cool hit counter

Sách


Lời giới thiệu Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp
Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa Thiền định phóng quang và đàm kinh nhập diệu
Nguyện hương Đoạn phiền não – tâm bình an
Đảnh lễ Phật Giàu đạo đức, giàu tuệ giác
Lễ Phật quá khứ Giới đức pháp thân
Đảnh lễ Phật hiện tại An trụ tịch diệt tướng
Lễ Phật vị lai Ý nghĩa Phật Đản theo kinh Pháp Hoa
Đảnh lễ Bồ tát Phật giáo và dân tộc Việt Nam
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh hoằng thông liệt vị Tổ sư Hoằng pháp ở thế kỷ XXI
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh thủ hộ thiện thần Dòng chảy miên viễn của Thiền
Sám hối Đức Phật sống mãi với chúng ta
Phát nguyện Đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật
Ý nghĩa thọ trì 7 phẩm Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Chùa mục đồng ở Nam bộ
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ nhất Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định của mọi thành công
Ý nghĩa phẩm Pháp sư Phật giáo, con đường dẫn đến sự sống hòa bình, phát triển, an lạc, hạnh phúc cho nhân loại.
Ý nghĩa phẩm Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15 Sức sống Thiền của Trần Thái Tông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 Sống trong tỉnh giác
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17 Quan niệm về kinh tế trong Phật giáo
Ý nghĩa phẩm Phổ Môn thứ 25 Những nét đẹp của Phật giáo Lý Trần
Ý nghĩa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28 Nghệ thuật trong Phật giáo
Hồi hướng Ý nghĩa nhà lửa tam giới trong kinh pháp hoa
Ý nghĩa tụng thủ hộ thần chú Ý nghĩa lễ tắm Phật
Ý Nghĩa Quy Y Tam Bảo Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm
Năm Giới Của Người Phật Tử Tại Gia Ý nghĩa Vu Lan  
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Pháp Hoa Và Tụng Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Sám Hối Nhứt Phật thừa
Ý Nghĩa Tụng Kinh Dược Sư Và Niệm Phật Dược Sư Quán tứ niệm xứ
Ý Nghĩa Niệm Phật Di Đà Tứ chánh cần
Lời nói đầu Tứ như ý túc
I. Lý do chọn 21 ngày tu gia hạnh Phổ Hiền
Ngũ căn ngũ lực
II. Ý nghĩa của sự khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày thành đạo của Phật Di Đà là ngày 17 tháng 11 và kết thúc vào ngày thành đạo của Phật Thích Ca là ngày mùng 8 tháng 12 Thất Bồ đề phần
III. Kết luận Thúc liễm thân tâm
Lời tựa Tùy duyên  
Tổng luận Thanh tịnh hóa thân tâm
Pháp hội 1 : Tam Tụ Luật Nghi Nhứt thiết Chúng sanh Hỷ kiến Bồ Tát
Pháp hội 2: Vô Biên Trang Nghiêm Đà la ni Chánh kiến
Pháp hội 3 : Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Tam quy và pháp niệm Phật
Pháp hội 5: Vô Lượng Thọ Như Lai Hài hòa để cùng tồn tại và phát triển
Pháp hội 6: Bất Động Như Lai Hạnh khiêm cung và bát kỉnh pháp
Pháp hội 7: Mặc Giáp Trang Nghiêm An lạc hạnh  
Pháp hội 8: Pháp Giới Thể Tánh Vô Sai Biệt Những kinh nghiệm giảng dạy
Pháp hội 9 : Đại Thừa Thập Pháp Kinh nghiệm giảng dạy Kinh Hoa Nghiêm
Pháp hội 10: Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn Một số đề tài gợi ý cho những bài thuyết giảng của Tăng Ni sinh Khóa Giảng sư
Pháp hội 11: Xuất Hiện Quang Minh & Pháp hội 12 : Bồ Tát Tạng Nổ lực tự học để kế thừa và phát huy được tinh ba của Thầy, Tổ.
Pháp hội 14: Phật Thuyết Nhập Thai Tạng Một số phương hướng cho ngành Hoằng pháp
Pháp hội 15: Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký Vài suy nghĩ về Hoằng pháp trong thời hiện đại
Pháp hội 16: Bồ Tát Kiến Thiệt Hoằng pháp trong thế kỷ 21
Pháp hội 17: Phú Lâu Na Nhà Hoằng pháp và giáo dục tiêu biểu trong thế kỷ XX
Pháp hội 18: Hộ Quốc Bồ Tát Hoằng pháp ở thế kỷ 21(thuyết giảng ngày 20 – 24 tháng 6 năm 2007)
Pháp hội 19: Úc Già Trưởng Giả Điểm chung nhứt của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền
Pháp hội 20: Vô Tận Phục Tạng Mô hình Hoằng pháp tại nước nhà trong thời đại ngày nay
Pháp hội 21: Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La Tư cách của vị trụ trì
Pháp hội 23: Ma Ha Ca Diếp Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại
Pháp hội 24: Ưu Ba Ly Ý nghĩa trụ trì
Pháp hội 25: Phát Thắng Chí Nguyện Trụ trì, người giữ chùa
Pháp hội 26: Thiện Tý Bồ Tát Kinh nghiệm làm trụ trì
Pháp hội 27 : Thiện Thuận Bồ Tát Tam pháp ấn
Pháp hội 28: Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả Nét đẹp của Phật giáo Nam Tông Khơ Me
Pháp hội 29: Ưu Đà Diên Vương Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện đại
Pháp hội 30: Diệu Huệ Đồng Nữ Điều thiết yếu của người tu : Sức khỏe tốt, trí sáng suốt và trái tim nhân ái
Pháp hội 31: Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di An trụ pháp tịch diệt
Pháp hội 32: Vô Úy Đức Bồ Tát Hoằng pháp và trụ trì
1. Lời tựa Đạo đức hành chánh
2. Khái niệm về kinh Duy Ma Ba điểm quan trọng đối với tân Tỳ kheo
3. Quán chúng sanh theo kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (Thuyết giảng tại chùa Phổ Quang)
4. Bất Nhị pháp môn trong kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (thuyết giảng tại chùa An Phước)
5. Ý nghĩa phẩm Phật Hương Tích trong kinh Duy Ma Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ : Học, tu và làm việc
6. Quan niệm về đức Phật trong kinh Hoa Nghiêm Truyền trao giới pháp và lãnh thọ giới pháp đúng như pháp.
7. Ý nghĩa lễ Phật theo kinh Hoa Nghiêm Giới tánh Tỳ kheo
8. Ý nghĩa phương tiện theo kinh Pháp Hoa Lời tựa       
9. Ý nghĩa thí dụ ba xe và nhà lửa trong kinh Pháp Hoa Tiểu sử
10. Ý nghĩa hóa thành dụ trong kinh Pháp Hoa Giới tánh tỳ kheo  
11. Pháp sư của kinh Pháp Hoa Hoằng pháp và trụ trì  
12. Ý nghĩa Long Nữ dâng châu trong kinh Pháp Hoa An lành và tĩnh giác
13. An Lạc Hạnh theo kinh Pháp Hoa Nghĩ về sự thành đạo của Đức Phật
14. Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất Mùa Xuân đọc kinh Hoa Nghiêm
15. Cảm niệm về Bồ Tát Phổ Hiền Sự lớn mạnh của Phật giáo song hành với thành phố phát triển 300 năm
Lời tựa Khai Thị 2009 Những quan niệm về Đức Phật
Xuân trong Phật đạo Thế giới tâm thức và thế giới hiện thực
Phước Lộc Thọ Pháp phương tiện
Hạnh xuất gia Tụng kinh, lạy Phật, sám hối và thiền quán
Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo Đức hạnh của vị Tỳ kheo
Hạnh nguyện Quan Âm Hành trình tâm linh : nẻo về vĩnh hằng của người tu
Tàm Quý Ý nghĩa Phật Đản PL. 2542 - 1998
Họa phước vô môn Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật
An cư kiết hạ Nương nhờ đức từ của Tam bảo
Phật giáo và vấn đề tác hại của thuốc lá Ý nghĩa Kim Cang thừa trong Phật giáo
Phật giáo và bảo vệ môi trường Cảm nghĩ về Đức Phật A Di Đà
Phật giáo và thiếu nhi Ý nghĩa Vu Lan 1998
Nói không với ma túy Bồ Tát Đạo
Đạo đức ở tại gia Mùa An cư : sáu thời tịnh niệm
Mỉm cười trong đau khổ Tinh thần Phật giáo Đại thừa
Phật giáo và dân số Phật giáo hướng về tương lai
Kính lão đắc thọ Ý nghĩa lễ Vu Lan PL 2542 - 1998 (thuyết giảng tại trường hạ chùa Hội Khánh)
Hành trì giới luật Chơn thân – huyễn thân
Ý nghĩa Vu lan Tư cách của vị trụ trì  
Hạnh nguyện Địa Tạng Bồ tát Tâm từ bi của Đức Phật
Nối vòng tay lớn 9 tuần tu học đồng đăng Cửu Phẩm Liên Hoa
Niềm vui của tuổi già Những việc cần làm trong 3 tháng An Cư
Kiến thức và trí tuệ Những việc cần làm trong 3 tháng an cư Suy nghĩ về linh hồn trong Phật giáo
Tình người Hoằng pháp   
Hạnh nguyện Bồ tát hay Bồ tát đạo Tìm hiểu ngôn ngữ của Đức Phật
Tha lực và tự lực Mùa Xuân trên đất Bắc
Hạnh nguyện Dược Sư Lời tựa        
Ơn Thầy Ý nghĩa cầu an
Vượt qua mặc cảm Hạnh nguyện Phổ Hiền
Lời tựa Lược giải Kinh Hoa Nghiêm Bản chất Niết bàn
Nghề nghiệp chân chánh Niềm tin chân chánh
CHƯƠNG I – LỊCH SỬ KINH HOA NGHIÊM
        I - Khái niệm về lịch sử kinh Hoa Nghiêm
Hóa giải hận thù
    II - Lịch sử truyền thừa và phát triển kinh Hoa Nghiêm Phật giáo và hòa bình thế giới
  III - Nội dung kinh Hoa Nghiêm Quốc thái dân an
CHƯƠNG II - Ý NGHĨA ĐỀ KINH HOA NGHIÊM Giải tỏa oan ức
CHƯƠNG III – QUAN NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT THEO KINH HOA NGHIÊM
       I - Quan niệm về Đức Phật trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
Vững trước khen chê
   II - Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Ý nghĩa sức mạnh hòa hợp
  III - Quan niệm về Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm Âm siêu dương thạnh
CHƯƠNG IV – BỒ TÁT ĐẠO
      I - Bồ tát Thập Tín
Thực tập nhẫn nhục
  II - Bồ tát Thập Trụ Thành công và thất bại
 III - Bồ tát Thập Hạnh Chiến thắng chính mình
IV - Bồ tát Thập Hồi hướng Thân cận người trí
 V - Bồ tát Thập Địa hay Thập Thánh Sống hạnh viễn ly
VI - Bồ tát Thập Định Ý nghĩa bờ bên kia
VII - Bồ tát Thập Thông Hương thơm đức hạnh
VIII - Bồ tát Thập Nhẫn Tòa án lương tâm
CHƯƠNG V – PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI Củng cố niềm tin
   1- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Đức Vân Tỳ kheo Giá trị cuộc sống
   2- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Vân Tỳ kheo Giáo dục con cái
   3- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Trụ Tỳ kheo Vượt qua tật bệnh
   4- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Di Già Đền ơn đáp nghĩa
   5- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Giải Thoát Thân phận con người
   6- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Tràng Tỳ kheo Sức mạnh của ý chí
   7- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hưu Xã Ưu bà di Quan niệm về Tịnh Độ
   8- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa Cư trần lạc đạo
   9- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thắng Nhiệt Bà la môn Làm mới cuộc sống
   10- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Từ Hạnh đồng nữ Lời tựa        
   11- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Kiến Tỳ kheo Ăn chay lợi cho sức khỏe và tâm linh
   12- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tự Tại Chủ đồng tử Chuyển hóa sanh thân thành pháp thân
   13- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Cụ Túc Ưu bà di Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam
   14- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Minh Trí Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị Tổ sư người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam
   15- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Pháp Bửu Kế Mật tông tại Việt Nam
   16- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Phổ Nhãn Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng
   17- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Vô Yểm Túc Phật giáo đi vào cuộc sống
   18- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Đại Quang Sự hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ
   19- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bất Động Ưu bà di Sức mạnh hòa hợp
   20- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Biến Hành ngoại đạo Tác động hỗ tương giữa thân và tâm
   21- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Ưu Bát La Hoa Tận dụng phương tiện hiện đại trong việc hoằng pháp
   22- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thuyền trưởng Bà Thi La Tứ chánh cần  
23.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Vô Thượng Thắng hay Di Lặc Bồ Tát Tu thiền tại Việt Nam
24- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân Vai trò của ni giới Việt Nam trong xã hội hiện đại
25- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với bà Tu Mật Đa nữ Ý nghĩa hóa thân Phật thuyết pháp
26- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Tỳ Sắc Chi La Ý nghĩa kệ dâng y
28.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Chánh Thu Ý nghĩa tập trung phân thân
27.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Quán Tự Tại Ý nghĩa tịnh độ
29- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thần Đại Thiên Cầu nguyện mùa vu lan
30- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Địa thần An Trụ Cư sĩ Phật giáo
31- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với chủ Dạ thần Bà San Bà Diễn Để Đạo đức Phật giáo trong tương lai
32- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Dạ thần Khai Phu Nhứt Thiết Thọ Hoa và Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Nhứt Thiết Chúng Sanh Điểm chung nhứt của Phật giáo nam truyền và bắc truyền  
33- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thọ thần Diệu Đức Viên Mãn Giới luật của người Phật tử tại gia
34- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ tát Di Lặc Bồ đề quyến thuộc
35- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Mối tương quan với thế giới siêu hình
36- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Phổ Hiền Bồ tát Chân tinh thần Phật giáo Bắc tông
CHƯƠNG VI – PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI – PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN Trồng căn lành và sám hối
16. Niết bàn theo kinh Pháp Hoa Lợi ích của an cư kiết hạ
17. Giáo dục của Phật Giáo Đại Thừa Tứ niệm xứ, tứ chánh cần
18. Những điều kiện tu Bồ Tát đạo Mùa xuân vĩnh hằng
19. Ngôi chùa tâm linh Kiến trúc Phật giáo
20. Hành trình về chân linh Kiến trúc Phật giáo  
21. Tu tâm Niềm tin của người phật tử Việt Nam
22. Canh tâm điền Sự an lạc trong gia đình
23. Đường về Yên Tử Báo đáp ơn nghĩa sinh thành
24. Nếp sống của một vị danh tăng Quan niệm về tịnh độ của kinh Di Đà
25. Ý nghĩa Phật Đản Pl.2538 (Tứ Nhiếp Pháp) Tam pháp ấn  
26. Ý nghĩa lễ đức Phật thành đạo Tinh thần từ bi hỷ xả, con đường tốt nhất đi đến hòa bình, phát triển và an lạc cho nhân loại
27. Phật giáo Việt Nam đang hướng về phía trước trên tinh thần vô ngã vị tha Từ bi và hòa bình trong Phật ngọc
28. Xuân hoan hỷ Tình yêu và giới tính theo tinh thần Pháp Hoa
29. Xuân trong cửa thiền Xây chùa, tô tượng, đúc chuông
30. Xuân của hành giả Pháp Hoa Xuân trong cửa đạo
Lời tựa lược giải kinh Pháp Hoa Bồ Tát Thích Quảng Đức, một bậc danh tăng siêu việt của thế kỷ 20
Lịch sử kinh Pháp Hoa Cái chết đối với người phật tử
Kinh đại thừa vô lượng nghĩa Giáo dục ở tự viện
Phẩm 1: Tựa Giới định tuệ
Phẩm 2: Phương tiện Khắc phục nghiệp, giữ chánh niệm, trụ chánh định
Phẩm 3: Thí dụ Khởi nghiệp mưu sinh theo Phật giáo
Phẩm 4: Tín giải Lễ Phật theo bổn môn Pháp Hoa
Phẩm 5: Dược thảo dụ Ngôi chùa tâm linh
Phẩm 6: Thọ ký Nhập không môn, vào vô lượng nghĩa định
Phẩm 7: Hóa thành dụ Nữ giới Phật giáo và sự kết nối toàn cầu
Phẩm 8,9: Ngũ bá đệ tử thọ ký, thọ học vô học nhơn ký Pháp phục của tăng ni Việt Nam
Phẩm 10: Pháp sư Phật giáo và môi trường sinh thái  
Phẩm 11: Hiện bảo tháp Phật giáo và phù đổng Thiên Vương
Phẩm 12: Đề Bà Đạt Đa Thâm nhập không môn
Phẩm 13: Trì Trụ định, hành trang tối thiểu của người tu
Phẩm 14: An lạc hạnh Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng
Phẩm 15: Tùng Địa Dũng Xuất Tu vô lượng nghĩa kinh, sống trong vô lượng nghĩa định, thâm nhập hội Pháp Hoa.
Phẩm 16: Như Lai thọ lượng Vô lượng nghĩa kinh và vô lượng nghĩa xứ tam muội
Phẩm 17: Phân biệt công đức Xây dựng đạo đức của người tu
Phẩm 18: Tùy hỷ công đức Yếu nghĩa của phẩm pháp sư, kinh Pháp Hoa
Phẩm 19: Pháp sư công đức Hướng đi của Phật giáo Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
Phẩm 20: Thường bất khinh Bồ Tát Những điều tâm đắc về hoằng pháp ( thuyết giảng tại Bình Định)
Phẩm 21: Như Lai thần lực Ý nghĩa Phật đản PL. 2550-2006
Phẩm 22: Đà La Ni Mỹ thuật Phật giáo
Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát bổn sự Vai trò của người phụ nữa trong kinh Hoa Nghiêm
Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát Những tư tưởng hòa bình, hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam
Phẩm 25: Phổ môn Đức Phật hằng hữu trong mỗi chúng ta
Phẩm 26: Diệu Trang nghiêm vương bổn sự Vai trò của Tăng già trong thời hiện đại
Phẩm 27: Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát Phật giáo trong nền toàn cầu hóa
Phẩm 28: Chúc lụy Giáo dục Phật giáo
Preface Một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa
Lời tựa lược giải kinh Duy Ma Ý nghĩa cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa
Tổng luận lược giải kinh Duy Ma Tịnh độ
Phẩm 1: Phật quốc Hóa thành dụ
Phẩm 2: Phương tiện   Phật giáo Nam tông vá Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Phẩm 3: Thanh văn Phật giáo trong lòng nhân dân miền Nam
Phẩm 4: Bồ Tát Vị trí của Pháp sư Huyền Trang trong Phật giáo
Phẩm 5: Văn Thù Sư Lợi thăm bệnh Xuân về trên cõi Tịnh
Phẩm 6: Bất tư nghì Vãng sanh cực lạc
Phẩm 7: Quán chúng sanh Cầu siêu bạt độ
Phẩm 8: Phật đạo Công đức của kinh Pháp Hoa
Phẩm 9: Nhập bất nhị pháp môn Nghệ thuật trong Phật giáo  
Phẩm 10: Phật Hương Tích Hoằng pháp ở thế kỷ 21
Phẩm 11: Bồ Tát đạo An cư dưỡng tánh - Thị phi phủi sạch
Phẩm 12: Kiến Phật A Súc Giữ giới và quán chiếu với tứ Thánh đế
Phẩm 13: Pháp cúng dường Gắn tâm với Đức Phật, với giáo pháp và Hiền thánh tăng
Phẩm 14: Chúc lụy Bốn pháp giải thoát
Lời tựa           Gạn sạch phiền não, nghiệp chướng, trần lao
Lịch sử Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Sám hối nghiệp chướng
Ý nghĩa Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Pháp Hoa chân kinh
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ I Ý nghĩa 12 đại nguyện của Đức Phật Dược Sư
Ý nghĩa phương tiện và chân thật Vũ trụ quan theo Phật giáo
Ý nghĩa Thí Dụ Sống an lạc, chết siêu thoát
Ý nghĩa phẩm Pháp Sư thứ 10 Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng
Ý nghĩa phẩm An Lạc Hạnh thứ 14 Quan niệm về đức Phật theo kinh Pháp Hoa  
Ý nghĩa phẩm Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ mười lăm Pháp Phật và an toàn giao thông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ mười sáu Đức Phật của chúng ta
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, phẩm Pháp Sư công đức thứ 19 Đạo đức Phật giáo
Bồ Tát hạnh: Dược Vương Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Diệu Trang Nghiêm Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Bồ tát hạnh theo kinh Pháp Hoa
Lời tựa           Mùa xuân của hành giả phát tâm bồ đề
Pháp Hội 33 : Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện Những điều tâm đắc về kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 34 : Công Đức Bửu Hoa Phu Bồ Tát Ý nghĩa Phật Đản PL 2543 - 1999
Pháp Hội 35 : Thiện Đức Thiên Tử Kinh nghiệm hoằng pháp  
Pháp Hội 36 : Thiện Trụ Ý Thiên Tử Tìm hiểu xã hội học Phật giáo
Pháp Hội 37 : A Xà Thế Vương Tử Theo dấu người xưa
Pháp hội 38: Đại Thừa Phương Tiện Những điều cần làm trong mùa An cư
Pháp Hội 39 : Hiền Hộ Trưởng Giả Bốn bậc trưởng lão được kính trọng
Pháp Hội 40 : Tịnh Tín Đồng Nữ Trở về viên minh tánh
Pháp Hội 41 : Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp Điều kiện để có kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 42 : Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại  
Pháp Hội 43 : Phổ Minh Bồ Tát Ý nghĩa an cư kiết hạ
Pháp Hội 44 : Bửu Lương Tụ Bồ tát quả môn
Pháp Hội 45 : Vô Tận Huệ Bồ Tát Mùa an cư - tiến tu tam vô lậu học
Pháp Hội 46 : Văn Thù Thuyết Bát Nhã Công việc của Tỳ kheo chân chánh
Pháp Hội 47 : Bửu Kế Bồ Tát Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ
Pháp Hội 48 : Thắng Man Phu Nhân Bất biến, tùy duyên
Pháp Hội 49 : Quảng Bác Tiên Nhân Bàn về nghi lễ
Pháp Hội 50 : Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm Tu hành đúng như pháp là tối thượng cúng dường
Pháp Hội 52 : Bửu Nữ Chọn pháp tu an lạc
Pháp Hội 53 : Bất Thuấn Bồ Tát Phát huy chân linh
Pháp Hội 54 : Hải Huệ Bồ Tát Nghĩ về Phật giáo Nhật Bản
Pháp Hội 55 : Hư Không Tạng Bồ Tát Ý nghĩa phẩm Tín giải trong kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 56 : Vô Ngôn Bồ Tát Bồ đề tâm  
Pháp Hội 57 : Bất Khả Thuyết Bồ Tát Đức Phật trong nền văn minh Ấn Độ
Pháp Hội 58 : Bửu Tràng Bồ Tát Một chuyến đi về miền đất Phật
Pháp Hội 59 : Hư Không Mục Giác Ngộ với thiên niên kỷ 3
Pháp Hội 60 : Nhựt Mật Bồ Tát Suy nghĩ về số mệnh trong Phật giáo
Pháp Hội 61 : Vô Tận Ý Bồ Tát Thiền trong đời thường
Lời tựa  Hướng về Thánh tích của Phật giáo
Tiểu sử   Lời tựa           
Thọ giới, tu hành, nỗ lực thâm nhập dòng thác trí tuệ Tam vô lậu học  
Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội Quý nhứt trên đời
Thức ăn tinh thần của người tu Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng  
Thực tu, cảm hóa được chư thiên và quần chúng Sinh hoạt trong mùa An cư  
Trau dồi giới đức, siêng tu tam vô lậu học Suy nghĩ về ý mã tâm viên  
Lời tựa    An lạc hạnh   
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2539 -1995 Tam vô lậu học: Giới, Định, Tuệ  
Tam vô lậu học An cư kiết hạ   
Quý nhất trên đời Cơm Hương Tích  
Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng Bồ tát đạo   
Ý nghĩa Vu lan PL. 2539 - 1995 Mùa An cư sáu thời tịnh niệm  
Nhìn về thế kỷ 21 Tinh thần Phật giáo Đại thừa  
Xuân Pháp Hoa Nhân duyên - căn lành  
Hướng về tương lai Chơn thân - huyễn thân  
Ý nghĩa Niết bàn Chín tuần tu học, đồng đăng cửu phẩm Liên hoa  
Internet, những nỗi lo mới Những việc cần làm trong ba tháng An cư  
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2540 -1996 Hành trang của người xuất gia: căn lành và Phật hộ niệm  
Cảm nghĩ về hoài bão của Đức Phật Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật  
Phật giáo và thực tiễn cuộc sống Trở về viên minh tánh  
Sinh hoạt trong mùa An cư Theo dấu người xưa  
Suy nghĩ về ý mã tâm viên Những điều cần làm trong mùa An cư  
Suy nghĩ về hoằng pháp Tu tâm  
An lạc hạnh Bốn bậc trưởng lão được kính trọng  
Tam vô lậu học : Giới-Định-Tuệ Bồ tát quả môn   
An cư kiết hạ   Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ  
Cơm Hương Tích Mùa An cư - tiến tu Tam vô lậu học  
Ý nghĩa lễ Vu lan Bất biến, tùy duyên  
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2540 - 1996 Công việc của Tỳ kheo chân chánh  
Ơn nghĩa đồng bào Phát huy chân linh  
Hướng về những người con tương lai của đất nước Bàn về nghi lễ  
Hãy đến với Chương trình "Hiểu và Thương" Sáu pháp hòa kỉnh trong mùa An cư  
Lòng từ của Bồ tát Quan Âm Đại thừa Phật giáo  
Bồ đề tâm Tu trên ngũ uẩn thân  
Suy tư của người Phật tử về những vấn đề lớn Trụ pháp và lực gia bị của Phổ Hiền  
Đầu tư - vấn đề nan giải Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ: học, tu và làm việc  
Những điều tâm đắc trên đường về Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Lấy từ bi xóa hận thù Hài hòa, con đường an lành  
Thuận lợi và nguy cơ Nếp sống của người tu  
Lá thư Tổng Biên tập Con đường giải thoát  
Lá thư Xuân (trích Nguyệt san GN số 10) Kinh Đại Bảo Tích pháp hội 59: Hư không mục  
Ý Xuân Ý nghĩa sám Pháp Hoa  
Lá thư Xuân (trích Báo GN số 41) Phật giáo Nam tông  
Những suy nghĩ về Hội nghị kỳ 5 khóa III Trung ương Giáo hội Đạo lực
Năm mới với niềm hy vọng mới Năm đặc điểm của người tu
Trách nhiệm và chức vụ Ý nghĩa Tam vô lậu học
Thành quả của Đại hội Phật giáo TP. HCM kỳ V Pháp tu trong ba tháng An cư
Sự đi lên của Phật giáo miền Trung Hướng đi giải thoát
Hướng phát triển tốt đẹp trong mùa An cư Hạnh an lạc
Hướng về ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7 Tỉnh giác là chơn giác
Lễ Vu lan - ngày đền ơn đáp nghĩa của Đông phương Ý nghĩa xuất gia  
Thương tiếc danh tăng An cư và hạnh đầu đà
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2541 - 1997 Cảm niệm Phật A Di Đà
Mừng 52 năm, một chặng đường phát triển của đạo pháp Cùng giúp nhau hoàn thiện tư cách người xuất gia
Vấn đề trẻ hóa lãnh đạo Hành đạo tùy duyên
Phật giáo Việt Nam, một tương lai tươi sáng Nhu đạo và Tịnh độ
Kết quả Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV Những kinh nghiệm tu hành
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VI (1994) Sự hộ niệm của Phật, Bồ tát, Thiên Long Bát Bộ
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VII (1999) Thể nghiệm pháp Phật
Cảm niệm cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa Tịnh độ   
Cảm niệm ân sư Trụ pháp Vô sanh
Đức Pháp chủ là biểu tượng đoàn kết các hệ phái Phật giáo Tu hành là chuyển hóa hữu lậu ngũ uẩn thành vô lậu ngũ uẩn
Cảm niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ Vai trò của nữ tu Phật giáo trong thời Bắc thuộc
Cảm niệm về Hòa thượng Thích Thiện Hào Y báo và chánh báo
Duyên kỳ ngộ Ý nghĩa Tịnh độ   
Hồi tưởng về đức hạnh của Hòa thượng Thích Tâm Thông Tất cả pháp môn tu đều là Phật pháp
Sáng niềm tin Ngộ tánh khởi tu
Một hình ảnh khó quên trong cuộc đời hoằng pháp của tôi Theo dấu chân Phật   
Cảm niệm ân sư (Kỷ niệm lễ chung thất Hòa thượng Thích Trí Đức) Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức
Những kỷ niệm với Hòa thượng Thích Thiện Châu Những khởi sắc của Phật giáo tỉnh Lâm Đồng
Nghĩ về Hòa thượng Thích Thanh Kiểm Trau dồi giới đức, phát triển tuệ lực
Tưởng niệm Ni trưởng Huê Lâm Tu đúng pháp
Ni sư Huỳnh Liên Tâm đức và tuệ đức
Nghĩ về Ni trưởng Như Hòa nhân ngày Tiểu tường An cư là tịnh hóa thân tâm
Lời nói đầu   An trú bây giờ và ở đây
Hoằng pháp Tăng trưởng đạo lực
Những điều tâm đắc về hoằng pháp Đi theo dấu chân Phật và các bậc tiền nhân
Kinh nghiệm hoằng pháp Tâm là Diệu pháp, thân là Liên hoa
Hoằng pháp theo nhân duyên Tu là chuyển nghiệp
Ý nghĩa thuyết pháp Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học.
Giáo dục và hoằng pháp Nương lực Phổ Hiền Bồ tát để tiến tu
Lời tựa      Sống vô ngã vị tha
Ý nghĩa kinh hành niệm Phật Trí tuệ và đạo đức là sức mạnh của người tu
Ý nghĩa tĩnh tâm Tinh thần tùy duyên và bất biến
Lục hòa Làm cho đất nước cũng là làm cho Phật giáo
Sáu pháp ba la mật Bình thường tâm thị đạo và ngôi chùa tâm linh
Tịnh độ theo kinh Duy Ma Học hiểu giáo lý đúng đắn và ứng dụng có hiệu quả vào cuộc sống tu hành
Tam minh Phát huy đạo đức và trí tuệ làm đẹp cho đạo tốt cho đời
Hồi hướng theo kinh hoa nghiêm Ngủ trong tỉnh thức
Xử thế của đạo Phật Sự gắn bó giữa Tăng Ni và Phật tử là điều cần thiết
Tam bảo Nhận ra con người thực của mình để tiến tu
Nhập thế của đạo Phật Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định mọi thành công
Tứ hoằng thệ nguyện Ý nghĩa hồng danh sám hối
Xuân Di Lặc Đoạn phiền não - tâm bình an  
Báo hiếu theo kinh vu lan Giàu đạo đức, giàu tuệ giác  
Phật giáo và pháp luật Giới đức Pháp thân  
Khái niệm về giới luật của người phật tử tại gia An trụ tịch diệt tướng  
Ý nghĩa xuất gia Lắng tâm, tịnh niệm  
Ngọn đuốc xuân Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh  
Ngũ uẩn Ngũ ấm ma trong chúng ta  
Hòa thượng Thích Quảng Đức, một con người bất tử Phát huy đạo lực  
Mông sơn thí thực Sống trong tỉnh giác  
Tính cách pháp lý của giáo hội Tấm gương sáng của Tổ Huệ Đăng  
Những thành quả của giáo hội Phật giáo Việt Nam Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp  
Ý nghĩa đại trai đàn Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội  
Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa Thức ăn tinh thần của người tu  
Lắng tâm, tịnh niệm Thực tu, cảm hóa được chư Thiên và quần chúng  
Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh. Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm  
Ngũ ấm ma trong chúng ta Trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Phát huy đạo lực Tu bồi cội phúc  
Phước đức và trí tuệ Tùy duyên      
Tấm gương sáng của tổ Huệ Đăng Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa  
Tâm tạo ra tất cả Ý nghĩa Nhà lửa tam giới trong kinh Pháp Hoa  
Tu bồi cội phúc Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa  
Tùy duyên  

 

Pháp Hội 59 : Hư Không Mục

Pháp hội này Đức Phật đề cập trước nhất là sự nhận thức về Tứ Thánh đế theo tinh thần Đại thừa. Lịch sử Phật giáo ghi rằng trước tiên Đức Phật nói pháp Tứ Thánh đế ở Lộc Uyển. Trong suốt mười hai năm đầu giáo hóa độ sanh, Ngài triển khai pháp Tứ Thánh đế, dạy cho Thanh văn gọi là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Căn bản của pháp Phật chính là Tứ Thánh đế.

Tuy nhiên, dưới kiến giải của Đại thừa hay Tổ Thiên Thai, quán sát Tứ Thánh đế có những cấp bậc khác nhau. Đó là tư nghì sanh diệt Tứ Thánh đế, bất tư nghì sanh diệt Tứ Thánh đế, tư nghì bất sanh diệt Tứ Thánh đế và bất tư nghì bất sanh bất diệt Tứ Thánh đế.

Phật giảng Tứ Thánh đế tư nghì sanh diệt thì Thanh văn suy nghĩ, luận bàn, trao đổi. Điều này nằm trong phạm vi hiểu được, giải thích được của con người. Có thể nói đây là pháp dành cho phàm phu, cho người chưa đắc đạo.

Phải từ sơ quả Tu Đà Hoàn, dự vào dòng Thánh, mới bước qua Tứ Thánh đế thứ hai là bất tư nghì sanh diệt Tứ Thánh đế, thì nhận biết, hiểu được pháp này. Kinh ví như người uống nước mới biết mùi vị của nước thế nào. Xây dựng trên tinh thần này, đạo Phật chủ trương tu là chính. Học một lần, nhưng suy nghĩ và áp dụng suốt đời và nhiều đời cho đến chứng được quả Vô thượng Bồ đề mới hoàn tất.

Ngày nay, các Thầy cô học xong một bộ kinh, hiểu và giảng dạy được, thì đó là cái học và hiểu theo thế gian; còn có nhiều điều không hiểu là pháp bất tư nghì. Nhưng nếu áp dụng trong cuộc sống tu hành, đắc Sơ quả cũng biết được những điều bất tư nghì. Có thể nói kinh Pháp Hoa chúng ta học là của phàm phu hay Thanh văn. Kinh Pháp Hoa của Bồ tát thì ta chưa là Bồ tát, nên không thể biết.

Phàm phu nhìn đời hay đạo hoàn toàn khác người xuất gia. Phàm phu nhìn đời dưới dạng tham lam, ghét ganh, thấy lợi là chen vô, thấy khó thì tránh né. Hành đạo, tôi nhận ra ý này. Xuất gia làm Sa môn sống trong pháp Phật, nên cái nhìn của ta phải khác. Người đời thấy ta tu là khổ; còn ta phải thấy việc tu hành là vinh quang, thấy khổ thì không tu được. Tôi thấm thía câu nói của Hòa thượng Thiện Hoa rằng phúc đức thay cho người cô độc, vì không bị phiền não thế tục quấy rầy. Người đời thường nghĩ đến quyền cao chức trọng, vợ đẹp con khôn. Ta xuất gia học đạo nhìn về thế gian thấy khác, thấy cuộc đời là biển khổ. Tôi tu trên năm mươi năm chưa nghe người nào nói, dù người rất giàu có hay địa vị cao, là họ được hạnh phúc. Họ nói chỉ thấy Thầy (là tôi) là sướng. Lúc ở Pháp, có một Phật tử dành cho tôi phòng ở thật sang, bàn ghế, tủ thờ sơn mài đặt từ Việt Nam chở sang. Ông chủ một tuần thăm tôi một lần, nói chuyện độ năm ba phút thì phải đi, vì bận quá. Ông này có nhiều đồn điền, biệt thự cho mướn và nhà hàng; nên phải chạy ngoài đường suốt ngày, lo công việc quên ăn, bỏ ngủ. Người đời ước mơ được như ông, nhưng tôi thấy ông bận rộn không đủ thì giờ ăn, ngủ; hễ rảnh chút xíu là bận giao tiếp bạn bè, uống rượu. Tôi thấy chỉ toàn phiền não bao vây ông, chẳng sung sướng gì. Dự tiệc tiếp xúc để trao đổi làm ăn thì chắc chắn cũng phiền não, say sưa không ra người thì sướng ích gì. Như vậy, chúng ta đánh giá lạc thú trần gian khác người đời.

Tu tập Tứ Thánh đế, chúng ta biết các khổ lụy và nguyên nhân của nó; thấy rõ mọi người đều khổ và luôn tạo nhân của khổ, vì ăn, mặc không cần nhiều như họ tưởng. Nhìn kỹ thấy cuộc đời như vậy, có ít nhà thì khổ ít, tạo thêm nhiều nhà thì khổ nhiều. Tất cả khổ ải bao vây họ, là nhìn mặt sung sướng của họ đã thấy khổ. Nếu nhìn người khôngphước báu, chịu cùng tột khổ đau của địa ngục, súc sanh, thì thấy họ càng khổ kinh khủng hơn nữa. Tôi quan sát bà bán bông trước cửa chùa không có nhà, nhưng có hai đời chồng và hai đứa con, phải buôn bán cực khổ nuôi chồng con.

Chúng ta tu có trí tuệ, nhận ra cái nhân khổ, thấy mình nghiệp nặng, phước ít thì phải tự cắt bỏ cái nhân khổ; đừng nghe theo lời cám dỗ thì cái khổ không thể đến với mình. Người giàu đã khổ, nghèo còn khổ hơn nữa. Vì nghiệp dẫn người đến quả khổ; có nghiệp thì nhìn đời không chính xác. Huynh đệ với tôi siêng năng tụng niệm lễ bái, nên hiện tướng hảo. Bà hàng xóm mới dụ ông hoàn tục. Nhưng ra đời rồi thì bà lại thấy ông xấu xí, ốm nhom, đen thui. Thiết nghĩ trên bước đường tu, nghiệp hiện ra khiến chúng ta thấy theo nghiệp, tưởng là tốt đẹp, mới chen vô, nên phải thọ khổ.

Theo tôi, chúng ta đi thọ sanh mà không giác quán, không đắc Sơ quả, sẽ thọ sanh theo nghiệp. Tại sao người lại đầu thai vào loài thú. Vì thần thức nghiệp khởi lên, thấy heo mà tưởng là Thiên Bồng nguyên soái; nhìn lầm như vậy mới chui vô heo đầu thai. Trên cuộc đời này, chúng ta thấy mọi người có biết bao nhận thức sai lầm. Người thấy ba đời nhân quả mới thoát ly được nhân quả. Nếu thấy heo thì dại gì chui vô; nếu thấy ông ốm nhom, làm gì cũng không xong thì dại gì rước về.

Theo tôi, "Cầu cho những kẻ tâm tà, chưa vào địa ngục nhận ra sai lầm”. Phải nhận ra điều sai trái trước, thấy nguy hiểm trước, mới tránh được nạn. Còn đa số đọa địa ngục, rơi vô hoàn cảnh không thoát được, mới nhận ra sự sai lầm của họ. Lúc ấy, nghiệp đã thành, thì Phật cũng không cứu được.

Người học được Tứ Thánh đế, quán sát Tứ Thánh đế và tu tập Tứ Thánh đế để nhìn thấy khác thế gian. Người thế gian nghĩ vui, giàu có; nhưng người tu thấy làm vậy khổ, sẽ bị đọa. Nhiều người thưa với tôi rằng buôn bán không gian dối thì không giàu được. Nhưng tôi vẫn khuyên họ rằng Phật dạy không được gian dối, vì đó là nguyên nhân của khổ đau, sớm muộn gì cũng dẫn đến quả khổ. Thật vậy, người gian tham lừa đảo đượcnhất thời, nhưng sẽ khổ suốt đời. Nhiềungười khôn ngoan, nhưng hậu vận của họ,không ai được tốt cả. Vì lừa được một lần, lừa được một người, không lừa mãi được và không lừa nhiều người được. Ăn chỉ một lần, mà mất tất cả; càng lâu dài, việc xấu càng hiện rõ, là tự đào hố chôn mình. Thấy như vậy là thấy cái nhân của khổ. Nguyên nhân nghèo đói vì tâm xấu, tướng gian tham trộm cắp hiện ra, người muốn nuôi cũng sợ, không dám nuôi. Nhìn đời theo mắt đạo là vậy.

Pháp căn bản Tứ Thánh đế Phật dạy cho người xuất gia phải thấy rõ thực tế cuộc sống, thì ta không mắc lầm, từng bước dẫn chúng ta đến Niết bàn giải thoát. Cuộc đời là tấm gương chính xác nhất cho chúng ta soi bóng. Bao nhiêu khổ đau bày ra trước mắt ta và cũng ghi đủ trong sách vở. Chúng ta ghi nhận, đối chiếu, phân biệt được Niết bàn và địa ngục, là hiểu được Khổ đế và Tập đế đãtạo ra con đường sống khổ theo thế gian. Và Diệt đế, Đạo đế là con đường giải thoát mà từng bước tu hành, chúng ta thăng hoa. Quan trọng là áp dụng được tinh thần Tứ Thánh đế trong cuộc sống, lần được giải thoát. Nếu chỉ học trên lý thuyết và giảng dạy suông, chẳng khác gì ngoại đạo.

Chính vì vậy, trong pháp hội này, Đức Phật dạy chúng ta phải có cách nhìn đời theo Phật, Bồ tát và Thánh hiền; không nên nhìn theo cách của tà giáo, hay của người còn ở trong sanh tử luân hồi. Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật cũng nhắc rằng muốn giải thoát phải có cái nhìn của người ở trong tam giới đã ra khỏi tam giới; nghĩa là không còn bị thiên nhiên và xã hội chi phối. Thật vậy, chúng sanh ở trong ba cõi không có sanh tử, nhưng họ nhận lầm có sanh tử và trôi lăn trong sanh tử, nhận lầm có khổ đau và sống với khổ đau. Đức Phật thương xót chúng ta, Ngài mới xuất hiện trên cuộc đời để chỉ dạy cho chúng ta nhận chân được sự thật như vậy.

Ngày nay, bước theo dấu chân Phật, chúng ta thực sự nhận ra điều này hay chưa. Nếu đã nhận ra ý Phật dạy mà vẫn thấy buồn phiền, vẫn than thân trách phận, là còn đứng ở vị trí chúng sanh, chưa thấy giống Phật, không giải thoát.

Đức Phật chia ra ngũ nhãn hay năm cách thấy khác nhau. Thấy theo phàm phu là thấy theo tham vọng; thấy theo tà đạo là thấy theo sự hơn thua, phải trái. Hai cách thấy này khiến họ ở mãi trong sanh tử. Đức Phật gợi nhắc ý này trong kinh Pháp Hoa rằng các loài hung hãn sát hại nhau, nhưng chúng cũng không được lợi lạc gì. Thấy theo Nhị thừa thì không có gì an ổn trên cuộc đời, nên họ chán sợ, muốn thoát ly. Pháp nhãn của Bồ tát cao hơn, thấy sanh tử không thật, chỉ là ảo giác. Bồ tát giáo hóa chúng sanh, giúp họ thấy đúng và thoát khỏi sanh tử như Bồ tát. Và Phật nhãn hay cái thấy theo chư Phật mười phương thấu suốt ngọn nguồn và diễn tiến của muôn pháp trong vũ trụ. Vì vậy, không có gì trở ngại được chư Phật. Điển hình là Đức Phật Thích Ca hiện hữu trên thế gian như bao người, nhưng tất cả ngoại đạo và người ác thời bấy giờ không thể hại được Ngài. Đức Phật quả là một bậc toàn giác và toàn năng.

Tên của pháp hội là Hư Không Mục nói lên ý mà Đức Phật muốn dạy chúng ta là cách thấy xuất thế gian của người đắc đạo, là thấy mọi việc như hư không. Hư không bao gồm những gì vĩnh hằng hay chân lý. Chúng ta tu hành cũng để từng bước đạt đến sự thấy biết chân tuyệt đối.

Mở đầu pháp hội, Đức Phật ngự ở Đại Bảo Phường Đình nằm giữa cõi Dục và cõi Sắc, hay giữa thế giới hữu hình và thế giới vô hình. Thông thường, chúng ta thường phân ra thế giới hữu vi, vô vi, hữu tình, vô tình, hữu hình, vô hình. Đó là sự nhận thức của con người thường phân chia hai thế giới đối đãi nhau.

Thế giới chúng ta đang sống là hữu hình. Thế giới hữu hình không hằng hữu, nó luôn biến chuyển từng sát na, không dừng. Từ lúc chào đời đến khi từ giã cuộc đời, thân tâm của con người thay đổi theo từng hơi thở và vạn vật bên ngoài cũng luôn thay đổi. Nhưng người ta thường tưởng lầm là mọi thứ trên thế gian này hằng hữu. Thí dụ một dòng sông chảy liên tục là do nguyên tử này kết liền với nguyên tử kia; nhưng người đời tưởng là dòng sông đứng yên hay muôn đời không thay đổi. Hoặc những người nghe pháp trong giảng đường ngày hôm qua đã vắng bóng ngày hôm nay. Loài người cũng như muôn sự, muôn vật tuần tự đổi thay trong cuộc sống. Với bản chất của vạn vật luôn thay đổi, Đức Phật dạy tướng sanh diệt, biến đổi, vô thường. Chỉ có sự đổi thay là không thay đổi, không có gì hằng hữu, để phá bỏ sự chấp thường của chúng ta.

Muốn chỉ chân lý, Đức Phật phải đưa chúng hội vào thế giới nằm giữa hữu và vô, ở đây gọi là giữa Dục giới và Sắc giới, hay giữa chân và tục, giữa Niết bàn giải thoát và sanh tử khổ đau. Chúng ta tu hành, nhưng chưa phải là La hán giải thoát mà cũng không phải là người đau khổ ở trần gian, mới nhìn thấy người tu không phiền não và thấy người thế gian từ vua chúa cho đến ăn mày đều khổ. Chúng ta đứng ở giữa mới thấy vậy và chọn hướng đi của Hiền Thánh, thì dứt khoát phải đi tới mới đạt kết quả tốt. Chọn hướng đi, mà không đi thì không thể nào đến Bảo sở.

Phật giáo không phải Chân đế, không phải Tục đế, nhưng là Nhị đế dung thông. Thật vậy, nếu chúng ta đi vào con đường xuất thế, không dính líu đến cuộc đời, không làm lợi ích cho người, thì bị xã hội ghép vào tội ăn bám và Phật giáo cũng không thể tồn tại. Nhưng nếu lăn xả vào đời, làm tất cả việc và từ đó tham sân nổi dậy, mất đạo hạnh, thì Phật giáo cũng bị tiêu diệt. Không có trí tuệ, dễ ngộ nhận từ sai lầm này đến sai lầm khác.

Đức Phật muốn nhắc các Tỳ kheo tinh thần Trung đạo đệ nhất nghĩa, chấp vào pháp nào cũng không đúng. Phải tùy duyên hành đạo, giáo hóa chúng sanh để được phước đức và trí tuệ cho mình và người.

Ngoài ra, còn một ý nữa mà Đức Phật muốn đưa chúng hội vào thế giới ở giữa cõi Dục và Sắc. Nhớ lại sau khi Đức Phật lập giáo khai tông ở Lộc Uyển, đạo Phật bắt đầu thành hình. Tuy lúc bấy giờ chỉ có năm anh em Kiều Trần Như, nhưng họ đều đạt quả vị Hiền Thánh, Đức Phật mới bắt đầu truyền đạo. Điều này gợi cho chúng ta suy nghĩ rằng phải đắc đạo mới có đạo để truyền bá lợi ích cho người. Đắc đạo thì làm gì cũng là đạo; chưa đắc đạo, nói nhiều cũng không ai nghe. Quý Thầy ngày nay nên cẩn thận, đừng để lạc vào một trong hai thái cực; một là chỉ theo đuổi bằng cấp, hai là từ bỏ học vấn, theo con đường vô vi trở thành gỗ đá. Cả hai cách tu này đều không phải đạo Phật.

Trong pháp hội này nói về một số ngoại đạo quay trở lại theo Phật đạo, họ thuộc đủ thành phần xã hội. Họ không đắc đạo, không có trí tuệ, vì chỉ tu tập tùy theo cảm tính của con người, theo truyền thống sai lầm. Trí Giả gọi cách tu hành ấy là cuồng hoa vô quả, là nhiều người tu, nhưng không ai thăng hoa được tri thức và đạo đức.

Từ ngoại đạo quay về Phật đạo, họ còn mang theo quán tính sai lầm. Thí dụ tu Thiền theo Phật, nhưng chỉ được một lúc, họ cũng rơi vô pháp Yoga, hay trở thành củi mục than nguội. Hoặc người ở phái lý luận thì thường so sánh ngoại đạo với Phật đạo, thấy cái hơn thua là đã rơi vào vọng thức, không thể đắc đạo.

Phật đưa ra pháp giải thoát trong pháp hội này nhằm vào đối tượng là một ngàn hai trăm đệ tử từ ngoại đạo mới nhập môn, gồm một ngàn đồ đệ của ba anh em Ca Diếp, một trăm người ngoại đạo theo Xá Lợi Phất và một trăm đệ tử của Mục Kiền Liên. Riêng năm mươi thanh niên của trưởng giả Da Xá đến với Phật bằng cả tâm hồn trong trắng. Họ được ví như tờ giấy trắng, Phật muốn nhuộm màu gì cũng được. Trong khi một ngàn hai trăm người xuất thân từ ngoại đạo đã trải qua quá trình tu theo ngoại đạo, được ví như tờ giấy đã có màu, khó nhuộm màu khác, chỉ còn có cách nhuộm đen. Nói cách khác, giáo hóa người xấu trở thành người tốt không đơn giản. Không đủ phước đức mà độ họ là tự chuốc họa vào thân.

Nhiều Ni sư xây chùa rồi gặp ai cũng cho tu, rất nguy hiểm và lại than với tôi rằng gặp đệ tử bất trị. Chỉ vì vô minh, tiếp Tăng độ chúng, không thấy trước người có tư cách xuất gia mới tạo nên nghiệp chướng khổ đau. Theo tôi, tu hành đến mức độ nào mới nên nhận đệ tử và cho xuất gia. Tôi giới hạn chúng đệ tử xuất gia, vì biết họ không có điều kiện trở thành tu sĩ.

Số người theo Đức Phật xuất gia thực sự có tâm hồn ngoại đạo, chuyển hóa họ theo Phật pháp không dễ chút nào. Riêng chúng ta cho giới ca sĩ đi tu thì họ cũng mặc áo lam và tiếp tục ca vọng cổ. Người có sẵn máu văn nghệ hay kinh doanh mà cho họ mặc áo tu, chúng ta sẽ có Thầy nghệ sĩ, Sư cô kinh doanh. Tôi quan sát thấy gốc thế nào thì phát triển theo thế đó.

Ý này được Phật dạy rằng chúng ta phải thấy rõ căn tánh của người là Đại thừa hay Tiểu thừa, Quyền thừa. Chỉ có ba hạng người này, chúng ta cho xuất gia được thôi, dứt khoát là vậy. Có căn tánh ngoại đạo vào chùa dễ làm lây nhiễm chúng. Thấy nhà sư kinh doanh hay văn nghệ, tôi cảm thấy buồn. Cư sĩ làm được việc đó. Ta khoác áo tu giải thoát phải thể nghiệm nếp sống giải thoát. Việc xây chùa, bố thí, cúng dường, v.v… được Phật giao cho quốc vương, vương tử, đại thần… Xuất gia làm Sa môn có việc của người tu và làm tròn bổn phận của Tỳ kheo, Tỳkheo ni, thì các cư sĩ sẽ làm rất tốt việc hộ đạo của họ. Ta không làm tốt việc của người tu, nhưng làm việc của cư sĩ, là phá hỏng cả việc của ta và của cư sĩ.

Gốc ngoại đạo, nhưng mặc áo Sa môn, nói và làm theo ngoại đạo là hơn thua phải trái, đòi phân chia quyền lợi trong Tăng đoàn. Như vậy, chắc chắn đánh mất tư cách của người tu và đưa đến sự phân hóa trong chúng. Người chân tu phát Bồ đề tâm, vì quyền lợi chung của đạo mà phục vụ Tăng chúng và Giáo hội, họ được giải thoát. Điều này dễ thấy, khi khó khăn thì không có tu sĩ giả, chỉ có người thật tu. Lúc đầy đủ quyền lợi thì hàng tu giả xuất hiện.

Giáo đoàn của Phật có nhiều ngoại đạo, cũng bị phân hóa. Phật chuyển hóa được họ vì Ngài có huệ, nhìn thấy chính xác, biết được tất cả. Thật vậy, sự hiểu biết của Phật không ai hơn được. Ngài có khả năng dập tắt mọi lý luận của ngoại đạo. Xá Lợi Phất là đại Luận sư bậc nhất của ngoại đạo còn phải chấp nhận Phật làm Thầy, thì những người thấp hơn coi như không đáng kể.

Về bùa chú, không ai hơn Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp, nhưng Phật độ được ông và hàng phục được một ngàn đệ tử của ông trở thành đệ tử Phật. Ông là quốc sư của Bình Sa vương, có một ngàn đệ tử thời đó không phải chuyện nhỏ. Phật đến hàng phục ông, trong kinh ghi rằng ông sắp đặt cho Phật vào tu trong hang rắn hổ mang để bị rắn cắn chết. Nhưng sau cùng, rắn không hại Phật, lại nằm phủ phục xung quanh Ngài, thì làm sao mà ông không nể Phật. Người đắc đạo, thực tu thực chứng sống bình dị, nhưng có sức thuyết phục hoặc có khả năng kỳ diệu, khó giải thích, gọi là pháp bất tư nghì sanh diệt. Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp quy ngưỡng Phật là vậy, trí tuệ và năng lực của Phật siêu việt đã cảm hóa ông.

Hoặc Tổ Huệ Đăng ngộ đạo với Hòa thượng Hải Hội. Ngài vào rừng sâu không có người, không có phiền não thế tục quấy rầy và không bận tâm đối phó với những thứ phiền não vô lý. Ngài vào hang Bạch Hổ tu, không cần ăn uống, không cần quyền lợi, vẫn sống khỏe mạnh. Và ra khỏi hang, hảo tướng giải thoát hiện ra và trí thông minh lạ thường. Tuệ giác và năng lực siêu tuyệt là hai điều kiện để giáo hóa chúng sanh dễ dàng. Chưa có hai tiêu chuẩn này, hành đạo khó thành công.

Hoặc Tổ Huệ Năng Thiền định trong hang, sáu căn thanh tịnh. Ngài phát huệ, dùng ngọn đèn huệ rọi vào cuộc đời thấy sự vật đúng như thật và được nhiều người nể phục theo tu học. Lúc ấy, có đủ thành phần tìm đến thì vấn đề được đặt ra.

Thật vậy, có thể nói hàng tà định, tà đạo khó đi vào Phật đạo. Kinh nghiệm riêng tôi đã thấy rõ ý này. Xưa kia, ở Phật học đường Nam Việt có những người gốc là Thầy cúng hay đồng bóng, bói toán. Một khoảng thời gian sau, họ cũng chuyên xem sao, coi bói. Việc tu học, thâm nhập giáo lý để đạt quả vị theo Phật, họ không thể làm nổi. Hòa thượng Thiện Hòa đành giao cho họ đi cúng. Đi cúng thì có tiền và xài tiền, nên cũng không thể học và tu. Hoặc có Thầy coi tay, coi tướng, kiếm được nhiều tiền và về sau họ hoàn tục, làm thầy bói, không tu nữa.

Ngoại trừ những người có căn lành mới đi sâu vào giáo nghĩa, mới gặp Phật, Bồ tát, Thánh Tăng, không phải gặp tà ma quỷ quái. Có được sự tương giao với thế giới tâm linh, mới nhận được lực gia bị của Phật, Bồ tát, Thánh Hiền và tâm trí mới sáng ra, thấy biết việc đúng đắn và làm đúng. Nhưng số người đi đúng hướng này rất ít, mà rơi vào tà ma thì nhiều; chúng ta cần phải cân nhắc.

Thời Đức Phật tại thế, Ngài là bậc đại trí biết rõ tâm trí của hàng ngoại đạo theo Ngài. Vì vậy, Phật căn cứ vào tâm lý chuyển biến của đệ tử mà thay đổi pháp tu tương ưng cho họ. Ngài hướng dẫn trực tiếp tâm linh, giúp họ xóa bỏ thói quen sai lầm của ngoại đạo và thăng hoa theo Phật đạo.

Nhưng ở thời kỳ chúng ta, không có bậc đắc đạo, nên chân lý dễ bị mờ tối. Thật vậy, phần nhiều người có học dễ bị kẹt trong sách vở, không nắm bắt được chân lý; vì chân lý thì phải đi thẳng từ bản tâm của Thầy qua bản tâm ta. Họ không mở được tâm linh là lý do đó. Học thì kẹt sách và nhìn thân giáo sư, thì cũng không thấy giải thoát; nên họ rơi vô lý thuyết suông. Theo tôi, tinh ba của Đức Phật truyền trao không phải là những gì mà chúng ta nắm bắt được bằng suy luận, hiểu biết theo vọng thức. Việc quan trọng của người tu hành là phải xả bỏ vọng tưởng điên đảo. Từ đó, sử dụng ngữ ngôn, văn tự chỉ là phương tiện tạm mượn để dạy đạo. Đạo chỉ có khi có sự tu chứng. Qua ngôn ngữ, chúng ta nhận ra hình tướng của Phật, của Tổ sư và sự thực chứng của các Ngài.

Đối với tôi, kinh là pháp sở hành, nghĩa là nương theo kinh để tu hành, ta có được sở đắc thiết thực, mới cảm hóa được người, giúp họ an vui giải thoát. Sở đắc về kinh theo Phật đạo như vậy khác với việc các đại Luận sư theo truyền thống Bà la môn đăng đàn thuyết pháp để tranh cãi. Điển hình như Xá Lợi Phất trước khi theo Phật đã từng là Luận sư bậc nhất ở Ma Kiệt Đà. Mặc dù có tài hùng biện bẻ gẫy được mọi lý luận của các Luận sư khác, nhưng lòng ông vẫn cảm thấy bất an. Điều này dễ hiểu, vì chính những lý luận, dữ kiện tràn đầy trong tim óc đã dằn vặt ông phải khổ đau. Tuy nhiên, với tiềm thức chứa đầy phiền não như vậy, bất chợt gặp được Mã Thắng Tỳ kheo không nói một lời, Xá Lợi Phất lại cảm nhận được sức thuyết phục kỳ diệu. Đạo chính là chỗ đó. Mã Thắng đã đắc La hán, với tâm trong sạch, trọn lành của một bậc Thánh mới tác động cho tâm phân biệt, phải trái của Xá Lợi Phất dừng lại.

Trong công việc giáo hóa độ sanh, Đức Phật muốn hàng phục tâm vọng động của những người đã quen theo tà giáo, Ngài phải thay đổi tâm của họ bằng cách đưa họ lên Đại Bảo Phường Đình. Đó là thế giới không thuộc thế tục, cũng không phải vô vi để thành gỗ đá như ngoại đạo.

Trên bước đường tu, áp dụng tinh thần này, quý Thầy nên tập cho đệ tử quên hẳn các thói quen cũ, để không còn bị dính líu với ảnh hưởng xấu. Thí dụ cách ly họ với tà giáo bằng cách không cho họ đồng bóng, bói toán. Nếu thả lỏng, họ vẫn tiếp tục theo con đường tà, không thể tiến tu theo Phật đạo.

Ở đây, Đức Phật dạy rằng các Tỳ kheo tất yếu phải đi trên lộ trình giải thoát. Và muốn được giải thoát, phải từ bỏ mọi thứ của thế tục bằng cách dùng phương tiện của Phật. Có rất nhiều phương tiện. Theo tôi, phương tiện quan trọng nhất là tập trung tư tưởng một chỗ, đừng nghĩ chuyện này chuyện khác, đừng ngó qua ngó lại. Thánh đệ tử thì không lăng xăng cả thân và tâm, ngồi yên và tập trung. Phật dạy chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện; nghĩa là tập trung được thì việc gì chúng ta cũng biết và giải quyết được.

Trong Phật pháp có nhiều cách để dừng vọng tâm điên đảo. Một trong nhữngphương tiện thường được áp dụng để tập trung là cột tâm trên hơi thở, hay còn gọi là sổ tức quán, đếm hơi thở. Hơi thở ra, chúng ta biết thở ra, hơi thở vô, chúng ta biết thở vô. Hơi thở thô, chúng ta biết nó thô và làm cho nó thành nhẹ và dài. Theo kinh nghiệm của tôi, tu pháp này giúp tôi chữa được thân bệnh. Điều hòa được nhịp tim, hơi thở, ăn uống, ngủ nghỉ thì bệnh tật tự mất. Không phải đếm hơi thở khơi khơi mà đắc đạo.

Phật dạy sổ tức quán, nhưng phải kèm theo giác, quán, hỷ, lạc và định; đó là quá trình tâm chuyển biến như vậy theo pháp tu. Khi hơi thở ra vào, chúng ta biết rõ hơi thở ra vào, nghĩa là đã tập trung được, đó là giác. Sau đó, dùng lực tập trung để quán thân tứ đại, ngũ ấm và thế giới bên ngoài, xem sự tương quan tương duyên tồn tại của chúng. Nói cách khác, chúng ta có đề tài và bắt đầu suy nghĩ thì việc mới sáng ra là quán. Đến trạng thái tiếp theo là hỷ. Nhờ biết được nguyên nhân đau khổ và nguyên nhân hỷ lạc, biết tại sao người gây sự, tại sao người cúng dường, v.v...; nói chung biết được diễn tiến của mọi việc chung quanh ta, trong đoàn thể chúng ta đang sinh hoạt..., ta cảm thấy sung sướng là hỷ. Lúc nào tâm cũng vui. Nguồn vui ấy kéo dài trong tiềm thức là lạc, thể hiện ra nét mặt và ánh mắt như luôn mỉm cười. Đạt đến sở đắc này, tâm không bao giờ dao động trước mọi sự vinh nhục, được mất của cuộc đời, lòng luôn thanh thản tự tại. Đó là thành quả tu chứng của người đắc sơ Thiền.

Là đệ tử Phật, điều quan trọng mà Đức Phật muốn nhắc nhở hàng xuất gia chúng ta rằng tối thiểu phải đắc được Sơ quả là dự vào dòng Thánh, thì từ đây về sau, đời nào cũng gặp Phật pháp. Đức Phật đã từng khẳng định rằng người đắc Sơ quả thì chỉ cần bảy đời nữa tu hành sẽ tiến đến Thánh quả, tái sanh ở nơi nào cũng gặp thiện tri thức khai ngộ, không sợ bị đọa.

Ý thức như vậy, chúng ta nỗ lực tu, ít nhất đắc được Sơ quả thì mới an tâm tiến bước trên năm trăm do tuần đường hiểm đến Bảo sở. Tuy nhiên, muốn nói cho người nghe được pháp này cũng không đơn giản, vì họ luôn chấp giữ phải trái theo thế gian, nên khó hiểu, khó tin pháp này. Vì vậy, chúng ta thấy Phật thường sử dụng thần lực. Chúng ta truyền giáo phải nghĩ đến thần lực, là thế lực siêu tự nhiên. Chưa có thế lực siêu tự nhiên, chúng ta cũng phải có thế lực của trần thế, người mới nghe. Dĩ nhiên là thế lực xuất thế gian thì dễ cảm hóa hơn và thích hợp với đạo hơn. Người có lực hơn là có sức mạnh hơn, họ mới bắt nạt được người khác. Có người không khỏe, nhưng mượn lực của người khác là lấy thế lực của quần chúng làm lực của mình thì cũng có sức mạnh; đó là người thế gian.

Xuất thế gian như Phật mà không có lực siêu nhiên, chắc chắn không chống đỡ nổi với thế lực ác của ngoại đạo. Chỉ có Phật và Bồ tát lớn mới thoát khỏi sự hãm hại của tà giáo; còn hàng đệ tử luôn bị ngoại đạo công kích, phá hại. Thật vậy, hàng ngoại đạo thời Phật tại thế quả thật kinh khủng, nhưng không làm gì được Phật, đủ biết thế và lực của Phật quá siêu tuyệt. Lịch sử cho thấy chín mươi ba ngoại đạo, dị kiến và cả ác vương không hại được mà cuối cùng phải theo Phật. Ta học Phật là nghĩ đến thế và lực siêu nhiên. Nói cách khác là học đạo Vô thượng Bồ đề để thành Phật, ra khỏi sanh tử luân hồi, thoát khỏi sự chi phối của mọi sự, mọi vật về vật chất lẫn tinh thần.

Đặc biệt trong pháp hội này, Phật cảm hóa người bằng cách mượn ngôn ngữ của chư Thiên. Trong kinh khác nói Phật đưa cành hoa sen và Ca Diếp mỉm cười vì ngộ đạo. Ở đây, Phật đưa vòng hoa lên là hoa Tứ Bảo, ý muốn nói tứ chúng có thể trở thành tốt, thành Thánh. Nhưng vì họ không tu theo chánh pháp, rơi vô hý luận, nên tâm vẫn là ngoại đạo.

Phật đưa vòng hoa thì nghe tiếng thuyết pháp của chư Thiên nói việc của Chúng hoa bay đi bốn phương và có vô số đồng tử hay Bồ tát mang đến chú Đà la ni để làm chứng tín cho Phật. Kinh gọi đó là giữ dục. Nghĩa là Bồ tát ở thế giới khác đến Ta bà thuật lại việc hành đạo của thế giới ấy cũng có tứ chúng. Và nhờ trí tuệ, đạo đức của Bồ tát mà tứ chúng cũng biết tu hành, chuyển đổi được nếp sống theo hướng thánh thiện, nên gọi là Tứ Bảo.

Ngoài ra, trong pháp hội Hư Không Mục, Đức Phật cũng dạy chúng ta chủ yếu là pháp hành. Thật vậy, vì các Tỳ kheo từ hàng Ba la môn chuyển sang Phật đạo, họ quen nói mà không làm. Phật thường rầy tánh ưa nói của họ giống như người đếm tiền giùm người khác, không được gì còn bị mang tiếng. Tu hành của đạo Phật khác với Bà la môn ở điểm đó. Nói và làm phải đi đôi, hay theo Đại thừa, làm thay cho nói. Tỳ kheo theo Phật dạy tu đúng như vậy thì tiến xa được.

Tu sĩ xuất thân Bà la môn ưa nói nhiều, thường bị mọi việc, hoặc bị người bên ngoài chi phối. Trong khi Tỳ kheo thật nghĩa là thanh tịnh, tĩnh mặc; đó là Mâu Ni Tỳ kheo lắng yên được việc bên ngoài, phát huy đúng nghĩa phần nội tâm. Còn nói thì phải quan sát, thấy cái bằng lòng và không bằng lòng; chẳng lẽ nói mà không thấy. Từ đó tâm bị sự vật lôi cuốn. Hễ nói là bị sáu trần chi phối tác động sáu căn, tội lỗi nhân đây phát sanh, trở thành ác Tỳ kheo, lục quần Tỳ kheo, nghiệp chướng Tỳ kheo. Thanh tịnh Tỳ kheo thường lo phát huy nội tâm nhiều hơn.

Chính vì vậy, khởi đầu tu của chúng ta là cách ly sáu trần. Trong sáu trần gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; quán sát cái nào dễ bỏ, chúng ta thực hành trước. Thí dụ trong sáu trần, xúc là cảm giác sanh ra do tiếp xúc của thân chúng ta, gần chúng ta nhất. Muốn tu thanh tịnh, các Thầy vào thâm sơn cùng cốc, sự vật không có, sống cách ly với mọi vật, mọi việc, mọi người. Nhờ ẩn cư, tiếp xúc ít, nên mắt thấy, tai nghe cũng ít. Vì thế sắc và thanh trần cũng dễ cách ly, bên ngoài ít tác động vào tâm. Vì lợi ích như vậy, Phật dạy Tỳ kheo nên ẩn cư, sống ở núi rừng hay cách làng xóm ít nhất năm cây số. Đi vào làng khất thực hay đi về tinh xá đều đi trên đoạn đường vắng khá dài, mắt nhìn xuống đất mà đi là cách ly được làng xóm, cũng có nghĩa là cách ly được nhãn, nhỉ căn với sắc trần, thanh trần. Về vị căn thì người tu coinhẹ việc ăn uống, có ăn hay không cũng được; không quan tâm đến ăn ngon dở.

Tỳ kheo thấy, nghe, nói nhiều thì tồn tại trong đầu pháp trần. Vì khi khất thực, có tiếp xúc; trở về núi, những điều này còn tồn đọng trong lòng là pháp trần làm cho tâm khó thanh tịnh. Điều này dễ hiểu, những gì mình không thích mà trông thấy hoặc nghe được, khi ẩn tu, nó sẽ hiện ra ngay.

Thực hiện được pháp tu cách ly, không tiếp xúc với bên ngoài thì sẽ đạt đến hướng nội bên trong cùng tột; trần duyên không còn tác động được ta, dù là thuận hay nghịch. Chúng ta chứng được pháp Tịnh Mục, có cái nhìn sáng suốt, trong sạch. Tỳ kheo tu sao cho cái nhìn thanh tịnh, sáu trần không tác động được là thực nghĩa Tỳ kheo. Giỏi dởchưa biết, nhưng nhìn sự vật như người gỗ ngắm chim vẽ là Tịnh Mục; mắt đã thanh tịnh, không bị bên ngoài tác động. Nghĩa này cũng được kinh diễn tả là súc bình cho sạch. Vì nhiều đời thường tiếp xúc với vật bênngoài, nay tu cách ly, không tiếp xúc, nhưng nó vẫn còn ảnh hưởng ta. Phải siêng năng sám hối để đạt tâm thanh tịnh là Tịnh Mục, không thấy theo ham muốn, bực tức. Ham muốn những cái mình ưa thích và bực tức những cái không ưa sẽ dẫn đến cái thấy trên căn bản phiền não. Người thế gian tham giận là bình thường. Người tu mà còn như vậy là đáng xấu hổ. Trên bước đường tu, bằng mọi cách giữ được tâm thanh tịnh mới là Tịnh Mục Tỳ kheo. Riêng tôi, khi thấy điều gì bực bội thì tôi tự xấu hổ vô cùng, vì nghĩ mình chưa xứng đáng là Tỳ kheo đệ tử Phật.

Tịnh Mục Tỳ kheo quán sát bên ngoài vắng lặng, không để hoàn cảnh chi phối và được nội tâm thanh tịnh rồi, thì vào Tăng đoàn coi nhà ngũ uẩn có thanh tịnh hay không. Kinh A Hàm diễn tả ý này rằng "chạy đến xóm trống không”. Nhà ngũ uẩn trống không là Tỳ kheo thanh tịnh và Tỳ kheo thanh tịnh thì ở tinh xá. Chúng ta ở tinh xá mà còn bất hòa thì thật xấu hổ và người không trong sạch thì phải ra đi, dù không đuổi. Muốn ở tinh xá phải tịnh tâm, tịnh hạnh trước là bước đầu, "tịnh” quan trọng.

Tịnh Mục nhìn sự vật hay tiếp xúc cách nào đó mà tâm dửng dưng. Tôi diễn tả là trần duyên thuận nghịch, tâm không thiết. Có Thầy nói với tôi rằng luôn nghĩ đến chết thì họ cũng không quan tâm đến sự vật, bỏ nó dễ. Thí dụ các Thầy xây được chùa, phải gìn giữ, tìm người thừa kế…; nói chung phải lo lắng đủ thứ, nhưng sự việc lại không theo ý ta muốn.

Phật dạy chúng ta phải thấy theo nhân duyên. Kinh nghiệm tôi thấy cái gì muốn là không được. Cắt bỏ cái muốn, tùy nhân duyên làm đạo, mới được nhẹ nhàng. Thuận nghịch, tốt xấu cũng là duyên; nhân đó chúng ta luyện không tha thiết với nó. Vì vướng mắc với nó, dù tốt hay xấu, chúng ta cũng đều khổ cả.

Bước đầu, Tỳ kheo phải đạt được tâm thanh tịnh; chưa được, phải sám hối cho thanh tịnh rồi mới đem pháp Phật vào lòng, chúng ta sẽ được pháp thứ hai là Pháp Mục. Tịnh Mục sanh ra Pháp Mục, là nhìn sự vật theo pháp Phật lần lần mới nhận chân thật tướng các pháp, không thấy theo giả tướng hay tham vọng. Thâm nhập Phật pháp, thấy sự vật diễn ra theo đúng cái thấy của chúng ta, thì lần chứng từ sơ Thiền đến tứ Thiền.

Pháp căn bản của Phật dạy là Tứ Thánh đế, chúng ta phải thâm nhập pháp là chính. Ý thức cuộc đời là khổ, chúng ta cắt đứt nguyên nhân khổ, thì việc không tác động được. Muốn cắt đứt nghiệp nhân, phải tu Đạo đế. Đó là căn bản Phật dạy phải luôn sống trong ba mươi bảy Trợ đạo phẩm. Nói cách khác, chúng ta vui với đạo pháp, nên không thấy sự vật bên ngoài, chỉ thấy pháp Phật.

Vui được với pháp Phật, lòng chúng ta lúc nào cũng vui. Tôi thấy nét mặt của các bậc chân tu lúc nào cũng như mỉm cười. Thể nghiệm từng việc trong cuộc sống, thấy lời Phật dạy chí lý, áp dụng rất hay. Áp dụng được, ta thấy đây là lẽ sống; nên vui và sống với pháp, thấy theo Phật, giải theo Phật, không giải theo sự nhận thức của ta hay theo đời. Nhìn theo đời thì thấy vô lý, nhưng hiểu đạo thấy điều vô lý trước kia thật là có lý. Thấy theo đời thì trả quả báo không lường. Tỳ kheo thấy sự vật theo đời, đáng xấu hổ.

Phật dạy thấy cuộc đời là khổ, đương nhiên ta có ý thoát ly. Kế đến là tìm ra nguyên nhân khổ mới tránh né. Nguyên nhân khổ là tham, sân, si hay vô minh. Nó là nguồn gốc tội lỗi. Thấy theo Phật là thấy người nói xấu ta cũng đúng; tại sao họ lại nói xấu ta mà không nói xấu người khác. Thấy vậy để ta sửa lần cho đến khi họ không chỉ trích được là tu. Trong đời này, nghiệm cho cùng ta không có lỗi; nhưng đời trước, ta và họ đã có vấn đề. Phật dạy phải quán sát ba đời nhân quả. Phật cho biết không phải đời này Đề Bà Đạt Đa mới chống Ngài. Từ khi Phật phát tâm Bồ đề cho đến thành Phật, trải qua vô số kiếp, đời nào Đề Bà cũng chống đối Phật. Kiếp nào cũng chống là biết rõ ân oán, phân ra hai thái cực, Phật và ma. Thiết nghĩ hai Pháp sư cũng chỏi nhau, vì pháp tu khác nhau, thấy khác nhau. Từ cái thấy không đồng và tệ hại hơn nữa, có tâm ganh tỵ thù hiềm, nên thù oán không bao giờ hết.

Tỳ kheo thanh tịnh tìm cách vô hiệu hóa sự chống phá của ác ma bằng cách làm ngược lại. Nó nói chúng ta tham, thì chúng ta hành bố thí, là vô hiệu hóa được. Cứ như vậy thay đổi cuộc sống ta và theo Phật, cuối cùng để họ tự trả lời, ta không bao giờ đính chính. Tự sửa mình thì vô hiệu hóa được sự bịa đặt của ác ma. Quý Thầy đừng hơn thua trên lời nói.Hơn trên lời nói, nhưng phiền não còn là tự hại mình. Vì từ vô minh khởi tham vọng, mới có tham, sân, si. Ta không tham vọng thì không sân, việc cũng dễ.

Thuở nhỏ nhà tôi nghèo, nên tôi rất ghét nhà giàu, nghĩ họ xấu, bóc lột. Từ tâm ác này, có ý thức chống đối, nên quả báokhông lường, vì nghèo mà chống giàu thì khổ lắm. Thay đổi cái nhìn theo Phật pháp là biết đời trước mình không có phước, ăn nhiều làm ít. Thay đổi cái nhìn như vậy, tôi thay đổi cuộc sống, cố làm nhiều, ăn ít để cònthặng dư phước là thực tế phải vậy. Như vậy, nhìn theo Phật, tâm oán hận không sanh ra. Nhìn theo thế gian, dễ oán tức. Lúc còn trẻ, tôi hay bực tức, nhưng phát hiện thấy mình là ác Tỳ kheo, không dám nữa. Trong Phật học đường, thường chọn Thầy có ngoại hình dễ coi, vui vẻ, tiếp xúc bặt thiệp để giao việc tiếp khách; làm sao chọn người hay gây được. Không được chọn, mình lại sanh ý ác là họnịnh bợ; bần khổ đa oán là nghĩa này. Người có phước mới làm được. Việc chọn thị giả cũng vậy, Hòa thượng chọn người hiền lành, dễ thương, siêng năng, biết việc; mình cục mịch, thô lỗ, hầu Thầy coi sao được. Thấy họ hầu Thầy, được đủ thứ, nên mình sanh tâmganh ghét và nói xấu họ.

Tôi luôn nhớ hai chữ "Túc nghiệp” để tự sửa mình. Sanh trên cuộc đời này, chúng ta nghèo đói, bệnh hoạn, ngu dốt, nên không dùng vô đâu được, không có chỗ nào ta dung thân được. Thực chất tu là tìm chỗ dung thân, tìm việc làm. Không có việc gì làm để đại chúng chấp nhận, thì giống như thây ma trong bể Phật pháp.

Không làm mà hưởng của Tăng, ta tổn phước lần, chắc chắn sau này không trở lại sống với Tăng chúng được. Tôi thương xót những Thầy ra đời, họ hơn ta, nhưng vô tình làm ác Tỳ kheo, phải ra khỏi nhà Phật pháp. Kinh nghiệm tôi ở đâu cũng đóng góp việc làm và việc càng tốt, lợi ích, đại chúng càng thương.

Phải có tư cách thanh tịnh Tỳ kheo là Tịnh Mục, không hơn thua phải trái. Và từ Tịnh Mục trở thành Pháp Mục Tỳ kheo, thấy theo Phật, sống theo pháp, thể hiện đầy đủ trong cuộc sống những gì Phật nói trong kinh điển. Người thấy ta, nghĩ đến ta là nhớ đến Phật, đến pháp, nhận ra sự cao đẹp của đạo. Pháp Mục Tỳ kheo sống trong pháp Phật lâu ngày có cái thấy chính xác, biết rõ mọi việc và làm vô số việc hữu ích cho người, được người kính quý, trở thành Thánh Mục Tỳ kheo. Thánh Mục Tỳ kheo chỉ cho Phật. Kiều Trần Như là Tịnh Mục Tỳ kheo không nói, chỉ chuyên tu pháp hành, thành tựu đức hạnh đệ nhất, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh.

Pháp hội Hư Không Mục giới thiệu Phật và Thánh chúng hiện hữu ở Ta bà với chúng sanh nhiều tệ ác. Nhưng các Ngài có được Ngũ nhãn, Tam minh, Tứ trí, Lục thông, v.v… nên trở thành chỗ nương tựa của Bồ tát mười phương. Kinh nói Bồ tát tập hợp về học pháp Hư Không Mục và chư Phật mười phương đều đem Tịnh Mục, Pháp Mục Đà la ni, Thánh Mục Đà la ni dâng cúng cho Phật.

Kinh ghi rằng chư Phật mười phương đồng tình hay giữ dục bằng cách bảo các vị Bồ tát mang Đà la ni đến trao cho Phật Thích Ca. Đà la ni là sự hiểu biết chính xác. Mỗi vị Phật giữ dục, là tặng cho Phật Thích Ca một Đà la ni. Tất cả Đà la ni do Phật mười phương gửi tới nói lên hoàn cảnh này, đối với người này, việc này, thì nên xử sự như thế nào là tốt nhất.

Phật Thích Ca tiếp nhận Đà la ni của Phật mười phương, thấy được trần lao nghiệp chướng của họ là gì và Ngài đối trị được tất cả những thứ ác xấu ấy. Điều này quả thực khó lắm. Chúng ta thử nghĩ xem ngày nay trong Giáo hội có bao nhiêu hệ phái, mỗi chùa có bao nhiêu Tăng. Mỗi vị Tăng lại hồi vầy hồi khác..., việc quản lý chư Tăng không dễ chút nào.

Đọc kinh Bảo Tích thấy ý này, tôi ngán sợ. Trong thành phố cả ngàn Tăng Ni, hàng ngàn ngôi chùa mà lúc nào cũng thưa kiện. Nhớ đến chư Phật giữ dục, trao Đà la ni; nhưng muốn được như vậy, phải giữ tâm thanh tịnh, đừng để phải trái hơn thua kéo chúng ta vô trần lao. Lấy Phật pháp rửa sạch trần lao là cách tuyệt vời nhất. Theo kinh nghiệm hành đạo của riêng tôi, khi gặp việc rối rắm quá, tôi thường bỏ mặc, tạm thời quên hết. Và tôi trì tụng kinh Đại thừa, tĩnh tâm, nghĩ về Phật. Thật vậy, khi việc phức tạp quá, có nghĩ đến cũng không thể giải quyết nổi, vì còn chịu ảnh hưởng dây chuyền. Giải quyết sai chẳng những hư việc còn làm cho vấn đề rối tung thêm. Nhưng khi tôi bỏ mặc thì lại thấy vấn đề sáng lần ra và việc tự hóa giải! Tôi chỉ giữ tâm thanh tịnh thì việc sẽ đâu vào đó.

Trên bước đường tu, thiết nghĩ theo lời Phật, giữ tâm thanh tịnh thì cảnh sẽ tịnh. Tâm động, cảnh tịnh không bao giờ có được. Gặp việc rắc rối, cứ tĩnh tâm một lúc thì việc tự tốt. Còn thưa kiện, cố giải quyết cho xong, sẽ có vấn đề khác nảy sanh. Rõ ràng trong mối tương quan tương duyên chằng chịt của thế giới tương đối này luôn luôn có sự bất hòa; giải quyết cách nào, họ cũng không chịu.

Phật mười phương đồng tình với Phật Thích Ca, nói lên ý nghĩa có người đồng tình với sự khó khăn của ta, ta cũng trút được gánh nặng. Tất cả Phật mười phương giữ dục đều nói rằng Ta bà và thế giới của các Ngài cũng giống như nhau, đệ tử của các Ngài và đệ tử của Phật Thích Ca cũng dữ như vậy... Và chỉ giải quyết bằng Đà la ni, là có người sáng suốt cảm thông và góp ý chân tình, chúng ta nhẹ nhõm được.

Phật mười phương giữ dục, cho chú Đà la ni, nghĩa là nói về kinh nghiệm tu hành của các Ngài cũng đã bị những chướng nạn như vậy, nên cảm thông với Đức Phật Thích Ca. Và Phật mười phương chỉ dạy Ngài những biện pháp giải quyết tốt đẹp mọi việc. Riêng chúng ta, chưa được Đức Phật trao Đà la ni thì theo tôi, chúng ta tìm trong kinh, trong Thiền định, sẽ được Phật giữ dục, nghĩa là hộ niệm, tâm trí chúng ta tự sáng lên. Giặc đến Bồ đề phải tan là vậy. Một khi cánh cửa Phật đã mở ra, ta y theo đó mà làm, chắc chắn được giải thoát.

Phật Thích Ca dạy rằng Phật này nói thế này, Phật kia nói thế kia, nghĩa là Ngài ứng theo trần lao của chúng sanh mà giải. Còn thấy toàn trần lao đáng sợ, làm sao dám ở đây tu. Kinh Hoa Nghiêm cũng nói khi Phật Thích Ca thành Vô thượng Bồ đề, Ngài sợ thế giới tệ ác của Ta bà, liền muốn nhập Niết bàn. Nhưng chư Phật mười phương đã an ủi Ngài, khiến Ngài xuống Lộc Uyển thuyết pháp độ sanh. Phật Thích Ca giáo hóa tùy nghiệp. Gặp người căn tánh Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, thì Ngài theo đó nói pháp tương ưng, triển khai thành Tam thừa giáo.

Chúng ta thường nghĩ lầm rằng người nào cũng là Phật. Ăn cướp thì phải thấy nó là ăn cướp, thấy nó là Phật thì tai hại vô cùng. Phật mười phương bảo các vị Bồ tát đến Ta bà, phải hiện thân Đế Thích, Kim Cang hay Chuyển luân Thánh vương...; nói chung là những người có thế lực nhất để trợ giúp Phật Thích Ca. Đó là giữ dục cho Phật Thích Ca. Không phải vị nào cũng mang hình thức xuất gia, ôm bình đi khất thực.

Thể hiện tinh thần này là các nhà sư của phái Thiếu Lâm không phải là người yếu đuối, nhu nhược. Võ nghệ của họ khiến những tên cướp khét tiếng cũng phải nể phục, không dám đến chùa cướp của. Phật Thích Ca hiền lành vô cùng, nhưng không ai hại Ngài được, vì đã có Đế Thích, Phạm vương. Thực tế là những ông vua mạnh như Tần Bà Sa La, A Xà Thế hay vua Ba Tư Nặc... hết lòng kính trọng và cúng dường Ngài. Đức Phật Thích Ca tạo được những thành quả lớn lao không nghĩ nổi như vậy mới thay đổi được tâm tánh cao ngạo của hàng ngoại đạo và hàng trần lao nghiệp chướng Tăng theo Ngài.

Áp dụng ý này trong thực tế hành đạo, theo tôi, Phạm vương tiêu biểu cho hàng trí thức trong xã hội; Đế Thích tiêu biểu cho người có quyền uy nhất; Kim Cang là những người hộ pháp đắc lực nhất; Chuyển luân Thánh vương là người có được quần chúng ủng hộ. Có được bốn thế lực này ủng hộ, chúng ta sẽ hóa giải được việc làm ác của thành phần trần lao nghiệp chướng, họ phải tùy thuận theo chúng ta.