cool hit counter

Sách


Lời giới thiệu Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp
Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa Thiền định phóng quang và đàm kinh nhập diệu
Nguyện hương Đoạn phiền não – tâm bình an
Đảnh lễ Phật Giàu đạo đức, giàu tuệ giác
Lễ Phật quá khứ Giới đức pháp thân
Đảnh lễ Phật hiện tại An trụ tịch diệt tướng
Lễ Phật vị lai Ý nghĩa Phật Đản theo kinh Pháp Hoa
Đảnh lễ Bồ tát Phật giáo và dân tộc Việt Nam
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh hoằng thông liệt vị Tổ sư Hoằng pháp ở thế kỷ XXI
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh thủ hộ thiện thần Dòng chảy miên viễn của Thiền
Sám hối Đức Phật sống mãi với chúng ta
Phát nguyện Đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật
Ý nghĩa thọ trì 7 phẩm Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Chùa mục đồng ở Nam bộ
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ nhất Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định của mọi thành công
Ý nghĩa phẩm Pháp sư Phật giáo, con đường dẫn đến sự sống hòa bình, phát triển, an lạc, hạnh phúc cho nhân loại.
Ý nghĩa phẩm Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15 Sức sống Thiền của Trần Thái Tông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 Sống trong tỉnh giác
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17 Quan niệm về kinh tế trong Phật giáo
Ý nghĩa phẩm Phổ Môn thứ 25 Những nét đẹp của Phật giáo Lý Trần
Ý nghĩa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28 Nghệ thuật trong Phật giáo
Hồi hướng Ý nghĩa nhà lửa tam giới trong kinh pháp hoa
Ý nghĩa tụng thủ hộ thần chú Ý nghĩa lễ tắm Phật
Ý Nghĩa Quy Y Tam Bảo Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm
Năm Giới Của Người Phật Tử Tại Gia Ý nghĩa Vu Lan  
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Pháp Hoa Và Tụng Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Sám Hối Nhứt Phật thừa
Ý Nghĩa Tụng Kinh Dược Sư Và Niệm Phật Dược Sư Quán tứ niệm xứ
Ý Nghĩa Niệm Phật Di Đà Tứ chánh cần
Lời nói đầu Tứ như ý túc
I. Lý do chọn 21 ngày tu gia hạnh Phổ Hiền
Ngũ căn ngũ lực
II. Ý nghĩa của sự khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày thành đạo của Phật Di Đà là ngày 17 tháng 11 và kết thúc vào ngày thành đạo của Phật Thích Ca là ngày mùng 8 tháng 12 Thất Bồ đề phần
III. Kết luận Thúc liễm thân tâm
Lời tựa Tùy duyên  
Tổng luận Thanh tịnh hóa thân tâm
Pháp hội 1 : Tam Tụ Luật Nghi Nhứt thiết Chúng sanh Hỷ kiến Bồ Tát
Pháp hội 2: Vô Biên Trang Nghiêm Đà la ni Chánh kiến
Pháp hội 3 : Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Tam quy và pháp niệm Phật
Pháp hội 5: Vô Lượng Thọ Như Lai Hài hòa để cùng tồn tại và phát triển
Pháp hội 6: Bất Động Như Lai Hạnh khiêm cung và bát kỉnh pháp
Pháp hội 7: Mặc Giáp Trang Nghiêm An lạc hạnh  
Pháp hội 8: Pháp Giới Thể Tánh Vô Sai Biệt Những kinh nghiệm giảng dạy
Pháp hội 9 : Đại Thừa Thập Pháp Kinh nghiệm giảng dạy Kinh Hoa Nghiêm
Pháp hội 10: Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn Một số đề tài gợi ý cho những bài thuyết giảng của Tăng Ni sinh Khóa Giảng sư
Pháp hội 11: Xuất Hiện Quang Minh & Pháp hội 12 : Bồ Tát Tạng Nổ lực tự học để kế thừa và phát huy được tinh ba của Thầy, Tổ.
Pháp hội 14: Phật Thuyết Nhập Thai Tạng Một số phương hướng cho ngành Hoằng pháp
Pháp hội 15: Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký Vài suy nghĩ về Hoằng pháp trong thời hiện đại
Pháp hội 16: Bồ Tát Kiến Thiệt Hoằng pháp trong thế kỷ 21
Pháp hội 17: Phú Lâu Na Nhà Hoằng pháp và giáo dục tiêu biểu trong thế kỷ XX
Pháp hội 18: Hộ Quốc Bồ Tát Hoằng pháp ở thế kỷ 21(thuyết giảng ngày 20 – 24 tháng 6 năm 2007)
Pháp hội 19: Úc Già Trưởng Giả Điểm chung nhứt của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền
Pháp hội 20: Vô Tận Phục Tạng Mô hình Hoằng pháp tại nước nhà trong thời đại ngày nay
Pháp hội 21: Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La Tư cách của vị trụ trì
Pháp hội 23: Ma Ha Ca Diếp Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại
Pháp hội 24: Ưu Ba Ly Ý nghĩa trụ trì
Pháp hội 25: Phát Thắng Chí Nguyện Trụ trì, người giữ chùa
Pháp hội 26: Thiện Tý Bồ Tát Kinh nghiệm làm trụ trì
Pháp hội 27 : Thiện Thuận Bồ Tát Tam pháp ấn
Pháp hội 28: Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả Nét đẹp của Phật giáo Nam Tông Khơ Me
Pháp hội 29: Ưu Đà Diên Vương Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện đại
Pháp hội 30: Diệu Huệ Đồng Nữ Điều thiết yếu của người tu : Sức khỏe tốt, trí sáng suốt và trái tim nhân ái
Pháp hội 31: Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di An trụ pháp tịch diệt
Pháp hội 32: Vô Úy Đức Bồ Tát Hoằng pháp và trụ trì
1. Lời tựa Đạo đức hành chánh
2. Khái niệm về kinh Duy Ma Ba điểm quan trọng đối với tân Tỳ kheo
3. Quán chúng sanh theo kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (Thuyết giảng tại chùa Phổ Quang)
4. Bất Nhị pháp môn trong kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (thuyết giảng tại chùa An Phước)
5. Ý nghĩa phẩm Phật Hương Tích trong kinh Duy Ma Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ : Học, tu và làm việc
6. Quan niệm về đức Phật trong kinh Hoa Nghiêm Truyền trao giới pháp và lãnh thọ giới pháp đúng như pháp.
7. Ý nghĩa lễ Phật theo kinh Hoa Nghiêm Giới tánh Tỳ kheo
8. Ý nghĩa phương tiện theo kinh Pháp Hoa Lời tựa       
9. Ý nghĩa thí dụ ba xe và nhà lửa trong kinh Pháp Hoa Tiểu sử
10. Ý nghĩa hóa thành dụ trong kinh Pháp Hoa Giới tánh tỳ kheo  
11. Pháp sư của kinh Pháp Hoa Hoằng pháp và trụ trì  
12. Ý nghĩa Long Nữ dâng châu trong kinh Pháp Hoa An lành và tĩnh giác
13. An Lạc Hạnh theo kinh Pháp Hoa Nghĩ về sự thành đạo của Đức Phật
14. Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất Mùa Xuân đọc kinh Hoa Nghiêm
15. Cảm niệm về Bồ Tát Phổ Hiền Sự lớn mạnh của Phật giáo song hành với thành phố phát triển 300 năm
Lời tựa Khai Thị 2009 Những quan niệm về Đức Phật
Xuân trong Phật đạo Thế giới tâm thức và thế giới hiện thực
Phước Lộc Thọ Pháp phương tiện
Hạnh xuất gia Tụng kinh, lạy Phật, sám hối và thiền quán
Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo Đức hạnh của vị Tỳ kheo
Hạnh nguyện Quan Âm Hành trình tâm linh : nẻo về vĩnh hằng của người tu
Tàm Quý Ý nghĩa Phật Đản PL. 2542 - 1998
Họa phước vô môn Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật
An cư kiết hạ Nương nhờ đức từ của Tam bảo
Phật giáo và vấn đề tác hại của thuốc lá Ý nghĩa Kim Cang thừa trong Phật giáo
Phật giáo và bảo vệ môi trường Cảm nghĩ về Đức Phật A Di Đà
Phật giáo và thiếu nhi Ý nghĩa Vu Lan 1998
Nói không với ma túy Bồ Tát Đạo
Đạo đức ở tại gia Mùa An cư : sáu thời tịnh niệm
Mỉm cười trong đau khổ Tinh thần Phật giáo Đại thừa
Phật giáo và dân số Phật giáo hướng về tương lai
Kính lão đắc thọ Ý nghĩa lễ Vu Lan PL 2542 - 1998 (thuyết giảng tại trường hạ chùa Hội Khánh)
Hành trì giới luật Chơn thân – huyễn thân
Ý nghĩa Vu lan Tư cách của vị trụ trì  
Hạnh nguyện Địa Tạng Bồ tát Tâm từ bi của Đức Phật
Nối vòng tay lớn 9 tuần tu học đồng đăng Cửu Phẩm Liên Hoa
Niềm vui của tuổi già Những việc cần làm trong 3 tháng An Cư
Kiến thức và trí tuệ Những việc cần làm trong 3 tháng an cư Suy nghĩ về linh hồn trong Phật giáo
Tình người Hoằng pháp   
Hạnh nguyện Bồ tát hay Bồ tát đạo Tìm hiểu ngôn ngữ của Đức Phật
Tha lực và tự lực Mùa Xuân trên đất Bắc
Hạnh nguyện Dược Sư Lời tựa        
Ơn Thầy Ý nghĩa cầu an
Vượt qua mặc cảm Hạnh nguyện Phổ Hiền
Lời tựa Lược giải Kinh Hoa Nghiêm Bản chất Niết bàn
Nghề nghiệp chân chánh Niềm tin chân chánh
CHƯƠNG I – LỊCH SỬ KINH HOA NGHIÊM
        I - Khái niệm về lịch sử kinh Hoa Nghiêm
Hóa giải hận thù
    II - Lịch sử truyền thừa và phát triển kinh Hoa Nghiêm Phật giáo và hòa bình thế giới
  III - Nội dung kinh Hoa Nghiêm Quốc thái dân an
CHƯƠNG II - Ý NGHĨA ĐỀ KINH HOA NGHIÊM Giải tỏa oan ức
CHƯƠNG III – QUAN NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT THEO KINH HOA NGHIÊM
       I - Quan niệm về Đức Phật trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
Vững trước khen chê
   II - Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Ý nghĩa sức mạnh hòa hợp
  III - Quan niệm về Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm Âm siêu dương thạnh
CHƯƠNG IV – BỒ TÁT ĐẠO
      I - Bồ tát Thập Tín
Thực tập nhẫn nhục
  II - Bồ tát Thập Trụ Thành công và thất bại
 III - Bồ tát Thập Hạnh Chiến thắng chính mình
IV - Bồ tát Thập Hồi hướng Thân cận người trí
 V - Bồ tát Thập Địa hay Thập Thánh Sống hạnh viễn ly
VI - Bồ tát Thập Định Ý nghĩa bờ bên kia
VII - Bồ tát Thập Thông Hương thơm đức hạnh
VIII - Bồ tát Thập Nhẫn Tòa án lương tâm
CHƯƠNG V – PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI Củng cố niềm tin
   1- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Đức Vân Tỳ kheo Giá trị cuộc sống
   2- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Vân Tỳ kheo Giáo dục con cái
   3- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Trụ Tỳ kheo Vượt qua tật bệnh
   4- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Di Già Đền ơn đáp nghĩa
   5- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Giải Thoát Thân phận con người
   6- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Tràng Tỳ kheo Sức mạnh của ý chí
   7- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hưu Xã Ưu bà di Quan niệm về Tịnh Độ
   8- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa Cư trần lạc đạo
   9- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thắng Nhiệt Bà la môn Làm mới cuộc sống
   10- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Từ Hạnh đồng nữ Lời tựa        
   11- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Kiến Tỳ kheo Ăn chay lợi cho sức khỏe và tâm linh
   12- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tự Tại Chủ đồng tử Chuyển hóa sanh thân thành pháp thân
   13- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Cụ Túc Ưu bà di Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam
   14- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Minh Trí Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị Tổ sư người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam
   15- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Pháp Bửu Kế Mật tông tại Việt Nam
   16- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Phổ Nhãn Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng
   17- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Vô Yểm Túc Phật giáo đi vào cuộc sống
   18- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Đại Quang Sự hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ
   19- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bất Động Ưu bà di Sức mạnh hòa hợp
   20- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Biến Hành ngoại đạo Tác động hỗ tương giữa thân và tâm
   21- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Ưu Bát La Hoa Tận dụng phương tiện hiện đại trong việc hoằng pháp
   22- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thuyền trưởng Bà Thi La Tứ chánh cần  
23.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Vô Thượng Thắng hay Di Lặc Bồ Tát Tu thiền tại Việt Nam
24- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân Vai trò của ni giới Việt Nam trong xã hội hiện đại
25- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với bà Tu Mật Đa nữ Ý nghĩa hóa thân Phật thuyết pháp
26- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Tỳ Sắc Chi La Ý nghĩa kệ dâng y
28.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Chánh Thu Ý nghĩa tập trung phân thân
27.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Quán Tự Tại Ý nghĩa tịnh độ
29- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thần Đại Thiên Cầu nguyện mùa vu lan
30- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Địa thần An Trụ Cư sĩ Phật giáo
31- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với chủ Dạ thần Bà San Bà Diễn Để Đạo đức Phật giáo trong tương lai
32- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Dạ thần Khai Phu Nhứt Thiết Thọ Hoa và Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Nhứt Thiết Chúng Sanh Điểm chung nhứt của Phật giáo nam truyền và bắc truyền  
33- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thọ thần Diệu Đức Viên Mãn Giới luật của người Phật tử tại gia
34- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ tát Di Lặc Bồ đề quyến thuộc
35- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Mối tương quan với thế giới siêu hình
36- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Phổ Hiền Bồ tát Chân tinh thần Phật giáo Bắc tông
CHƯƠNG VI – PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI – PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN Trồng căn lành và sám hối
16. Niết bàn theo kinh Pháp Hoa Lợi ích của an cư kiết hạ
17. Giáo dục của Phật Giáo Đại Thừa Tứ niệm xứ, tứ chánh cần
18. Những điều kiện tu Bồ Tát đạo Mùa xuân vĩnh hằng
19. Ngôi chùa tâm linh Kiến trúc Phật giáo
20. Hành trình về chân linh Kiến trúc Phật giáo  
21. Tu tâm Niềm tin của người phật tử Việt Nam
22. Canh tâm điền Sự an lạc trong gia đình
23. Đường về Yên Tử Báo đáp ơn nghĩa sinh thành
24. Nếp sống của một vị danh tăng Quan niệm về tịnh độ của kinh Di Đà
25. Ý nghĩa Phật Đản Pl.2538 (Tứ Nhiếp Pháp) Tam pháp ấn  
26. Ý nghĩa lễ đức Phật thành đạo Tinh thần từ bi hỷ xả, con đường tốt nhất đi đến hòa bình, phát triển và an lạc cho nhân loại
27. Phật giáo Việt Nam đang hướng về phía trước trên tinh thần vô ngã vị tha Từ bi và hòa bình trong Phật ngọc
28. Xuân hoan hỷ Tình yêu và giới tính theo tinh thần Pháp Hoa
29. Xuân trong cửa thiền Xây chùa, tô tượng, đúc chuông
30. Xuân của hành giả Pháp Hoa Xuân trong cửa đạo
Lời tựa lược giải kinh Pháp Hoa Bồ Tát Thích Quảng Đức, một bậc danh tăng siêu việt của thế kỷ 20
Lịch sử kinh Pháp Hoa Cái chết đối với người phật tử
Kinh đại thừa vô lượng nghĩa Giáo dục ở tự viện
Phẩm 1: Tựa Giới định tuệ
Phẩm 2: Phương tiện Khắc phục nghiệp, giữ chánh niệm, trụ chánh định
Phẩm 3: Thí dụ Khởi nghiệp mưu sinh theo Phật giáo
Phẩm 4: Tín giải Lễ Phật theo bổn môn Pháp Hoa
Phẩm 5: Dược thảo dụ Ngôi chùa tâm linh
Phẩm 6: Thọ ký Nhập không môn, vào vô lượng nghĩa định
Phẩm 7: Hóa thành dụ Nữ giới Phật giáo và sự kết nối toàn cầu
Phẩm 8,9: Ngũ bá đệ tử thọ ký, thọ học vô học nhơn ký Pháp phục của tăng ni Việt Nam
Phẩm 10: Pháp sư Phật giáo và môi trường sinh thái  
Phẩm 11: Hiện bảo tháp Phật giáo và phù đổng Thiên Vương
Phẩm 12: Đề Bà Đạt Đa Thâm nhập không môn
Phẩm 13: Trì Trụ định, hành trang tối thiểu của người tu
Phẩm 14: An lạc hạnh Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng
Phẩm 15: Tùng Địa Dũng Xuất Tu vô lượng nghĩa kinh, sống trong vô lượng nghĩa định, thâm nhập hội Pháp Hoa.
Phẩm 16: Như Lai thọ lượng Vô lượng nghĩa kinh và vô lượng nghĩa xứ tam muội
Phẩm 17: Phân biệt công đức Xây dựng đạo đức của người tu
Phẩm 18: Tùy hỷ công đức Yếu nghĩa của phẩm pháp sư, kinh Pháp Hoa
Phẩm 19: Pháp sư công đức Hướng đi của Phật giáo Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
Phẩm 20: Thường bất khinh Bồ Tát Những điều tâm đắc về hoằng pháp ( thuyết giảng tại Bình Định)
Phẩm 21: Như Lai thần lực Ý nghĩa Phật đản PL. 2550-2006
Phẩm 22: Đà La Ni Mỹ thuật Phật giáo
Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát bổn sự Vai trò của người phụ nữa trong kinh Hoa Nghiêm
Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát Những tư tưởng hòa bình, hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam
Phẩm 25: Phổ môn Đức Phật hằng hữu trong mỗi chúng ta
Phẩm 26: Diệu Trang nghiêm vương bổn sự Vai trò của Tăng già trong thời hiện đại
Phẩm 27: Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát Phật giáo trong nền toàn cầu hóa
Phẩm 28: Chúc lụy Giáo dục Phật giáo
Preface Một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa
Lời tựa lược giải kinh Duy Ma Ý nghĩa cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa
Tổng luận lược giải kinh Duy Ma Tịnh độ
Phẩm 1: Phật quốc Hóa thành dụ
Phẩm 2: Phương tiện   Phật giáo Nam tông vá Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Phẩm 3: Thanh văn Phật giáo trong lòng nhân dân miền Nam
Phẩm 4: Bồ Tát Vị trí của Pháp sư Huyền Trang trong Phật giáo
Phẩm 5: Văn Thù Sư Lợi thăm bệnh Xuân về trên cõi Tịnh
Phẩm 6: Bất tư nghì Vãng sanh cực lạc
Phẩm 7: Quán chúng sanh Cầu siêu bạt độ
Phẩm 8: Phật đạo Công đức của kinh Pháp Hoa
Phẩm 9: Nhập bất nhị pháp môn Nghệ thuật trong Phật giáo  
Phẩm 10: Phật Hương Tích Hoằng pháp ở thế kỷ 21
Phẩm 11: Bồ Tát đạo An cư dưỡng tánh - Thị phi phủi sạch
Phẩm 12: Kiến Phật A Súc Giữ giới và quán chiếu với tứ Thánh đế
Phẩm 13: Pháp cúng dường Gắn tâm với Đức Phật, với giáo pháp và Hiền thánh tăng
Phẩm 14: Chúc lụy Bốn pháp giải thoát
Lời tựa           Gạn sạch phiền não, nghiệp chướng, trần lao
Lịch sử Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Sám hối nghiệp chướng
Ý nghĩa Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Pháp Hoa chân kinh
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ I Ý nghĩa 12 đại nguyện của Đức Phật Dược Sư
Ý nghĩa phương tiện và chân thật Vũ trụ quan theo Phật giáo
Ý nghĩa Thí Dụ Sống an lạc, chết siêu thoát
Ý nghĩa phẩm Pháp Sư thứ 10 Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng
Ý nghĩa phẩm An Lạc Hạnh thứ 14 Quan niệm về đức Phật theo kinh Pháp Hoa  
Ý nghĩa phẩm Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ mười lăm Pháp Phật và an toàn giao thông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ mười sáu Đức Phật của chúng ta
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, phẩm Pháp Sư công đức thứ 19 Đạo đức Phật giáo
Bồ Tát hạnh: Dược Vương Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Diệu Trang Nghiêm Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Bồ tát hạnh theo kinh Pháp Hoa
Lời tựa           Mùa xuân của hành giả phát tâm bồ đề
Pháp Hội 33 : Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện Những điều tâm đắc về kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 34 : Công Đức Bửu Hoa Phu Bồ Tát Ý nghĩa Phật Đản PL 2543 - 1999
Pháp Hội 35 : Thiện Đức Thiên Tử Kinh nghiệm hoằng pháp  
Pháp Hội 36 : Thiện Trụ Ý Thiên Tử Tìm hiểu xã hội học Phật giáo
Pháp Hội 37 : A Xà Thế Vương Tử Theo dấu người xưa
Pháp hội 38: Đại Thừa Phương Tiện Những điều cần làm trong mùa An cư
Pháp Hội 39 : Hiền Hộ Trưởng Giả Bốn bậc trưởng lão được kính trọng
Pháp Hội 40 : Tịnh Tín Đồng Nữ Trở về viên minh tánh
Pháp Hội 41 : Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp Điều kiện để có kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 42 : Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại  
Pháp Hội 43 : Phổ Minh Bồ Tát Ý nghĩa an cư kiết hạ
Pháp Hội 44 : Bửu Lương Tụ Bồ tát quả môn
Pháp Hội 45 : Vô Tận Huệ Bồ Tát Mùa an cư - tiến tu tam vô lậu học
Pháp Hội 46 : Văn Thù Thuyết Bát Nhã Công việc của Tỳ kheo chân chánh
Pháp Hội 47 : Bửu Kế Bồ Tát Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ
Pháp Hội 48 : Thắng Man Phu Nhân Bất biến, tùy duyên
Pháp Hội 49 : Quảng Bác Tiên Nhân Bàn về nghi lễ
Pháp Hội 50 : Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm Tu hành đúng như pháp là tối thượng cúng dường
Pháp Hội 52 : Bửu Nữ Chọn pháp tu an lạc
Pháp Hội 53 : Bất Thuấn Bồ Tát Phát huy chân linh
Pháp Hội 54 : Hải Huệ Bồ Tát Nghĩ về Phật giáo Nhật Bản
Pháp Hội 55 : Hư Không Tạng Bồ Tát Ý nghĩa phẩm Tín giải trong kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 56 : Vô Ngôn Bồ Tát Bồ đề tâm  
Pháp Hội 57 : Bất Khả Thuyết Bồ Tát Đức Phật trong nền văn minh Ấn Độ
Pháp Hội 58 : Bửu Tràng Bồ Tát Một chuyến đi về miền đất Phật
Pháp Hội 59 : Hư Không Mục Giác Ngộ với thiên niên kỷ 3
Pháp Hội 60 : Nhựt Mật Bồ Tát Suy nghĩ về số mệnh trong Phật giáo
Pháp Hội 61 : Vô Tận Ý Bồ Tát Thiền trong đời thường
Lời tựa  Hướng về Thánh tích của Phật giáo
Tiểu sử   Lời tựa           
Thọ giới, tu hành, nỗ lực thâm nhập dòng thác trí tuệ Tam vô lậu học  
Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội Quý nhứt trên đời
Thức ăn tinh thần của người tu Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng  
Thực tu, cảm hóa được chư thiên và quần chúng Sinh hoạt trong mùa An cư  
Trau dồi giới đức, siêng tu tam vô lậu học Suy nghĩ về ý mã tâm viên  
Lời tựa    An lạc hạnh   
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2539 -1995 Tam vô lậu học: Giới, Định, Tuệ  
Tam vô lậu học An cư kiết hạ   
Quý nhất trên đời Cơm Hương Tích  
Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng Bồ tát đạo   
Ý nghĩa Vu lan PL. 2539 - 1995 Mùa An cư sáu thời tịnh niệm  
Nhìn về thế kỷ 21 Tinh thần Phật giáo Đại thừa  
Xuân Pháp Hoa Nhân duyên - căn lành  
Hướng về tương lai Chơn thân - huyễn thân  
Ý nghĩa Niết bàn Chín tuần tu học, đồng đăng cửu phẩm Liên hoa  
Internet, những nỗi lo mới Những việc cần làm trong ba tháng An cư  
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2540 -1996 Hành trang của người xuất gia: căn lành và Phật hộ niệm  
Cảm nghĩ về hoài bão của Đức Phật Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật  
Phật giáo và thực tiễn cuộc sống Trở về viên minh tánh  
Sinh hoạt trong mùa An cư Theo dấu người xưa  
Suy nghĩ về ý mã tâm viên Những điều cần làm trong mùa An cư  
Suy nghĩ về hoằng pháp Tu tâm  
An lạc hạnh Bốn bậc trưởng lão được kính trọng  
Tam vô lậu học : Giới-Định-Tuệ Bồ tát quả môn   
An cư kiết hạ   Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ  
Cơm Hương Tích Mùa An cư - tiến tu Tam vô lậu học  
Ý nghĩa lễ Vu lan Bất biến, tùy duyên  
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2540 - 1996 Công việc của Tỳ kheo chân chánh  
Ơn nghĩa đồng bào Phát huy chân linh  
Hướng về những người con tương lai của đất nước Bàn về nghi lễ  
Hãy đến với Chương trình "Hiểu và Thương" Sáu pháp hòa kỉnh trong mùa An cư  
Lòng từ của Bồ tát Quan Âm Đại thừa Phật giáo  
Bồ đề tâm Tu trên ngũ uẩn thân  
Suy tư của người Phật tử về những vấn đề lớn Trụ pháp và lực gia bị của Phổ Hiền  
Đầu tư - vấn đề nan giải Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ: học, tu và làm việc  
Những điều tâm đắc trên đường về Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Lấy từ bi xóa hận thù Hài hòa, con đường an lành  
Thuận lợi và nguy cơ Nếp sống của người tu  
Lá thư Tổng Biên tập Con đường giải thoát  
Lá thư Xuân (trích Nguyệt san GN số 10) Kinh Đại Bảo Tích pháp hội 59: Hư không mục  
Ý Xuân Ý nghĩa sám Pháp Hoa  
Lá thư Xuân (trích Báo GN số 41) Phật giáo Nam tông  
Những suy nghĩ về Hội nghị kỳ 5 khóa III Trung ương Giáo hội Đạo lực
Năm mới với niềm hy vọng mới Năm đặc điểm của người tu
Trách nhiệm và chức vụ Ý nghĩa Tam vô lậu học
Thành quả của Đại hội Phật giáo TP. HCM kỳ V Pháp tu trong ba tháng An cư
Sự đi lên của Phật giáo miền Trung Hướng đi giải thoát
Hướng phát triển tốt đẹp trong mùa An cư Hạnh an lạc
Hướng về ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7 Tỉnh giác là chơn giác
Lễ Vu lan - ngày đền ơn đáp nghĩa của Đông phương Ý nghĩa xuất gia  
Thương tiếc danh tăng An cư và hạnh đầu đà
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2541 - 1997 Cảm niệm Phật A Di Đà
Mừng 52 năm, một chặng đường phát triển của đạo pháp Cùng giúp nhau hoàn thiện tư cách người xuất gia
Vấn đề trẻ hóa lãnh đạo Hành đạo tùy duyên
Phật giáo Việt Nam, một tương lai tươi sáng Nhu đạo và Tịnh độ
Kết quả Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV Những kinh nghiệm tu hành
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VI (1994) Sự hộ niệm của Phật, Bồ tát, Thiên Long Bát Bộ
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VII (1999) Thể nghiệm pháp Phật
Cảm niệm cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa Tịnh độ   
Cảm niệm ân sư Trụ pháp Vô sanh
Đức Pháp chủ là biểu tượng đoàn kết các hệ phái Phật giáo Tu hành là chuyển hóa hữu lậu ngũ uẩn thành vô lậu ngũ uẩn
Cảm niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ Vai trò của nữ tu Phật giáo trong thời Bắc thuộc
Cảm niệm về Hòa thượng Thích Thiện Hào Y báo và chánh báo
Duyên kỳ ngộ Ý nghĩa Tịnh độ   
Hồi tưởng về đức hạnh của Hòa thượng Thích Tâm Thông Tất cả pháp môn tu đều là Phật pháp
Sáng niềm tin Ngộ tánh khởi tu
Một hình ảnh khó quên trong cuộc đời hoằng pháp của tôi Theo dấu chân Phật   
Cảm niệm ân sư (Kỷ niệm lễ chung thất Hòa thượng Thích Trí Đức) Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức
Những kỷ niệm với Hòa thượng Thích Thiện Châu Những khởi sắc của Phật giáo tỉnh Lâm Đồng
Nghĩ về Hòa thượng Thích Thanh Kiểm Trau dồi giới đức, phát triển tuệ lực
Tưởng niệm Ni trưởng Huê Lâm Tu đúng pháp
Ni sư Huỳnh Liên Tâm đức và tuệ đức
Nghĩ về Ni trưởng Như Hòa nhân ngày Tiểu tường An cư là tịnh hóa thân tâm
Lời nói đầu   An trú bây giờ và ở đây
Hoằng pháp Tăng trưởng đạo lực
Những điều tâm đắc về hoằng pháp Đi theo dấu chân Phật và các bậc tiền nhân
Kinh nghiệm hoằng pháp Tâm là Diệu pháp, thân là Liên hoa
Hoằng pháp theo nhân duyên Tu là chuyển nghiệp
Ý nghĩa thuyết pháp Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học.
Giáo dục và hoằng pháp Nương lực Phổ Hiền Bồ tát để tiến tu
Lời tựa      Sống vô ngã vị tha
Ý nghĩa kinh hành niệm Phật Trí tuệ và đạo đức là sức mạnh của người tu
Ý nghĩa tĩnh tâm Tinh thần tùy duyên và bất biến
Lục hòa Làm cho đất nước cũng là làm cho Phật giáo
Sáu pháp ba la mật Bình thường tâm thị đạo và ngôi chùa tâm linh
Tịnh độ theo kinh Duy Ma Học hiểu giáo lý đúng đắn và ứng dụng có hiệu quả vào cuộc sống tu hành
Tam minh Phát huy đạo đức và trí tuệ làm đẹp cho đạo tốt cho đời
Hồi hướng theo kinh hoa nghiêm Ngủ trong tỉnh thức
Xử thế của đạo Phật Sự gắn bó giữa Tăng Ni và Phật tử là điều cần thiết
Tam bảo Nhận ra con người thực của mình để tiến tu
Nhập thế của đạo Phật Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định mọi thành công
Tứ hoằng thệ nguyện Ý nghĩa hồng danh sám hối
Xuân Di Lặc Đoạn phiền não - tâm bình an  
Báo hiếu theo kinh vu lan Giàu đạo đức, giàu tuệ giác  
Phật giáo và pháp luật Giới đức Pháp thân  
Khái niệm về giới luật của người phật tử tại gia An trụ tịch diệt tướng  
Ý nghĩa xuất gia Lắng tâm, tịnh niệm  
Ngọn đuốc xuân Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh  
Ngũ uẩn Ngũ ấm ma trong chúng ta  
Hòa thượng Thích Quảng Đức, một con người bất tử Phát huy đạo lực  
Mông sơn thí thực Sống trong tỉnh giác  
Tính cách pháp lý của giáo hội Tấm gương sáng của Tổ Huệ Đăng  
Những thành quả của giáo hội Phật giáo Việt Nam Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp  
Ý nghĩa đại trai đàn Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội  
Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa Thức ăn tinh thần của người tu  
Lắng tâm, tịnh niệm Thực tu, cảm hóa được chư Thiên và quần chúng  
Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh. Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm  
Ngũ ấm ma trong chúng ta Trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Phát huy đạo lực Tu bồi cội phúc  
Phước đức và trí tuệ Tùy duyên      
Tấm gương sáng của tổ Huệ Đăng Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa  
Tâm tạo ra tất cả Ý nghĩa Nhà lửa tam giới trong kinh Pháp Hoa  
Tu bồi cội phúc Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa  
Tùy duyên  

 

Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng

Lễ Vu Lan phát xuất từ kinh Vu Lan Bồn do Đức Phật Thích Ca giảng dạy theo lời thỉnh cầu của ngài Mục Kiền Liên để cứu độ mẹ của ngài đang bị đọa lạc ở thế giới ngạ quỷ. Cứ đến tháng Bảy, Tăng Ni và Phật tử đều tụng kinh Vu Lan, nhưng việc chính yếu là phải hiểu nghĩa lý kinh và thực hành được yếu nghĩa Phật dạy trong cuộc sống. Trong kinh Vu Lan, Đức Phật dạy chúng ta phương cách báo hiếu cha mẹ đã qua đời. Đối với cha mẹ còn tại thế, chúng ta dễ dàng thực hiện hiếu hạnh bằng cách chăm sóc, phụng dưỡng về vật chất lẫn tinh thần. Nhưng cha mẹ đã qua đời, tình thương của chúng ta đối với song thân vẫn còn rất mãnh liệt, mà không biết cha mẹ mình thác sanh ở cõi nào và cũng không biết làm cách nào đáp đền công ơn vô bờ bến của hai đấng sanh thành dưỡng dục. Quả là Đức Phật đã thương tưởng chúng ta quá nhiều, chỉ dạy chúng ta phương cách tốt nhất để được tiếp tục chăm sóc cha mẹ mình khi mà hai người đáng quý nhất không còn sống kề cận bên mình.

Đức Phật dạy rằng tùy theo nghiệp lành hay nghiệp ác sẽ dẫn dắt mọi người đi vào những cảnh giới khác nhau sau khi chết. Nghiệp lành là những việc làm tốt của con người, như thương yêu, chia sẻ, giúp đỡ, bố thí… và hơn thế nữa gieo nhân lành trong Phật pháp là cúng dường, tụng kinh, lạy Phật, thiền định, v.v… Người đã thực hiện những thiện nghiệp như vậy, đương nhiên sẽ tái sanh vào cõi người cho đến các cõi trời, hay thế giới Phật. Nếu thường xuyên niệm Phật Di Đà và nhớ nghĩ đến Phật Di Đà, có cuộc sống theo hạnh của Phật Di Đà, thì khi mạng chung, chúng ta nương theo lực gia bị của Ngài mà được vãng sanh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Lúc sanh tiền, chúng ta cảm đức hạnh của vị Phật nào và thực hành pháp tu nào, khi mãn duyên cõi đời này, chúng ta sẽ đi về cảnh giới tương ưng đó. Như vậy, trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường làm việc phước thiện và gia công tu hành, sống phạm hạnh, thanh tịnh, an trụ trong pháp Phật, sau khi rời bỏ thân này, chắc chắn về thế giới Phật. Hoặc bình thường, cũng bố thí, cúng dường và không phạm mười tội ác của thân, khẩu, ý, nghĩa là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói lời hung ác, không nói thêu dệt, không nói lời đâm thọc, không tham lam, không sân hận, không si mê. Ngoài ra, còn chuyển đổi mười nghiệp ác này thành mười thiện nghiệp trong cuộc sống, nhưng nếu không niệm Phật, không hướng tâm về thế giới Phật, thì với đời sống tốt đẹp như vậy, họ sẽ tái sanh vào sáu cõi Trời Dục giới.

Nhưng muốn lên mười tám cõi Trời Sắc giới, phải gia công Thiền định và chứng đắc từ sơ Thiền đến tam Thiền. Chứng đắc sơ Thiền, tức ly sanh hỷ lạc. Thông thường, mọi người sống trên cuộc đời, sáu căn luôn tiếp xúc với sáu trần và luôn bị sáu trần hấp dẫn. Vì thế, khi trần duyên thuận với họ thì họ vui, trái lại thì buồn. Đơn giản như muốn ăn mà có ăn thì vui, không có thì khổ, hoặc nghe lời nói vừa ý mình thì sướng, trái ý thì tức giận, v.v... Như vậy, sáu căn của con người chịu sự sai khiến của sáu trần, tạo cho họ cảm nhận vui và khổ liên tục. Đức Phật dạy rằng trong lạc thọ luôn có mầm mống của khổ thọ, vui và khổ theo thế gian ví như hai người bạn chí thân luôn nắm tay song hành với nhau.

Nhận thức sâu sắc khổ vui sanh diệt không ngừng này, chúng ta gia công Thiền định, từ bỏ thú vui thế gian để có nguồn vui thanh tịnh trong tâm. Nói cách khác, diệt bỏ tâm ham muốn, bằng lòng những gì mình đang có. Thí dụ Đức Phật dạy các Tỳ kheo đi khất thực, dùng những thức ăn được cúng dường, không khởi tâm mong cầu. Diệt trừ được ham muốn và quyền lợi vật chất thế gian, vui với tâm thanh tịnh, sẽ sanh về Trời Sắc giới, gọi là ly sanh hỷ lạc. Nếu người tốt, hay bố thí, giúp đỡ, nhưng còn ham muốn theo thế gian, thì chỉ sanh lên cõi Trời Dục mà thôi. Cao hơn nữa, được định sanh hỷ lạc, nghĩa là người không ham muốn, không loạn tâm, không vọng tưởng, tâm luôn tập trung vào giáo pháp, mới tiếp nhận được nguồn vui trong Định. Người đời còn vướng mắc với tham lam, luôn tính toan suy nghĩ đủ cách làm cho tâm họ rối bời những lo âu, buồn phiền, đau khổ và thân họ phát bệnh theo, lại khổ thêm.

Người tu hiểu đạo có cuộc sống an vui, giải thoát, nhờ tâm định tĩnh, thấy được ý nghĩa chân thật của dòng sống miên viễn bất tận. Và an trụ trong niềm hỷ lạc phát sanh từ Định, tiến lên cõi Trời thứ ba, đó là ly hỷ diệu lạc, tức từ bỏ thú vui vật chất theo trần duyên không vững bền, sẽ tiếp nhận được nguồn vui thầm kín kỳ diệu trong Định tâm, mà những hành giả ẩn cư thể nghiệm pháp Phật mới trực nhận được; còn sống theo thường tình thế gian thì hoàn toàn tuyệt phần.

Nguồn vui kỳ diệu của "Ly hỷ diệu lạc” đã được vua Trần Thái Tông cảm nhận sâu sắc sau một đêm được Phù Vân Quốc sư khai ngộ trên non Yên Tử. Đức vua mới thốt lên rằng: "Cá trung tư vị vô nhân thức. Đương dữ sơn Tăng lạc cộng minh”. Nghĩa là cái vui sâu xa của người tu làm sao người đời biết nổi. Chỉ có nhà Sư trên núi mới thấu rõ, mới tận hưởng được. Thật vậy, trước mắt nhà vua toát lên hình ảnh thánh thiện tuyệt vời của Phù Vân, thảnh thơi ở núi rừng một mình, đạm bạc với nước suối, rau rừng và tâm tỏa sáng niềm an lạc vô biên. Uy nghi và đẹp làm sao, đức vua cảm nhận lực an vui kỳ diệu như vậy của vị thánh Tăng nên đã không chịu xuống núi, trở về triều, ngự trên ngai vàng mà nhiều người mơ ước. Vì đức vua hiểu rõ hơn ai hết, thế sự phiền toái bao vây, quấy nhiễu từng giờ làm thế nào sánh được với nếp sống an lạc giải thoát của bậc chân tu, nên ngài đã ví ngôi vua như chiếc giày rách. Vua Trần Thái Tông muốn sống cuộc đời của nhà tu hành theo Phật là vậy. Cuối cùng, hỷ lạc và diệu lạc cũng xả bỏ, tâm mới vắng lặng hoàn toàn và trí tuệ sẽ bừng sáng, gọi là xả niệm thanh tịnh.

Bất cứ người nào dù không theo tôn giáo, nhưng đã làm những việc phước thiện và thực hiện được mười thiện nghiệp của thân khẩu ý như Phật dạy, sau khi qua đời, đều được sanh lên sáu cõi Trời Dục. Và người giữ được tâm định tĩnh thì được sanh vào cõi Trời Sắc. Ai tu phước và tu Định cũng được về hai cõi Trời này; nhưng theo tà giáo, dùng bùa chú thì không thể được. Và muốn tiến xa hơn, được sanh vào những cảnh giới vĩnh hằng bất tử của chư Phật, cần áp dụng các pháp môn tu như tụng kinh, lạy Phật, Thiền định, v.v…, luôn nhớ nghĩ đến Phật, luôn thực hành yếu nghĩa Phật dạy.

Riêng bà mẹ của Mục Kiền Liên lại không tin Phật, mà hận Phật. Vì bà nghĩ rằng bà chỉ có một người con trai là Mục Kiền Liên, Phật lại độ ông, khiến ông bỏ nhà đi tu, làm tuyệt nòi giống và sự nghiệp gia đình. Nếu nghèo mà đi tu thì không sao, còn con bà giàu có, lại đi xin ăn. Vì thế, bà tức giận Phật và gây ra những tội ác. Vì tạo tội ác, bà bị đọa vào cảnh giới ngạ quỷ. Có hai loại ngạ quỷ, một là vì không có thức ăn, nên đói, ngạ quỷ này dễ cứu, cho ăn là hết đói. Nhưng ngạ quỷ như mẹ của Mục Kiền Liên có nhiều thức ăn mà không ăn được, vì bị nghiệp lực trói buộc. Phật dạy rằng loại ngạ quỷ này bụng to như cái trống mà cổ của nó nhỏ như cây kim. Lúc nào nó cũng đói, nhưng không ăn được.

Mục Kiền Liên vâng lời Phật dạy, đã nhờ Phật lực, pháp lực và gia trì lực của Thánh Tăng, nên cứu được mẹ thoát khỏi cảnh khổ của ngạ quỷ và bà liền tái sanh về cõi Trời Đao Lợi làm Thiên nữ. Khi cánh cửa địa ngục mở ra để cứu mẹ của Mục Kiền Liên, tất cả tội nhân ngạ quỷ cũng nhờ đó chạy thoát theo. Nhưng những tội nhân chạy ra theo, nếu được nơi nào bảo lãnh, họ sẽ về nơi đó; còn không ai bảo lãnh thì họ sống lang thang, quậy phá. Cụ thể hóa cho dễ hiểu, năm 1975, khi đất nước ta mới được giải phóng, cửa khám Chí Hòa được phá mở để cứu những tù nhân chính trị. Nhưng tù nhân phạm tội hình sự nhân đó cũng chạy ra. Những tù nhân chính trị phần lớn về chùa Ấn Quang ở tạm, vì trước đó, chùa đã từng tiếp tế, giúp đỡ họ, nên về chùa chờ liên hệ với các ban ngành trực thuộc lúc làm cách mạng để bảo lãnh, thì ở đâu sẽ về đó. Còn những tù nhân không người bảo lãnh tiếp tục lang thang trộm cướp, đã bị bắt lại.

Ngày Rằm tháng Bảy, ngày chư Phật đại hoan hỷ sau ba tháng An cư của chư Tăng và thiện nam tín nữ vâng lời Phật dạy cúng dường, bố thí hồi hướng cho người quá vãng, nghĩa là Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng được thể hiện mạnh mẽ trong ngày này, giúp cho tất cả tội nhân ở địa ngục được ân xá. Vì họ thuộc thế giới vô hình nên chúng ta không thấy họ bằng mắt, nhưng có thể tiếp nhận bằng tâm. Họ chạy đến chùa tá túc rất đông và đã tác động vào những người còn tham lam, giận dữ. Thực tế cho thấy rõ nhất là những cô nấu ăn bình thường hiền lành, nhưng đến tháng bảy dễ nổi cơn giận dữ với những người ăn xin, chính vì bị sự tác động của những âm hồn dữ dằn. Thứ hai là những âm hồn cũng thường tác động vào các người cư sĩ làm công quả, khiến họ hay nổi chứng, gây chuyện rắc rối trong chùa, mà bình thường họ không phạm phải.

Theo truyền thuyết, ở Trung Hoa thời nhà Minh, có vị Thiền sư đắc đạo, khi nhập Định đã thấy từ sân chùa cho đến nhà bếp toàn là ăn mày; nhưng xả Thiền, mở mắt ra thì không thấy ai cả. Tất nhiên người tu dễ dàng trực nhận được sự hiện hữu của vong linh qua tâm thanh tịnh. Vị này mới bảo nhà bếp nấu thức ăn thật nhiều vì có khách đông. Các bà đã nấu nhiều, nhưng chẳng thấy khách, không biết có nên ngưng lại hay không, mới lên hỏi Thầy. Lúc đó, Thầy lại bận tụng kinh siêu độ cho vong linh. Các bà quỳ đợi, không dám thưa hỏi, nhưng quỳ lâu quá mà Thầy không ngừng tụng kinh, nên làm liều hỏi Thầy rằng có nấu nữa hay không. Thầy đưa dùi mõ lên, bà tưởng là Thầy bảo làm bánh cúng như vậy. Sau khi làm nhiều bánh cúng rồi, mới hỏi nữa thì Thầy lại đưa nắm tay, lần này bà tưởng Thầy bảo làm bánh cấp cũng có nếp và gói lá. Vì vậy, về sau, chùa cúng rằm tháng bảy thường cúng thí cô hồn hai loại bánh này.

Tuy nhiên, thức ăn thí cho cô hồn, có loài ăn được, có loài không ăn được. Thiền sư mới nghĩ cách làm thế nào cho tất cả cô hồn ăn được; vì đói thật thì cho ăn mới hết đói, còn người bị nghiệp mà đói nên không ăn được. Trên bước đường giáo hóa độ sanh của Đức Phật, có những ngạ quỷ đã thấy nước sông Hằng là lửa, không phải nước, mới xin Phật cứu chúng, cho chúng nước uống. Đức Phật liền chỉ vào sông Hằng, nhờ Phật lực nên các ngạ quỷ này tiêu trừ nghiệp lực mà uống được nước sông Hằng.

Vị Thiền sư ấy mới chọn những mật ngữ mà Đức Phật đã nói với loài ngạ quỷ và ghi lại thành nghi thức Mông sơn thí thực để người tu nương theo đó cúng thí cho cô hồn không bị đói khát. Các loài ngạ quỷ nương nhờ Phật lực thì muốn điều gì sẽ nhận được điều đó, mà chúng ta thường nghe đọc khi cúng thí là "Tùy nguyện giai bảo mãn”. Thí dụ cô hồn muốn ăn bánh bao liền có bánh bao cho họ, dù chỉ để bánh quy; đó là nhờ Phật lực gia bị, nhờ pháp lực hay kinh điển, mật ngữ và nhờ gia trì lực của chư Tăng khi cúng thí, tất cả những thực phẩm được biến hóa theo khởi tưởng của cô hồn. Vì vậy, khi chùa cúng cô hồn mỗi ngày, chỉ có gạo, muối, nước, nhưng nương theo Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng đưa vô thần chú của Phật, thì các ngạ quỷ muốn ăn thứ gì có thứ đó. Tôi nhớ thuở nhỏ, ở chùa Huê Nghiêm, tụng Mông sơn thí thực, nhưng ông đạo quên thay gạo, muối, nước. Khi tụng xong, có con quỷ đã vô thất khóc với Hòa thượng rằng không được ăn, bị đói quá. Hòa thượng liền bảo thay gạo, muối, nước và tụng kinh thì chúng đã ăn được.

Từ ngày Rằm tháng bảy đến ngày ba mươi tháng bảy, những người từ địa ngục được ân xá, tập trung về chùa rất đông. Vì thế, chùa phải cúng thí liên tục trong nửa tháng bảy, để những người có bảo lãnh rồi đi, còn những người không có bảo lãnh thì theo định nghiệp của họ mà tái sanh vào cảnh giới tương ưng. Ý thức như vậy, Tăng Ni và Phật tử cần nỗ lực tu hành, giữ tâm thanh tịnh bằng cách niệm Phật, tụng kinh, Thiền định, an trụ trong Phật pháp, các ngạ quỷ theo chúng ta, nghe kinh giải trừ được oan trái nghiệp chướng, nên được tái sanh về thế giới an lành. Nhớ ân đức ấy, họ sẽ trợ lực chúng ta trong việc hành đạo. Trái lại, nếu chúng ta khởi niệm không tốt, cộng với nghiệp ác của ngạ quỷ, thì nghiệp ác chúng ta tự động sẽ tăng gấp đôi, gấp ba, gấp nhiều lần theo nghiệp lực tác động xấu ác của các ngạ quỷ, khiến chúng ta thể hiện thành lời nói và việc làm xấu ác, làm tổn hại công đức của mình và cũng không cứu độ được chúng sanh.

Tóm lại, trong mùa Vu Lan, Tăng Ni và Phật tử tinh tấn tu hành, giữ tâm định tĩnh, cầu Phật lực gia hộ để gia trì lực của quý vị tăng trưởng, để cứu độ các loài chúng sanh trong ba đường ác và thực hiện được lời nguyện rằng chúng con và Pháp giới chúng sanh đồng về cõi Phật.