện thân, trong đó có thị hiện thân người nữ.

Văn Thù hỏi Duy Ma sanh tử đáng sợ, Bồ tát nương vào đâu để hành Bồ tat đạo, nương gì để tu hành. Đó chính là vấn đề quan trọng đối với chúng ta.

Trên bước đường tu, có những lúc tôi cảm thấy chới với, rơi vào hố thẳm của nhận thức, cố tìm Phật, nhưng không thấy Phật ở đâu. Thiệt là khổ! Người thực tu thường gặp tâm trạng này. Tu bằng tất cả tâm huyết, nhưng khó thấy đạo. Đến đâu cũng thấy toàn sanh tử, không thấy Phật. Phật Thích Ca cũng sanh tử. Các vị danh Tăng tiền bối hiện diện rồi cũng tịch. Và chính bản thân ta cũng đang đi lần đến cái chết. Không biết tìm cái bất tử ở đâu. Tuổi đời càng lớn, chúng ta càng bước gần đến nấm mồ, mà vẫn chưa tìm thấy được chỗ nương bền chắc. Đó là nỗi khổ tâm lớn, là niềm lo sợ kinh khủng của người tu. Người không tu mặc cho dòng đời trôi, thì có gì để nói.

Riêng tôi, có lúc muốn tìm hóc đá nào tu để ra khỏi sanh tử; vì Phật cứ chập chờn trước mắt, khi hiện có, khi biến mất, như ảo giác. Tâm trạng này của chúng ta được Duy Ma giải tỏa bằng câu nương công đức lực Như Lai thì thoát ly sanh tử. Tuy nhiên, nó lại đưa ra cho chúng ta thêm một vấn đề khó; đó là Như Lai lực là gì, tìm Như Lai lực ở đâu để nương.

Duy Ma cho biết tìm Như Lai lực trong chúng sanh, hay lấy độ thoát chúng sanh làm chỗ nương. Nương Như Lai lực là trở về sự hiện hữu của ta và của tất cả mọi người trên cuộc đời. Sự hiện hữu của ta trên cuộc đời là Như Lai, bỏ cái này tìm cái khác không có.

Câu trả lời của Duy Ma "Hiện hữu của ta trên cuộc đời là Như Lai” là câu nói của tư cách Bồ tát đã thành Vô thượng Đẳng giác thương nhân gian mà sanh lại, nói chuyện với người trí tuệ tuyệt luân. Riêng chúng ta chưa vượt ra khỏi Nhà lửa tam giới, thì sự hiện hữu này vẫn là sanh tử đáng sợ.

Duy Ma cho biết có độ thoát chúng sanh mới thấy được Như Lai lực, vì Như Lai là độ thoát chúng sanh. Tuy nhiên, thực tế vào đời độ chúng sanh không đơn giản. Làm sao độ được chúng sanh để thấy Như Lai lực.

Kinh Kim Cang dạy người thấy Như Lai qua ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp là người tà đạo, không bao giờ thấy Như Lai. Cái khó ở chỗ Như Lai không nằm trong ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, nhưng lìa tướng tốt này cũng không có Như Lai. Bỏ một để tìm một, không được. Con người đầy đủ phước đức và trí tuệ bên trong mới hiện thân tướng giải thoát trang nghiêm bên ngoài. Nhưng chấp bên ngoài là thật thì Phật không cho. Vì bên ngoài Chuyển luân Thánh vương cũng có ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp.

Như vậy bên ngoài đồng nhau, nhưng bên trong còn hàm chứa sự khác biệt. Thân và tâm của chúng ta không phải là một, nhưng cũng không phải là hai cái khác nhau. Thân tâm kết hợp với nhau để thành một hữu tình.

Thanh văn nghĩ làm sao để độ thoát chúng sanh. Duy Ma trả lời muốn độ thoát chúng sanh, phải độ mình. Nghĩa là phải trở lại pháp tu ban đầu của Tiểu thừa. Chưa độ mình, mà nghĩ độ người là hư vọng. Pháp căn bản chưa xong, mà đòi pháp Vô thượng, làm sao có.

Duy Ma dạy hành giả không có cách nào khác hơn là phải trở lại sự khởi đầu, diệt tận gốc tham sân phiền não. Nhờ đoạn sạch tham sân phiền não, hành giả hiện tướng giải thoát hay tướng tịch diệt. Tướng tịch diệt này vô hình trung đã giáo hóa chúng sanh. Tinh thần kinh Duy Ma nêu lên quá trình tu hành tất yếu phải như vậy. Duy Ma tiêu biểu cho tịch diệt tướng. Khi hành giả muốn độ chúng sanh, tức khởi niệm tham, nên không độ được. Dẹp tận gốc tâm tham, cho đến ý thức độ chúng sanh cũng không có. Đạt được tâm chứng này, ý thức sai lầm không còn khả năng làm phiền hành giả. Hành giả trở về bản tâm thanh tịnh, bình ổn thực sự.

Bản tâm thanh tịnh là Như Lai, khởi tâm sanh diệt là chúng sanh. Trở về bản tâm thanh tịnh mới tiếp nhận được lực Như Lai và giáo hóa chúng sanh dưới dạng Như Lai giáo hóa. Những người sắp giải thoát, nghe được ý này, liền giải thoát. Còn vướng mắc ngữ ngôn văn tự, cứ tiếp tục sống trong sanh diệt. Từ ý này cổ nhân có nói: "Chúng ta sanh diệt trong pháp Như Lai và Như Lai xuất hiện trong sanh diệt của chúng ta”.

Như Lai xuất hiện trong thân chúng sanh dưới dạng sanh diệt. Nếu quan sát bằng lăng kính Như Lai tạng tâm, hay bản thể sự vật thấy chúng ta đang sanh sanh hóa hóa gọi là sanh diệt trong pháp Như Lai. Cảm nhận được ý này, nương được Như Lai lực, tôi hết sợ.

Tuy chúng sanh ở trong sanh tử, Bồ tát phải đứng trên lập trường không sanh tử, tức bản thể của sự vật, để giáo hóa họ. Vì vậy, ta thấy Bồ tát không làm gì, nhưng thực vẫn hành động trên bản thể. Nếu đạt đến pháp Không, vô tác, vô nguyện và từ bản thể phát tâm Bồ đề, thấy chúng sanh dưới dạng bản thể, không phải thấy trên dạng hiện tượng. Đó là giáo hóa dưới dạng bản thể.

Chúng sanh nhờ có bản thể hay Phật tánh, thấy Bồ tát trụ ở bản thể, thì Phật tánh họ bừng lên được, phá phiền não nhiễm ô bên trong, tự giải thoát. Ví như ánh sáng bừng len, bóng tối tự mất. Hoặc ngài Nhật Liên thí dụ ý này rằng con chim trong lồng, nghe chim ngoài trời kêu, nó phá lồng bay ra. Vì vậy, sự giáo hóa của Bồ tát, hay Phật dưới dạng bất tư nghì giải thoát là không giáo hóa mà giáo hóa.

Hai vị Bồ tát thượng thủ luận bàn rốt ráo các pháp, tác động cho chúng hội xa rời trần cấu, chứng Vô sanh nhẫn. Nghĩa là từ thế giới sanh diệt trở về thể tánh bất sanh, thuộc Bất nhị môn, vượt ngoài sự hiểu biết của con người. Ở đây, tạo ra hiện tượng kỳ diệu là nhà Duy Ma nhỏ mà chứa được vô số Thanh văn và Bồ tát. Phần này nói về thuyết Bất nhị pháp môn.

Chuyển tiếp phần hai, đột nhiên xuất hiện một Thiên nữ thể nghiệm thuyết Bất nhị. Bấy giờ, Thiên nữ xuất hiện rải hoa cúng dường Phật và Thánh chúng. Trước kia Thiên nữ ở đâu. Chúng ta đã biết kinh Duy Ma là cốt lõi của Thiền, diễn tả sự tu chứng hoàn toàn trong nội tâm, khó thể hiện bằng lời. Kinh mượn hoạt cảnh Thiên nữ xuất hiện để chỉ tâm Như Lai, nhắc nhở hành giả phải dùng tâm Như Lai mà tu. Hoạt cảnh Thiên nữ tán hoa tiêu biểu cho sự an lành, hồn nhiên, vui tươi của người tu, tất cả sự vật muôn màu muôn vẻ đẹp tuyệt vời. Ý này được Thiền sư Nhật Bản cảm nhận rằng khi tâm yên tĩnh, thì bầu trời hoàn toàn tươi đẹp, không có gì đẹp trên thế gian mà hành giả không thấy, thiên đường là đây. Nói cách khác, từ trạng thái tâm hồn thanh tịnh thực sự, không còn chút mảy may tham sân phiền não, mới xuất hiện cái đẹp cùng tột, chân thiện mỹ.

Kế đến, hoạt cảnh vẽ thêm hoa rải xuống mình các Bồ tát đều rơi xuống đất. Hoa trúng vào Thanh văn thì dính luôn. Hoa dính vào Thanh văn, vì Thanh văn còn tâm chấp trước. Tâm chấp trước hay tâm phân biệt tốt xấu phải trái làm ta khổ, nó tồn tại trong ta gọi là Nhị biên. Người tu Thánh đạo cầu giải thoát, nhưng tâm còn vướng mắc, không giải thoát.

Văn Thù nhắc muốn giải thoát phải độ chúng sanh. Tách rời chúng sanh, đối lập chúng sanh, vĩnh viễn không giải thoát. Còn có chúng sanh trước mặt phá hoại, được diễn tả bằng hình ảnh hoa không rớt. Hoa này là hoa lòng ở trong tâm, tức những gì còn tồn tại trong lòng chúng ta, không phải hoa bên ngoài.

Bồ tát không còn vấn đề tồn tại, vì đã giáo hóa chúng sanh hội nhập cuộc đời, chuyển chúng sanh thành Bồ tát thật.

Thanh văn tu hành, từ bỏ cuộc đời, không giận, ai làm gì mặc ai, họ sống theo họ. Nghĩa là chúng ta còn tồn tại "Cái mặc ai” và tồn tại "Cái của ta” hay tồn tại "Cái ta giải thoát” và "Chúng sanh đau khổ”. Tuy bỏ hết phiền não cuộc đời, nhưng còn giữ lại tâm chấp trước là tâm từ bỏ cuộc đời. Sự chấp trước này vướng mắc dữ dội trong tâm, muốn bỏ thì nó càng dính chặt hơn nữa. Kinh diễn tả bằng hình ảnh Thanh văn dùng thần lực phủi hoa cũng không được.

Thiên nữ hỏi Xá Lợi Phất không lo tu, gỡ hoa làm chi. Xá Lợi Phất trả lời: "Tôi sợ nó”. Lúc trước nó ở ngoài, nhưng sợ riết nó dính vô áo, toàn là hoa cuộc đời bám chặt vào. Sợ đến thâm nhập vào lòng. Trên bước đường tu, chúng ta thường vấp phải sự sai lầm này, nên không đắc đạo. Ta tu giải thoát, nhưng không được giải thoát. Người khác không tu giải thoát sao lại giải thoát. Đó là cánh cửa mở ra cho chúng ta thấy hai cách tu của Bồ tát và Nhị thừa khác nhau.

Bồ tát lo thanh tịnh hóa tâm, hình thức bên ngoài thì tùy duyên mà thay đổi. Thanh văn giữ thân tướng thanh tịnh, nhưng còn nhiều vấn đề tồn tại trong tâm không giải quyết được. Tùy duyên hay tùy theo hoàn cảnh sống, Bồ tát hành đạo đều được lợi lạc giải thoát. Nhưng cố định mô hình nào là cố chấp, đều không giải thoát tiêu biểu bằng hoa dính. Cố công gỡ, nó càng dính khắn vào lòng. Chúng ta buông bỏ, nó tự mất.

Quy Sơn cảnh sách dạy: "Đản tình bất phụ vật, vật khởi ngại nhân”, nghĩa là khi tâm chúng ta không để ý đến vật, thì nó không có tác dụng đối với ta. Ngược lại, chúng ta sống cách ly, nhưng tâm để vào trần tục, tức thì trần tục ô nhiễm hóa chúng ta:

Đức Di Lặc ngồi trơ bụng đá

Thây bụi đời bám đã rồi rơi

Xem trò thế sự đầy vơi

Dửng dưng như một nụ cười vô duyên.

Hoa dính hay không, không quan trọng, quan trọng là chúng ta có vướng bận không. Dính bên ngoài chẳng ăn thua gì, sợ nhất dính trong tâm hồn. Bồ tát tiêu biểu cho tâm hồn thanh tịnh. Thanh văn tiêu biểu cho hình tướng thanh tịnh.

Bồ tát tùy duyên giáo hóa, giải thoát ngay trong cuộc đời. Bồ tát không dính hoa, vì các ngài không hề có quan niệm về nó. Các ngài thấy rõ pháp ở hai mặt, sanh diệt và bất sanh diệt. Ở trong sanh diệt, tất yếu phải theo định luật sanh diệt. Ở trạng thái Niết bàn phải tịch tĩnh. Đó là hai thế giới giữa thể và dụng.

Bồ tát đạt Vô sanh, không để tâm. Để tâm sẽ vướng mắc. Hoa không dính Bồ tát, tiêu biểu cho tâm các ngài không kẹt việc tốt xấu trên cuộc đời.

Khởi đầu tu, ta tránh xấu tìm tốt thì phải kẹt tốt. Hoa tiêu biểu cho tốt. A la hán bỏ sanh tử về Niết bàn, nên kẹt Niet bàn. Các ngài phải gỡ thêm một lần nữa là bỏ Niết bàn. Tuy nhiên, bỏ Niết bàn lại rớt qua sanh tử.

Đối với Bồ tát, Niết bàn và sanh tử là một. Tâm sanh thì sanh tử, tâm diệt đương nhiên an trú Niết bàn. Vì vậy A la hán còn trụ sanh diệt không phải là A la hán thật. Kinh Pháp Hoa cho biết Niết bàn của A la hán là Niết bàn giả. Họ không tự tạo Niết bàn được. Tuy nhiên, nhờ nương theo sự thanh tịnh giải thoát của Phật, họ cũng được giải thoát. Rời Phật, họ sẽ điên đảo vọng tưởng. Ở Kỳ Viên tịnh xá gần Phật được giải thoát. Đến nhà Duy Ma chạm trán với mưa gió của cuộc đời, liền rớt.

Thanh văn sống trong pháp là Niết bàn giải thoát, nhưng rời pháp Như Lai trở thành sanh tử liền. Từ ý này, kinh Pháp Hoa nhắc hành giả an trú pháp Như Lai sẽ được an lành, là Niết bàn giả, không phải Niết bàn của ta thực chứng.

Đạt đến quả vị Thanh văn, Phật nâng lên, tập cho ta sống xa Phật, xem có thanh tịnh hay không. Sống xa Phật, dùng trí quan sát các pháp xem các pháp có còn chi phối ta hay không. Đó là phương cách tu của Bích chi Phật.

Khi Thanh văn sống xa Phật để khám phá thế giới, mới thấy khác hơn bình thường và quay ngược về giai đoạn ba, bước theo Bồ tát làm lợi ích chúng sanh. Tuy nhiên, cần lưu ý là phải làm theo mô hình của Phật, không phải tự làm theo ý ta. Bồ tát này phát xuất từ Thanh văn, Duyên giác, đến Bồ tát là Bồ tát của Tam thừa.

Thiên nữ hỏi Xá Lợi Phất tại sao ngài phủi hoa. Xá Lợi Phất trả lời rằng gỡ hoa vì nó không hợp pháp. Xá Lợi Phất đứng ở tâm niệm Thanh văn mà nói hoa không hợp pháp, vì không thích hợp với tâm niệm tu hành của Thanh văn. Đối với hàng Thanh văn, tất cả đồ trang sức đều phải bỏ, chỉ sống cuộc đời khổ hạnh.

Thiên nữ trả lời Xá Lợi Phất: "Hoa vô tri, vô giác, hợp pháp hay không là do con người. Tôi nhớ các ngài tu hành đã xa lìa trần cấu, thành A la hán, lìa tham sân si, rời xa thực tế, thì sao còn thấy thực tế để gỡ bỏ. Tôi nghi ngờ trạng thái chứng đắc của các ngài quá! Phật dạy lẽ sống của người tu là xa rời sanh tử để trở về Niết bàn, hay từ thực tại cuộc sống mà đi sâu vào nội giới tu chứng. Nếu quả thực các ngài đã đạt đến phần tâm chứng giải thoát, thì mối liên hệ với bên ngoài không còn. Nay tôi thấy sự liên hệ bên ngoài còn, là các ngài chưa thực chứng nội giới”.

Câu chuyện xảy ra giữa Xá Lợi Phất và Thiên nữ không có thật. Vì lúc kiết tập kinh Duy Ma, làm gì có Xá Lợi Phất. Theo tôi, việc này để diễn tả sự phát huy trí tuệ tiêu biểu bằng hình ảnh Xá Lợi Phất. Trên quá trình tu hành tìm chân lý, người tu sĩ tiến bộ có những nhận thức, suy tư, hiểu được hiện tượng thật. Và bằng trí tuệ chứng đắc, họ lý giải lời Phật dạy, thấy được chân tinh thần bình đẳng mà Phật đề ra.

Từ giáo lý căn bản về sự bình đẳng qua lời Phật dạy "Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn”, Phật giáo Đại thừa phân tích, ứng dụng và triển khai thành tinh thần Tăng tục bình đẳng. Ý này nói lên trí tuệ không hạn cuộc riêng cho giới xuất gia. Và xa hơn, mạnh hơn nữa là tinh thần nam nữ bình đẳng, quyền năng không dành riêng cho đàn ông.

Chúng ta có thể nhận thấy rõ vào thời kỳ kiết tập kinh Duy Ma, xã hội đang phát triển mạnh cùng với tân Bà la môn giáo. Với bối cảnh như vậy, hàng tu sĩ trí thức muốn bảo vệ đạo pháp phải phá vỡ lớp vỏ cố chấp của tu sĩ bảo thủ sống đóng khuôn. Họ đưa ra hai nhân vật Duy Ma và Thiên nữ nằm ngoài Phật pháp. Hai người này lại hiểu và vận dụng Phật pháp tuyệt luân hơn so với đệ tử Phật. Chính vì vậy, trong thời kỳ này, Đại chúng bộ kiết tập kinh điển, thành lập Tăng đoàn mới gồm có cả cư sĩ cũng được tham dự việc kiết tập.

Đệ tử của Phật có ba hạng là Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Hàng Thanh văn ở vị trí thấp nhất, lo tự sửa mình nhiều hơn. Chúng sanh thì tội ngập đầu, nhưng lại luôn thấy lỗi nhỏ của người. Ngài Huệ Năng dạy nếu là bậc chân tu, thì không thấy lỗi người. Nếu còn thấy lỗi người, biết mình còn kém dở.

Đối với hạng người này, Phật dạy đừng nhìn ra chúng sanh, vì chúng sanh đa dạng có nhiều nghiệp và phiền não. Nếu không có nghiệp và phiền não, họ đã là Phật, không là chúng sanh. Phật biết những người mới phát tâm nhìn thấy nghiệp và phiền não, sẽ dễ phiền não theo. Những điều mà người làm, ta cảm thấy không bằng lòng và đem cái không bằng lòng đặt vào lòng ta lâu ngày, nó biến thành nghiệp của ta.

Đối với chúng sanh có chút ít căn lành đời trước, Phật sợ họ mất căn lành, Ngài mới nói pháp Thanh văn cho họ. Thanh văn là đệ tử nhỏ trực tiếp nghe Phật thuyết pháp, suy nghĩ và áp dụng lời Phật dạy. Sống theo mẫu Phật sống là sống theo pháp. Nhờ làm theo Phật lâu ngày, tất cả phiền não trần lao, chúng sanh, chúng sanh nghiệp xa lần. Chuyện thế gian quên càng nhiều, họ càng tiến gần đến Niết bàn. Gần không phải là sống kế bên, nhưng sống giống Phật.

Sống theo bên ngoài, bị phiền não chi phối. Ta còn nhiều nghiệp mà giáo hóa người, thì chỉ giáo hóa bằng nghiệp mà thôi. Vì vậy, Phật khuyên ta nên nghe pháp và sống với pháp. Sống theo Phật nghe pháp, tâm trở nên bình ổn, ta bắt đầu sống với nội tâm, không còn hướng ra ngoại cảnh gọi là hồi quang phản chiếu. Thanh văn tu trên lộ trình này, đạt đến pháp Không, việc đời không còn dính líu đến họ. Sống trong chùa lâu ngày, không nghe chuyện phiền não thế tục, thoát ly trần cảnh. Ngày đêm sống với pháp, với nội tâm hay Niết bàn. Niết Bàn, sanh tử, nội tâm và ngoại cảnh, bốn trạng thái này là một.

Thiên nữ nhắc Xá Lợi Phất hay chúng Thanh văn rằng các ngài ở Niết bàn, hoa ở thế gian, làm sao gỡ nó. Còn phải gỡ hoa chứng tỏ các ngài còn ở sanh tử.

Câu chuyện Thiên nữ có rải hoa và Thanh văn có dính hoa hay không, chúng ta xem là hiện tượng thật cũng được, hay giả dụ cũng tốt. Điều chính là chúng ta cần suy nghĩ đến mục tiêu câu chuyện ngầm chỉ một pháp gì mà Phật muốn truyền trao, không phải nói cho vui.

Khi tu, Thanh văn và Bồ tát ở hai thái cực khác nhau. Thiên nữ ngầm nhắc nhiều khi trên bước đường hành đạo, chúng ta tưởng rằng mình giải thoát; nhưng lúc va chạm thực tế, mới thấy rõ tâm ta còn đầy phiền não tội lỗi. Thanh văn được Phật ấn chứng là A la hán cứ đinh ninh họ đã ở quả vị này. Tu hành chúng ta dễ rớt vào tâm trạng này, rất nguy hiểm. A la hán nghĩ mình là A la hán, thì không còn là A la hán nữa, tức khởi niệm thì trở thành vọng động, là đã rời vị trí A la hán. A la hán thuộc về Vô sanh, nhưng phát khởi vọng niệm nghĩa là rời Vô sanh, rớt qua sanh tử.

Khi ngồi yên, không nghĩ gì, trạng thái tâm của chúng ta bất sanh. Tâm bất sanh, nên vật cũng bất sanh. Đây là trạng thái nội giới, một trạng thái nhiếp tâm cao độ mà năm trăm cỗ xe chạy ngang cũng không biết. Khi lặn sâu vào Thiền định, đạt Vô sanh thật. Nhưng xả Thiền, không trụ trạng thái Vô sanh được nữa. Sanh này do từ tâm sanh khởi.

Xá Lợi Phất hỏi Thiên nữ tu hành theo thừa nào. Thiên nữ trả lời trong ba thừa của Như Lai, Ngài không tu thừa nào. Điều này gợi cho chúng ta suy nghĩ Như Lai chỉ có Tam thừa giáo, mà Thiên nữ không tu thừa nào. Vậy Bồ tát có phải là đệ tử của Như Lai hay không.

Thiên nữ trả lời nếu đi vào rừng có gỗ chiên đàn, thì ta chỉ nghe mùi chiên đàn thôi, không có mùi khác. Đây là Thiên nữ tu ở Nhất thừa, không tu ở Tam thừa. Tu ở Nhất thừa nghĩa là đã lìa quan niệm của Tam thừa trước, nhưng nó dung hội được cả ba thừa. Nếu cần Thanh văn, Thiên Nữ là Thanh văn. Cần Bích chi Phật, ngài là Bích chi Phat. Cần Bồ tát, ngài là Bồ tát. Không cần gì, Thiên nữ không là gì. Chính đó là quả vị giải thoát.

Vì vậy, khi đạt quả vị Như Lai, không con gì vướng bận ngài; nhưng không có gì chúng sanh cần, mà Như Lai không đáp ứng. Bồ tát Viên thừa an trụ trạng thái chứng đắc này. Tùy theo yeu cầu của chúng sanh, các ngài thành tựu nhiều việc lợi ích dưới mọi dạng thức, không phải bị kẹt trong mô hình nào.

Xá Lợi Phất hỏi Thiên nữ thần lực của ngài thật bất tư nghì, sao ngài không biến thành đàn ông. Thiên nữ trả lời rằng ngài ở đây đã mười hai năm, đã cố gắng tìm xem tướng nữ là gì và tác dụng của nó ra sao, mà vẫn không biết. Xá Lợi Phất mới đến, sao phân biệt thấy được rõ vậy.

Xá Lợi Phất hỏi Thiên nữ tại sao không chuyển thành thân nam để tu hành cho dễ. Thiên nữ giải thích rằng không kẹt trong tướng nữ và nam, đạt được Trung đạo đệ nhất nghĩa, thì Bồ tát tùy hoàn cảnh mà hiện thân tương ưng để hành đạo. Ở môi trường này, trong pháp hội này, Thiên nữ đóng vai nữ để thể hiện Bất nhị pháp môn một cách tuyệt diệu, cần gì phải chuyển thành thân nam. Vừa nói xong, ngài biến Xá Lơi Phất thành Thiên nữ và ngài tự hóa mình thành Xá Lợi Phất mà hỏi rằng tại sao ngài không chuyển thân nữ.

Xá Lợi Phất trả lời không biết tại sao ông lại biến thành thân đàn bà. Điều này nhắc hành giả trên bước đường tu thường đứng trên chân như nhìn về sanh diệt, coi chừng lần rớt về tục đế mà không hay biết. Ở đây diễn tả bằng hình ảnh Xá Lợi Phất biến thành Thiên nữ và ngược lại Thiên nữ biến thành Xá Lợi Phất.

Muốn đoạn thân tướng trên mặt hiện tượng, hành giả phải đoạn nghiệp. Xá Lợi Phất thành người nữ là vì Xá Lợi Phất có nhiều phân biệt. Từ phân biệt tạo thành nhiều nghiệp, sau cùng nghiệp của mình biến mình thành ra thân xấu tệ. Không phải một nhân vật nào bên ngoài có khả năng biến đổi ta.

Qua câu chuyện của Xá Lợi Phất, chúng ta thấy sanh trên cuộc đời, mỗi người đã có thân hình cố định. Hiện ra thân nữ hay thân nam không quan trọng. Vấn đề chính yếu là người nào tao nên thân này. Thiên nữ thí dụ như một người thợ nặn tượng đàn bà. Ta lại bảo họ sao không biến thành đàn ông; hỏi như vậy quả thực là ngớ ngẩn.

Thiên nữ giải thích rằng nếu bây giờ Xá Lợi Phất tự chuyển thân đàn bà thành đàn ông đươc, thì các người nữ khác cũng sẽ chuyển thành đàn ông được. Phải biết khi ta thành người nào hay loài nào, là do động cơ thúc đẩy mà thành.

Xá Lợi Phất chưa làm chủ được tâm, nên còn bị tâm chi phối. Đây là sự khác biệt giữa Thanh văn và Bồ tát. Bồ tát trên nhân gian đóng vai chủ động, nên mang đủ các loại hình là tùy theo bổn nguyện mà hiện thân, hoặc tùy chúng sanh cần tư cách nào, Bồ tát mang thân đó. Trong khi chúng sanh tùy nghiệp mà hiện thân hình không giống nhau, nên ghét thân nữ nhưng không đổi được.Chúng sanh không chủ động được mà thọ thân tùy theo nghiệp quyết định. Nghiệp đổi thì thân đổi. Nghiệp của chúng ta thế nào tạo hình chúng ta tương ưng như vậy. Đã tạo ra hình rồi, khôngcó cách nào thay đổi được. Đổi hay không do ông thợ nắn hình là nghiệp, chứ hình không tự đổi được. Trên bước đường tu hành, lặn sâu vào thế giới tâm thức, vượt qua bức tường tri thức của con người, sẽ thấy nguyên nhân tạo hình ở nhân gian. Và bấy giờ đã nắm rõ quy luật, muốn tạo hình gì thì tùy ý.

Cuối cùng, Xá Lơi Phất hỏi Thiên nữ rằng ngài hiểu biết quá rộng, công đức không thể nghĩ bàn. Dù sao mang thân hữu hạn trên trần thế tức có sanh diệt, sau khi chết rồi sanh về đâu, có lên Niết bàn hay không. Thiên nữ trả lời chư Phật sanh thế nào, ngài cũng sanh như vậy. Ở đây, thân người nữ được Thiên nữ so sánh bằng với Phật. Điểm này thể hiện trong kinh Pháp Hoa phẩm 12, Long nữ thành Phật, rằng sanh tử và Niết bàn là một. Chúng sanh và Phật không khác. Chúng sanh và Phật cũng đầy đủ ba thân, nhưng sử dụng được hay không mới quan trọng.

Chết đây sanh kia là phần đoạn sanh tử chỉ cho chúng sanh. Phật theo quan niệm cố hữu của mọi người, tiêu biểu là Xá Lợi Phất, Phật thành Phật rồi vào Niết bàn, không hiện hữu ở đây nữa. Nhưng hiểu theo tinh thần Như Lai thọ lượng của kinh Pháp Hoa, Như Lai ở Niết bàn thì không phải là Phật nữa. Phật hiện có diệt hay không diệt là tùy trường hợp giáo hóa. Khi vô minh, nghiệp chướng, phiền não nổi lên, Phật biến mất; chúng ta không thấy Ngài, mặc dù Ngài vẫn có. Đến khi tâm hồn chúng ta hoàn toàn lắng yên, Phật lại hiện hữu êm đềm bên cạnh chúng ta.

Từ trạng thái tâm hồn yên tĩnh hay bản tâm thanh tịnh của Duy Ma, nhìn lại cuộc đời sẽ thấy rõ mọi hiện tượng bày ra ngoạn mục, trong đó có đầy đủ Thiên nữ và Xá Lợi Phất. Thật vậy, khi tâm hành giả bao la, tất cả hiện tượng giới sẽ phơi bày muôn màu muôn vẻ để chúng ta hiểu và điều động nó. Điều động như vậy là điều động từ gốc, nên không giáo hóa chúng sanh mới thực là giáo hóa.

Thiên nữ và Xá Lợi Phất ở trong lòng chúng ta. Chúng ta nắm tận gốc, giải quyết trên căn bản tâm, thì cùng một ý với phần đầu đã nói là muốn độ chúng sanh phải độ mình. Bản tâm hành giả thanh tịnh, mới thấy chúng sanh ở trong tâm và giáo dưỡng họ ngay trong tâm hành giả. Nhờ vậy, chúng sanh bên ngoài cũng được giải thoát theo. Đó là giáo hóa dưới dạng bản thể. Còn mang ý niệm giáo hóa, hành giả còn đứng ở lập trường chúng sanh giáo hóa chúng sanh, chắc chắn thất bại.

Tôi có kinh nghiệm sâu sắc về vấn đề này. Khi tôi muốn người nào đến, họ lại đi. Tôi muốn họ đi cho khuất mắt, họ cứ lù lù hiện đến. Cái muốn này của chúng ta phát xuất từ ý thức. Nằm trong ý thức giới mà độ chúng sanh, chỉ toàn bực bội khó chịu. Phải trở về bản tâm thanh tịnh, hành giả giáo hóa chúng sanh ở trong tâm mình thuần thục xong, thì chúng sanh bên ngoài cũng ngoan ngoãn theo. Nói cách khác, bên trong hành giả hoàn toàn thuần tịnh, bên ngoài tự tốt theo, hoặc muốn độ chúng sanh, trước nhất phải độ mình.

Từ đây phải quay ngược lại tìm hiểu xem mình là gì. Văn Thù cho biết chúng ta là hiện hữu của thiện ác sanh diệt. Chúng ta tồn tại ở hai mặt tương đối phải trái, tốt xấu.

Theo Phật, phân tích con người từng thứ riêng rẽ sẽ thấy cái ngã không có. Giả ngã này là sự tổng hợp mà Duy Ma gọi là tương đối pháp hợp lại thành. Theo ngai Thế Thân phân tích có một trăm pháp trong thân. Hành giả điều chỉnh một trăm pháp này bằng cách thủ tiêu lần cái ác, để tâm thiện sanh ra. Nhưng thiện hay ác đều ở trong sanh diệt, nó bám víu chúng ta để tồn tại, nó không phải thật của ta.

Duy Ma cho biết thiện ác tồn tại trên thân sanh diệt là tổ hợp vật chất. Tổ hợp siêu vật chất là tinh thần. Phần tinh thần tuy không thấy bằng mắt, nhưng tồn tại thật như tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, thân kiến… Bình thường chúng ta không thấy nó, nhưng gặp môi trường tác động, nó xuất hiện nhanh lắm. Người xưa thường nói mắt sáng như thấy vàng. Phật cho biết phần độc hại tinh thần này, nếu chúng có hình tướng, thì không có chỗ chứa cho hết. Quan sát bằng lăng kính thật tướng các pháp thấy chúng ta tồn tại là tồn tại trên tâm tham, tâm sân, tâm si… Hành giả tu Thiền phát hiện những độc tố tinh thần để điều chỉnh. Chỉnh trong lòng xong, vật bên ngoài đương nhiên thay đổi. Trên bước đường tu, chúng ta trắc nghiệm pháp này sẽ thấy kết quả đúng như Phật dạy. Mọi việc đều do ta tạo tác, không ai có khả năng làm khổ chúng ta.

Trên lộ trình bước theo dấu chân Phật, khởi đầu từ phát tâm tu Bồ tát đạo, hành giả phát triển tri thức và đạo đức. Tu như vậy liên tục từ đời này sang đời khác, tiến đến Phật quả. Và từ quả vị viên mãn này, hành giả mang theo bản nguyện ban đầu là chúng sanh vô biên thệ nguyện độ. Thệ nguyện này dẫn hành giả đi thọ sanh, nhưng không sanh, ví như anh thợ làm đồ giả. Hay nói cách khác, hành giả thành Chánh giác, được Báo thân viên mãn; nhưng không an trú Niết bàn, mà theo bản nguyện, hành giả vẫn hằng hữu trong mười phương giáo hóa chúng sanh. Đó là đại Niết bàn của chư Phật, chư đại Bồ tát bất tư nghì giải thoát.