cool hit counter

Sách


Lời giới thiệu Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp
Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa Thiền định phóng quang và đàm kinh nhập diệu
Nguyện hương Đoạn phiền não – tâm bình an
Đảnh lễ Phật Giàu đạo đức, giàu tuệ giác
Lễ Phật quá khứ Giới đức pháp thân
Đảnh lễ Phật hiện tại An trụ tịch diệt tướng
Lễ Phật vị lai Ý nghĩa Phật Đản theo kinh Pháp Hoa
Đảnh lễ Bồ tát Phật giáo và dân tộc Việt Nam
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh hoằng thông liệt vị Tổ sư Hoằng pháp ở thế kỷ XXI
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh thủ hộ thiện thần Dòng chảy miên viễn của Thiền
Sám hối Đức Phật sống mãi với chúng ta
Phát nguyện Đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật
Ý nghĩa thọ trì 7 phẩm Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Chùa mục đồng ở Nam bộ
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ nhất Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định của mọi thành công
Ý nghĩa phẩm Pháp sư Phật giáo, con đường dẫn đến sự sống hòa bình, phát triển, an lạc, hạnh phúc cho nhân loại.
Ý nghĩa phẩm Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15 Sức sống Thiền của Trần Thái Tông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 Sống trong tỉnh giác
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17 Quan niệm về kinh tế trong Phật giáo
Ý nghĩa phẩm Phổ Môn thứ 25 Những nét đẹp của Phật giáo Lý Trần
Ý nghĩa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28 Nghệ thuật trong Phật giáo
Hồi hướng Ý nghĩa nhà lửa tam giới trong kinh pháp hoa
Ý nghĩa tụng thủ hộ thần chú Ý nghĩa lễ tắm Phật
Ý Nghĩa Quy Y Tam Bảo Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm
Năm Giới Của Người Phật Tử Tại Gia Ý nghĩa Vu Lan  
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Pháp Hoa Và Tụng Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Sám Hối Nhứt Phật thừa
Ý Nghĩa Tụng Kinh Dược Sư Và Niệm Phật Dược Sư Quán tứ niệm xứ
Ý Nghĩa Niệm Phật Di Đà Tứ chánh cần
Lời nói đầu Tứ như ý túc
I. Lý do chọn 21 ngày tu gia hạnh Phổ Hiền
Ngũ căn ngũ lực
II. Ý nghĩa của sự khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày thành đạo của Phật Di Đà là ngày 17 tháng 11 và kết thúc vào ngày thành đạo của Phật Thích Ca là ngày mùng 8 tháng 12 Thất Bồ đề phần
III. Kết luận Thúc liễm thân tâm
Lời tựa Tùy duyên  
Tổng luận Thanh tịnh hóa thân tâm
Pháp hội 1 : Tam Tụ Luật Nghi Nhứt thiết Chúng sanh Hỷ kiến Bồ Tát
Pháp hội 2: Vô Biên Trang Nghiêm Đà la ni Chánh kiến
Pháp hội 3 : Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Tam quy và pháp niệm Phật
Pháp hội 5: Vô Lượng Thọ Như Lai Hài hòa để cùng tồn tại và phát triển
Pháp hội 6: Bất Động Như Lai Hạnh khiêm cung và bát kỉnh pháp
Pháp hội 7: Mặc Giáp Trang Nghiêm An lạc hạnh  
Pháp hội 8: Pháp Giới Thể Tánh Vô Sai Biệt Những kinh nghiệm giảng dạy
Pháp hội 9 : Đại Thừa Thập Pháp Kinh nghiệm giảng dạy Kinh Hoa Nghiêm
Pháp hội 10: Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn Một số đề tài gợi ý cho những bài thuyết giảng của Tăng Ni sinh Khóa Giảng sư
Pháp hội 11: Xuất Hiện Quang Minh & Pháp hội 12 : Bồ Tát Tạng Nổ lực tự học để kế thừa và phát huy được tinh ba của Thầy, Tổ.
Pháp hội 14: Phật Thuyết Nhập Thai Tạng Một số phương hướng cho ngành Hoằng pháp
Pháp hội 15: Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký Vài suy nghĩ về Hoằng pháp trong thời hiện đại
Pháp hội 16: Bồ Tát Kiến Thiệt Hoằng pháp trong thế kỷ 21
Pháp hội 17: Phú Lâu Na Nhà Hoằng pháp và giáo dục tiêu biểu trong thế kỷ XX
Pháp hội 18: Hộ Quốc Bồ Tát Hoằng pháp ở thế kỷ 21(thuyết giảng ngày 20 – 24 tháng 6 năm 2007)
Pháp hội 19: Úc Già Trưởng Giả Điểm chung nhứt của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền
Pháp hội 20: Vô Tận Phục Tạng Mô hình Hoằng pháp tại nước nhà trong thời đại ngày nay
Pháp hội 21: Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La Tư cách của vị trụ trì
Pháp hội 23: Ma Ha Ca Diếp Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại
Pháp hội 24: Ưu Ba Ly Ý nghĩa trụ trì
Pháp hội 25: Phát Thắng Chí Nguyện Trụ trì, người giữ chùa
Pháp hội 26: Thiện Tý Bồ Tát Kinh nghiệm làm trụ trì
Pháp hội 27 : Thiện Thuận Bồ Tát Tam pháp ấn
Pháp hội 28: Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả Nét đẹp của Phật giáo Nam Tông Khơ Me
Pháp hội 29: Ưu Đà Diên Vương Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện đại
Pháp hội 30: Diệu Huệ Đồng Nữ Điều thiết yếu của người tu : Sức khỏe tốt, trí sáng suốt và trái tim nhân ái
Pháp hội 31: Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di An trụ pháp tịch diệt
Pháp hội 32: Vô Úy Đức Bồ Tát Hoằng pháp và trụ trì
1. Lời tựa Đạo đức hành chánh
2. Khái niệm về kinh Duy Ma Ba điểm quan trọng đối với tân Tỳ kheo
3. Quán chúng sanh theo kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (Thuyết giảng tại chùa Phổ Quang)
4. Bất Nhị pháp môn trong kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (thuyết giảng tại chùa An Phước)
5. Ý nghĩa phẩm Phật Hương Tích trong kinh Duy Ma Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ : Học, tu và làm việc
6. Quan niệm về đức Phật trong kinh Hoa Nghiêm Truyền trao giới pháp và lãnh thọ giới pháp đúng như pháp.
7. Ý nghĩa lễ Phật theo kinh Hoa Nghiêm Giới tánh Tỳ kheo
8. Ý nghĩa phương tiện theo kinh Pháp Hoa Lời tựa       
9. Ý nghĩa thí dụ ba xe và nhà lửa trong kinh Pháp Hoa Tiểu sử
10. Ý nghĩa hóa thành dụ trong kinh Pháp Hoa Giới tánh tỳ kheo  
11. Pháp sư của kinh Pháp Hoa Hoằng pháp và trụ trì  
12. Ý nghĩa Long Nữ dâng châu trong kinh Pháp Hoa An lành và tĩnh giác
13. An Lạc Hạnh theo kinh Pháp Hoa Nghĩ về sự thành đạo của Đức Phật
14. Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất Mùa Xuân đọc kinh Hoa Nghiêm
15. Cảm niệm về Bồ Tát Phổ Hiền Sự lớn mạnh của Phật giáo song hành với thành phố phát triển 300 năm
Lời tựa Khai Thị 2009 Những quan niệm về Đức Phật
Xuân trong Phật đạo Thế giới tâm thức và thế giới hiện thực
Phước Lộc Thọ Pháp phương tiện
Hạnh xuất gia Tụng kinh, lạy Phật, sám hối và thiền quán
Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo Đức hạnh của vị Tỳ kheo
Hạnh nguyện Quan Âm Hành trình tâm linh : nẻo về vĩnh hằng của người tu
Tàm Quý Ý nghĩa Phật Đản PL. 2542 - 1998
Họa phước vô môn Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật
An cư kiết hạ Nương nhờ đức từ của Tam bảo
Phật giáo và vấn đề tác hại của thuốc lá Ý nghĩa Kim Cang thừa trong Phật giáo
Phật giáo và bảo vệ môi trường Cảm nghĩ về Đức Phật A Di Đà
Phật giáo và thiếu nhi Ý nghĩa Vu Lan 1998
Nói không với ma túy Bồ Tát Đạo
Đạo đức ở tại gia Mùa An cư : sáu thời tịnh niệm
Mỉm cười trong đau khổ Tinh thần Phật giáo Đại thừa
Phật giáo và dân số Phật giáo hướng về tương lai
Kính lão đắc thọ Ý nghĩa lễ Vu Lan PL 2542 - 1998 (thuyết giảng tại trường hạ chùa Hội Khánh)
Hành trì giới luật Chơn thân – huyễn thân
Ý nghĩa Vu lan Tư cách của vị trụ trì  
Hạnh nguyện Địa Tạng Bồ tát Tâm từ bi của Đức Phật
Nối vòng tay lớn 9 tuần tu học đồng đăng Cửu Phẩm Liên Hoa
Niềm vui của tuổi già Những việc cần làm trong 3 tháng An Cư
Kiến thức và trí tuệ Những việc cần làm trong 3 tháng an cư Suy nghĩ về linh hồn trong Phật giáo
Tình người Hoằng pháp   
Hạnh nguyện Bồ tát hay Bồ tát đạo Tìm hiểu ngôn ngữ của Đức Phật
Tha lực và tự lực Mùa Xuân trên đất Bắc
Hạnh nguyện Dược Sư Lời tựa        
Ơn Thầy Ý nghĩa cầu an
Vượt qua mặc cảm Hạnh nguyện Phổ Hiền
Lời tựa Lược giải Kinh Hoa Nghiêm Bản chất Niết bàn
Nghề nghiệp chân chánh Niềm tin chân chánh
CHƯƠNG I – LỊCH SỬ KINH HOA NGHIÊM
        I - Khái niệm về lịch sử kinh Hoa Nghiêm
Hóa giải hận thù
    II - Lịch sử truyền thừa và phát triển kinh Hoa Nghiêm Phật giáo và hòa bình thế giới
  III - Nội dung kinh Hoa Nghiêm Quốc thái dân an
CHƯƠNG II - Ý NGHĨA ĐỀ KINH HOA NGHIÊM Giải tỏa oan ức
CHƯƠNG III – QUAN NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT THEO KINH HOA NGHIÊM
       I - Quan niệm về Đức Phật trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
Vững trước khen chê
   II - Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Ý nghĩa sức mạnh hòa hợp
  III - Quan niệm về Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm Âm siêu dương thạnh
CHƯƠNG IV – BỒ TÁT ĐẠO
      I - Bồ tát Thập Tín
Thực tập nhẫn nhục
  II - Bồ tát Thập Trụ Thành công và thất bại
 III - Bồ tát Thập Hạnh Chiến thắng chính mình
IV - Bồ tát Thập Hồi hướng Thân cận người trí
 V - Bồ tát Thập Địa hay Thập Thánh Sống hạnh viễn ly
VI - Bồ tát Thập Định Ý nghĩa bờ bên kia
VII - Bồ tát Thập Thông Hương thơm đức hạnh
VIII - Bồ tát Thập Nhẫn Tòa án lương tâm
CHƯƠNG V – PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI Củng cố niềm tin
   1- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Đức Vân Tỳ kheo Giá trị cuộc sống
   2- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Vân Tỳ kheo Giáo dục con cái
   3- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Trụ Tỳ kheo Vượt qua tật bệnh
   4- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Di Già Đền ơn đáp nghĩa
   5- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Giải Thoát Thân phận con người
   6- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Tràng Tỳ kheo Sức mạnh của ý chí
   7- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hưu Xã Ưu bà di Quan niệm về Tịnh Độ
   8- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa Cư trần lạc đạo
   9- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thắng Nhiệt Bà la môn Làm mới cuộc sống
   10- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Từ Hạnh đồng nữ Lời tựa        
   11- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Kiến Tỳ kheo Ăn chay lợi cho sức khỏe và tâm linh
   12- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tự Tại Chủ đồng tử Chuyển hóa sanh thân thành pháp thân
   13- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Cụ Túc Ưu bà di Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam
   14- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Minh Trí Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị Tổ sư người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam
   15- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Pháp Bửu Kế Mật tông tại Việt Nam
   16- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Phổ Nhãn Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng
   17- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Vô Yểm Túc Phật giáo đi vào cuộc sống
   18- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Đại Quang Sự hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ
   19- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bất Động Ưu bà di Sức mạnh hòa hợp
   20- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Biến Hành ngoại đạo Tác động hỗ tương giữa thân và tâm
   21- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Ưu Bát La Hoa Tận dụng phương tiện hiện đại trong việc hoằng pháp
   22- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thuyền trưởng Bà Thi La Tứ chánh cần  
23.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Vô Thượng Thắng hay Di Lặc Bồ Tát Tu thiền tại Việt Nam
24- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân Vai trò của ni giới Việt Nam trong xã hội hiện đại
25- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với bà Tu Mật Đa nữ Ý nghĩa hóa thân Phật thuyết pháp
26- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Tỳ Sắc Chi La Ý nghĩa kệ dâng y
28.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Chánh Thu Ý nghĩa tập trung phân thân
27.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Quán Tự Tại Ý nghĩa tịnh độ
29- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thần Đại Thiên Cầu nguyện mùa vu lan
30- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Địa thần An Trụ Cư sĩ Phật giáo
31- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với chủ Dạ thần Bà San Bà Diễn Để Đạo đức Phật giáo trong tương lai
32- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Dạ thần Khai Phu Nhứt Thiết Thọ Hoa và Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Nhứt Thiết Chúng Sanh Điểm chung nhứt của Phật giáo nam truyền và bắc truyền  
33- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thọ thần Diệu Đức Viên Mãn Giới luật của người Phật tử tại gia
34- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ tát Di Lặc Bồ đề quyến thuộc
35- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Mối tương quan với thế giới siêu hình
36- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Phổ Hiền Bồ tát Chân tinh thần Phật giáo Bắc tông
CHƯƠNG VI – PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI – PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN Trồng căn lành và sám hối
16. Niết bàn theo kinh Pháp Hoa Lợi ích của an cư kiết hạ
17. Giáo dục của Phật Giáo Đại Thừa Tứ niệm xứ, tứ chánh cần
18. Những điều kiện tu Bồ Tát đạo Mùa xuân vĩnh hằng
19. Ngôi chùa tâm linh Kiến trúc Phật giáo
20. Hành trình về chân linh Kiến trúc Phật giáo  
21. Tu tâm Niềm tin của người phật tử Việt Nam
22. Canh tâm điền Sự an lạc trong gia đình
23. Đường về Yên Tử Báo đáp ơn nghĩa sinh thành
24. Nếp sống của một vị danh tăng Quan niệm về tịnh độ của kinh Di Đà
25. Ý nghĩa Phật Đản Pl.2538 (Tứ Nhiếp Pháp) Tam pháp ấn  
26. Ý nghĩa lễ đức Phật thành đạo Tinh thần từ bi hỷ xả, con đường tốt nhất đi đến hòa bình, phát triển và an lạc cho nhân loại
27. Phật giáo Việt Nam đang hướng về phía trước trên tinh thần vô ngã vị tha Từ bi và hòa bình trong Phật ngọc
28. Xuân hoan hỷ Tình yêu và giới tính theo tinh thần Pháp Hoa
29. Xuân trong cửa thiền Xây chùa, tô tượng, đúc chuông
30. Xuân của hành giả Pháp Hoa Xuân trong cửa đạo
Lời tựa lược giải kinh Pháp Hoa Bồ Tát Thích Quảng Đức, một bậc danh tăng siêu việt của thế kỷ 20
Lịch sử kinh Pháp Hoa Cái chết đối với người phật tử
Kinh đại thừa vô lượng nghĩa Giáo dục ở tự viện
Phẩm 1: Tựa Giới định tuệ
Phẩm 2: Phương tiện Khắc phục nghiệp, giữ chánh niệm, trụ chánh định
Phẩm 3: Thí dụ Khởi nghiệp mưu sinh theo Phật giáo
Phẩm 4: Tín giải Lễ Phật theo bổn môn Pháp Hoa
Phẩm 5: Dược thảo dụ Ngôi chùa tâm linh
Phẩm 6: Thọ ký Nhập không môn, vào vô lượng nghĩa định
Phẩm 7: Hóa thành dụ Nữ giới Phật giáo và sự kết nối toàn cầu
Phẩm 8,9: Ngũ bá đệ tử thọ ký, thọ học vô học nhơn ký Pháp phục của tăng ni Việt Nam
Phẩm 10: Pháp sư Phật giáo và môi trường sinh thái  
Phẩm 11: Hiện bảo tháp Phật giáo và phù đổng Thiên Vương
Phẩm 12: Đề Bà Đạt Đa Thâm nhập không môn
Phẩm 13: Trì Trụ định, hành trang tối thiểu của người tu
Phẩm 14: An lạc hạnh Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng
Phẩm 15: Tùng Địa Dũng Xuất Tu vô lượng nghĩa kinh, sống trong vô lượng nghĩa định, thâm nhập hội Pháp Hoa.
Phẩm 16: Như Lai thọ lượng Vô lượng nghĩa kinh và vô lượng nghĩa xứ tam muội
Phẩm 17: Phân biệt công đức Xây dựng đạo đức của người tu
Phẩm 18: Tùy hỷ công đức Yếu nghĩa của phẩm pháp sư, kinh Pháp Hoa
Phẩm 19: Pháp sư công đức Hướng đi của Phật giáo Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
Phẩm 20: Thường bất khinh Bồ Tát Những điều tâm đắc về hoằng pháp ( thuyết giảng tại Bình Định)
Phẩm 21: Như Lai thần lực Ý nghĩa Phật đản PL. 2550-2006
Phẩm 22: Đà La Ni Mỹ thuật Phật giáo
Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát bổn sự Vai trò của người phụ nữa trong kinh Hoa Nghiêm
Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát Những tư tưởng hòa bình, hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam
Phẩm 25: Phổ môn Đức Phật hằng hữu trong mỗi chúng ta
Phẩm 26: Diệu Trang nghiêm vương bổn sự Vai trò của Tăng già trong thời hiện đại
Phẩm 27: Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát Phật giáo trong nền toàn cầu hóa
Phẩm 28: Chúc lụy Giáo dục Phật giáo
Preface Một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa
Lời tựa lược giải kinh Duy Ma Ý nghĩa cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa
Tổng luận lược giải kinh Duy Ma Tịnh độ
Phẩm 1: Phật quốc Hóa thành dụ
Phẩm 2: Phương tiện   Phật giáo Nam tông vá Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Phẩm 3: Thanh văn Phật giáo trong lòng nhân dân miền Nam
Phẩm 4: Bồ Tát Vị trí của Pháp sư Huyền Trang trong Phật giáo
Phẩm 5: Văn Thù Sư Lợi thăm bệnh Xuân về trên cõi Tịnh
Phẩm 6: Bất tư nghì Vãng sanh cực lạc
Phẩm 7: Quán chúng sanh Cầu siêu bạt độ
Phẩm 8: Phật đạo Công đức của kinh Pháp Hoa
Phẩm 9: Nhập bất nhị pháp môn Nghệ thuật trong Phật giáo  
Phẩm 10: Phật Hương Tích Hoằng pháp ở thế kỷ 21
Phẩm 11: Bồ Tát đạo An cư dưỡng tánh - Thị phi phủi sạch
Phẩm 12: Kiến Phật A Súc Giữ giới và quán chiếu với tứ Thánh đế
Phẩm 13: Pháp cúng dường Gắn tâm với Đức Phật, với giáo pháp và Hiền thánh tăng
Phẩm 14: Chúc lụy Bốn pháp giải thoát
Lời tựa           Gạn sạch phiền não, nghiệp chướng, trần lao
Lịch sử Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Sám hối nghiệp chướng
Ý nghĩa Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Pháp Hoa chân kinh
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ I Ý nghĩa 12 đại nguyện của Đức Phật Dược Sư
Ý nghĩa phương tiện và chân thật Vũ trụ quan theo Phật giáo
Ý nghĩa Thí Dụ Sống an lạc, chết siêu thoát
Ý nghĩa phẩm Pháp Sư thứ 10 Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng
Ý nghĩa phẩm An Lạc Hạnh thứ 14 Quan niệm về đức Phật theo kinh Pháp Hoa  
Ý nghĩa phẩm Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ mười lăm Pháp Phật và an toàn giao thông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ mười sáu Đức Phật của chúng ta
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, phẩm Pháp Sư công đức thứ 19 Đạo đức Phật giáo
Bồ Tát hạnh: Dược Vương Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Diệu Trang Nghiêm Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Bồ tát hạnh theo kinh Pháp Hoa
Lời tựa           Mùa xuân của hành giả phát tâm bồ đề
Pháp Hội 33 : Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện Những điều tâm đắc về kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 34 : Công Đức Bửu Hoa Phu Bồ Tát Ý nghĩa Phật Đản PL 2543 - 1999
Pháp Hội 35 : Thiện Đức Thiên Tử Kinh nghiệm hoằng pháp  
Pháp Hội 36 : Thiện Trụ Ý Thiên Tử Tìm hiểu xã hội học Phật giáo
Pháp Hội 37 : A Xà Thế Vương Tử Theo dấu người xưa
Pháp hội 38: Đại Thừa Phương Tiện Những điều cần làm trong mùa An cư
Pháp Hội 39 : Hiền Hộ Trưởng Giả Bốn bậc trưởng lão được kính trọng
Pháp Hội 40 : Tịnh Tín Đồng Nữ Trở về viên minh tánh
Pháp Hội 41 : Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp Điều kiện để có kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 42 : Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại  
Pháp Hội 43 : Phổ Minh Bồ Tát Ý nghĩa an cư kiết hạ
Pháp Hội 44 : Bửu Lương Tụ Bồ tát quả môn
Pháp Hội 45 : Vô Tận Huệ Bồ Tát Mùa an cư - tiến tu tam vô lậu học
Pháp Hội 46 : Văn Thù Thuyết Bát Nhã Công việc của Tỳ kheo chân chánh
Pháp Hội 47 : Bửu Kế Bồ Tát Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ
Pháp Hội 48 : Thắng Man Phu Nhân Bất biến, tùy duyên
Pháp Hội 49 : Quảng Bác Tiên Nhân Bàn về nghi lễ
Pháp Hội 50 : Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm Tu hành đúng như pháp là tối thượng cúng dường
Pháp Hội 52 : Bửu Nữ Chọn pháp tu an lạc
Pháp Hội 53 : Bất Thuấn Bồ Tát Phát huy chân linh
Pháp Hội 54 : Hải Huệ Bồ Tát Nghĩ về Phật giáo Nhật Bản
Pháp Hội 55 : Hư Không Tạng Bồ Tát Ý nghĩa phẩm Tín giải trong kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 56 : Vô Ngôn Bồ Tát Bồ đề tâm  
Pháp Hội 57 : Bất Khả Thuyết Bồ Tát Đức Phật trong nền văn minh Ấn Độ
Pháp Hội 58 : Bửu Tràng Bồ Tát Một chuyến đi về miền đất Phật
Pháp Hội 59 : Hư Không Mục Giác Ngộ với thiên niên kỷ 3
Pháp Hội 60 : Nhựt Mật Bồ Tát Suy nghĩ về số mệnh trong Phật giáo
Pháp Hội 61 : Vô Tận Ý Bồ Tát Thiền trong đời thường
Lời tựa  Hướng về Thánh tích của Phật giáo
Tiểu sử   Lời tựa           
Thọ giới, tu hành, nỗ lực thâm nhập dòng thác trí tuệ Tam vô lậu học  
Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội Quý nhứt trên đời
Thức ăn tinh thần của người tu Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng  
Thực tu, cảm hóa được chư thiên và quần chúng Sinh hoạt trong mùa An cư  
Trau dồi giới đức, siêng tu tam vô lậu học Suy nghĩ về ý mã tâm viên  
Lời tựa    An lạc hạnh   
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2539 -1995 Tam vô lậu học: Giới, Định, Tuệ  
Tam vô lậu học An cư kiết hạ   
Quý nhất trên đời Cơm Hương Tích  
Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng Bồ tát đạo   
Ý nghĩa Vu lan PL. 2539 - 1995 Mùa An cư sáu thời tịnh niệm  
Nhìn về thế kỷ 21 Tinh thần Phật giáo Đại thừa  
Xuân Pháp Hoa Nhân duyên - căn lành  
Hướng về tương lai Chơn thân - huyễn thân  
Ý nghĩa Niết bàn Chín tuần tu học, đồng đăng cửu phẩm Liên hoa  
Internet, những nỗi lo mới Những việc cần làm trong ba tháng An cư  
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2540 -1996 Hành trang của người xuất gia: căn lành và Phật hộ niệm  
Cảm nghĩ về hoài bão của Đức Phật Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật  
Phật giáo và thực tiễn cuộc sống Trở về viên minh tánh  
Sinh hoạt trong mùa An cư Theo dấu người xưa  
Suy nghĩ về ý mã tâm viên Những điều cần làm trong mùa An cư  
Suy nghĩ về hoằng pháp Tu tâm  
An lạc hạnh Bốn bậc trưởng lão được kính trọng  
Tam vô lậu học : Giới-Định-Tuệ Bồ tát quả môn   
An cư kiết hạ   Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ  
Cơm Hương Tích Mùa An cư - tiến tu Tam vô lậu học  
Ý nghĩa lễ Vu lan Bất biến, tùy duyên  
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2540 - 1996 Công việc của Tỳ kheo chân chánh  
Ơn nghĩa đồng bào Phát huy chân linh  
Hướng về những người con tương lai của đất nước Bàn về nghi lễ  
Hãy đến với Chương trình "Hiểu và Thương" Sáu pháp hòa kỉnh trong mùa An cư  
Lòng từ của Bồ tát Quan Âm Đại thừa Phật giáo  
Bồ đề tâm Tu trên ngũ uẩn thân  
Suy tư của người Phật tử về những vấn đề lớn Trụ pháp và lực gia bị của Phổ Hiền  
Đầu tư - vấn đề nan giải Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ: học, tu và làm việc  
Những điều tâm đắc trên đường về Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Lấy từ bi xóa hận thù Hài hòa, con đường an lành  
Thuận lợi và nguy cơ Nếp sống của người tu  
Lá thư Tổng Biên tập Con đường giải thoát  
Lá thư Xuân (trích Nguyệt san GN số 10) Kinh Đại Bảo Tích pháp hội 59: Hư không mục  
Ý Xuân Ý nghĩa sám Pháp Hoa  
Lá thư Xuân (trích Báo GN số 41) Phật giáo Nam tông  
Những suy nghĩ về Hội nghị kỳ 5 khóa III Trung ương Giáo hội Đạo lực
Năm mới với niềm hy vọng mới Năm đặc điểm của người tu
Trách nhiệm và chức vụ Ý nghĩa Tam vô lậu học
Thành quả của Đại hội Phật giáo TP. HCM kỳ V Pháp tu trong ba tháng An cư
Sự đi lên của Phật giáo miền Trung Hướng đi giải thoát
Hướng phát triển tốt đẹp trong mùa An cư Hạnh an lạc
Hướng về ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7 Tỉnh giác là chơn giác
Lễ Vu lan - ngày đền ơn đáp nghĩa của Đông phương Ý nghĩa xuất gia  
Thương tiếc danh tăng An cư và hạnh đầu đà
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2541 - 1997 Cảm niệm Phật A Di Đà
Mừng 52 năm, một chặng đường phát triển của đạo pháp Cùng giúp nhau hoàn thiện tư cách người xuất gia
Vấn đề trẻ hóa lãnh đạo Hành đạo tùy duyên
Phật giáo Việt Nam, một tương lai tươi sáng Nhu đạo và Tịnh độ
Kết quả Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV Những kinh nghiệm tu hành
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VI (1994) Sự hộ niệm của Phật, Bồ tát, Thiên Long Bát Bộ
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VII (1999) Thể nghiệm pháp Phật
Cảm niệm cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa Tịnh độ   
Cảm niệm ân sư Trụ pháp Vô sanh
Đức Pháp chủ là biểu tượng đoàn kết các hệ phái Phật giáo Tu hành là chuyển hóa hữu lậu ngũ uẩn thành vô lậu ngũ uẩn
Cảm niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ Vai trò của nữ tu Phật giáo trong thời Bắc thuộc
Cảm niệm về Hòa thượng Thích Thiện Hào Y báo và chánh báo
Duyên kỳ ngộ Ý nghĩa Tịnh độ   
Hồi tưởng về đức hạnh của Hòa thượng Thích Tâm Thông Tất cả pháp môn tu đều là Phật pháp
Sáng niềm tin Ngộ tánh khởi tu
Một hình ảnh khó quên trong cuộc đời hoằng pháp của tôi Theo dấu chân Phật   
Cảm niệm ân sư (Kỷ niệm lễ chung thất Hòa thượng Thích Trí Đức) Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức
Những kỷ niệm với Hòa thượng Thích Thiện Châu Những khởi sắc của Phật giáo tỉnh Lâm Đồng
Nghĩ về Hòa thượng Thích Thanh Kiểm Trau dồi giới đức, phát triển tuệ lực
Tưởng niệm Ni trưởng Huê Lâm Tu đúng pháp
Ni sư Huỳnh Liên Tâm đức và tuệ đức
Nghĩ về Ni trưởng Như Hòa nhân ngày Tiểu tường An cư là tịnh hóa thân tâm
Lời nói đầu   An trú bây giờ và ở đây
Hoằng pháp Tăng trưởng đạo lực
Những điều tâm đắc về hoằng pháp Đi theo dấu chân Phật và các bậc tiền nhân
Kinh nghiệm hoằng pháp Tâm là Diệu pháp, thân là Liên hoa
Hoằng pháp theo nhân duyên Tu là chuyển nghiệp
Ý nghĩa thuyết pháp Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học.
Giáo dục và hoằng pháp Nương lực Phổ Hiền Bồ tát để tiến tu
Lời tựa      Sống vô ngã vị tha
Ý nghĩa kinh hành niệm Phật Trí tuệ và đạo đức là sức mạnh của người tu
Ý nghĩa tĩnh tâm Tinh thần tùy duyên và bất biến
Lục hòa Làm cho đất nước cũng là làm cho Phật giáo
Sáu pháp ba la mật Bình thường tâm thị đạo và ngôi chùa tâm linh
Tịnh độ theo kinh Duy Ma Học hiểu giáo lý đúng đắn và ứng dụng có hiệu quả vào cuộc sống tu hành
Tam minh Phát huy đạo đức và trí tuệ làm đẹp cho đạo tốt cho đời
Hồi hướng theo kinh hoa nghiêm Ngủ trong tỉnh thức
Xử thế của đạo Phật Sự gắn bó giữa Tăng Ni và Phật tử là điều cần thiết
Tam bảo Nhận ra con người thực của mình để tiến tu
Nhập thế của đạo Phật Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định mọi thành công
Tứ hoằng thệ nguyện Ý nghĩa hồng danh sám hối
Xuân Di Lặc Đoạn phiền não - tâm bình an  
Báo hiếu theo kinh vu lan Giàu đạo đức, giàu tuệ giác  
Phật giáo và pháp luật Giới đức Pháp thân  
Khái niệm về giới luật của người phật tử tại gia An trụ tịch diệt tướng  
Ý nghĩa xuất gia Lắng tâm, tịnh niệm  
Ngọn đuốc xuân Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh  
Ngũ uẩn Ngũ ấm ma trong chúng ta  
Hòa thượng Thích Quảng Đức, một con người bất tử Phát huy đạo lực  
Mông sơn thí thực Sống trong tỉnh giác  
Tính cách pháp lý của giáo hội Tấm gương sáng của Tổ Huệ Đăng  
Những thành quả của giáo hội Phật giáo Việt Nam Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp  
Ý nghĩa đại trai đàn Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội  
Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa Thức ăn tinh thần của người tu  
Lắng tâm, tịnh niệm Thực tu, cảm hóa được chư Thiên và quần chúng  
Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh. Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm  
Ngũ ấm ma trong chúng ta Trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Phát huy đạo lực Tu bồi cội phúc  
Phước đức và trí tuệ Tùy duyên      
Tấm gương sáng của tổ Huệ Đăng Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa  
Tâm tạo ra tất cả Ý nghĩa Nhà lửa tam giới trong kinh Pháp Hoa  
Tu bồi cội phúc Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa  
Tùy duyên  

 

Sự hộ niệm của Phật, Bồ tát, Thiên Long Bát Bộ

Các anh em ở trường hạ Phổ Quang theo học tại Phật học viện hoặc Cao đẳng Phật học tương đối đông, nên xin phép tôi tổ chức An cư tại chỗ năm nay. Tôi quyết định tổ chức An cư thu hẹp, vì các anh em còn đi học nên sinh hoạt không giống các trường hạ khác. Buổi sáng bận đi học, chiều tối nên tranh thủ tu hành là việc chính. Theo kinh nghiệm riêng tôi, nhiều Thầy đồng học thông minh, học giỏi, nhưng chỉ nghĩ đến học, thiếu tu, nên không làm việc đạo được, hoặc mất định hướng, phải hoàn tục, rồi thọ khổ. Trái lại, người không học giỏi, nhưng siêng năng tu, tìm được lẽ sống trong đạo, ít nhiều cũng làm được Phật sự và xa hơn, chứng được giải thoát, bước vào con đường Hiền Thánh. Vì vậy, tôi nhắc nhở quý Thầy tu là chính và học là phụ. Tôi làm được việc cũng nhờ tu nhiều. Khi còn là học Tăng, tôi siêng năng đọc tụng kinh Đại thừa và y pháp Đại thừa sám hối, nên tội căn nhẹ dần và nghiệp giảm bớt, nhờ đó, những đòi hỏi thế gian không có. Tôi tiến tu trên đường đạo một khoảng thời gian dài và lấy kinh nghiệm đã trải qua mà nhắc nhở anh em nên nỗ lực tu.

Và về phần tu hành, theo kinh nghiệm của tôi là nương vào những bộ kinh Đại thừa như Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, lấy đó làm nền tảng nghiên cứu và tu học. Nhờ học những bộ kinh này đã giúp tôi hiểu Phật pháp sâu sắc hơn. Lúc còn ngồi ghế nhà trường, tôi học không thua ai, tôi tin là nhờ mình đã nghiên cứu kinh điển Đại thừa, nên giúp tôi đốt giai đoạn ở trường Đại học Nhật Bản. Trong lớp Cao học có mười lăm nghiên cứu sinh, trong đó mười ba người là Nhật, một Thầy là người Trung Hoa và tôi. Nhưng cuối cùng chỉ có tôi và một người Nhật được trình luận án, còn mười ba người kia bị lưu niên. Bản thân tôi cũng ngạc nhiên với thành quả này, vì thực tế tôi là người Việt không thể giỏi tiếng Nhật bằng người Nhật. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng nhờ Phật hộ niệm mà tôi đạt được kết quả ngoài suy nghĩ bình thường. Thật vậy, theo tinh thần Đại thừa, trên bước đường tu, được chư Phật hộ niệm là việc vô cùng quan trọng. Người tu không được Phật hộ niệm, dù học giỏi cũng không làm được việc và quan trọng hơn nữa là được Phật hộ niệm thì việc khó tưởng không làm nổi, nhưng vẫn thành công dễ dàng. Chúng ta đọc kinh điển Đại thừa, tìm xem nhân hạnh của chư Phật, Bồ tát tu như thế nào và chúng ta cũng có tâm niệm và việc làm giống với các Ngài thì mới nhận được sự hộ niệm gia trì của các Ngài, mới làm được những việc mà bình thường không làm được.

Trong kinh điển Đại thừa thường nói về hạnh Bồ tát, riêng hai bộ kinh nói về sự hộ niệm của Phật là kinh Pháp Hoa và kinh Di Đà. Tên của kinh Pháp Hoa là Phật sở hộ niệm kinh. Kinh Pháp Hoa được coi là mẹ sanh ra tất cả Phật. Phật từ kinh Pháp Hoa sanh ra và Phật hộ trì kinh Pháp Hoa. Tôi dành nhiều thì giờ nghiên cứu và viết luận án về kinh Pháp Hoa, nhất là việc ứng dụng nhiều hơn vào cuộc sống tu hành của mình. Sau đó, tôi thành lập đạo tràng Pháp Hoa và đã biên soạn Bổn môn Pháp Hoa, rút ngắn bộ kinh Pháp Hoa dài 28 phẩm, chỉ sử dụng những phần tinh ba yếu nghĩa của bộ kinh để thọ trì, đọc tụng mỗi ngày cho đến sống với yếu chỉ Pháp Hoa trong từng niệm tâm. Và đến mùa hạ năm nay, hội đủ thuận duyên, tôi rút ngắn bộ kinh thứ hai là kinh Di Đà và tôi phát nguyện truyền bá trong các trường hạ để quý Thầy có nhân duyên cùng tu. Kinh Di Đà cũng được gọi là Phật sở hộ niệm kinh. Đức Phật Thích Ca cho biết chẳng những Ngài tuyên dương công đức của kinh Di Đà và Phật Di Đà mà sáu phương khác và hằng hà sa số Phật cũng hộ niệm kinh này.

Phật Thích Ca sanh ở Ta bà bùn nhơ tội lỗi, nhưng Ngài đã thành tựu Vô thượng đẳng giác, ví như hoa sen mọc trong bùn. Ngài đã vì Bồ tát lớn mà nói chân lý và chúng sanh không tiếp thu được pháp tối thượng, nên phải khai phương tiện dìu dắt chúng sanh ra khỏi Nhà lửa tam giới. Chư Phật tán thán Phật Thích Ca như viên ma ni có công dụng lắng đọng bùn nhơ, Ngài có khả năng làm tan biến bùn nhơ phiền não của chúng sanh. Kinh Pháp Hoa tiêu biểu cho Phật Thích Ca ở trần thế. Diệu Pháp ví như ngọc ma ni, Liên Hoa là hoa sen. Người Tây Tạng rút ngắn Diệu Pháp Liên Hoa thành thần chú Án ma ni bát di hồng.

Kinh Di Đà cũng được gọi là Phật sở hộ niệm kinh đồng với tên kinh Pháp Hoa. Gọi là kinh Di Đà, vì muốn chỉ cho Phật Di Đà là giáo chủ Tây phương, nên lấy tên Phật đặt cho kinh. Năm nay tôi dịch kinh Di Đà, vì thứ nhất là mục tiêu của người tu hành đều muốn đạt quả vị Phật, đến Niết bàn, không ai muốn khác. Nhưng tôi thấy người thực chứng Niết bàn ở ngay trần gian này rất hiếm. Có thể nói bước đường tu của chúng ta tự lực phấn đấu đi lên rất khó. Và hướng thứ hai là Phật đưa ra nhiều phương tiện cho những người không có khả năng tự lực, không thể thâm nhập Thiền định. Như vậy, họ phải nhờ tha lực, nói cách khác là phải nhờ chư Phật hộ niệm. Phật không hộ niệm, ta không làm được. Các anh em thấy nhiều Thầy giỏi, nhưng không làm được, có thể nói là vì không được Phật hộ niệm. Không giỏi, nhưng Phật hộ niệm làm ta có hiểu biết vượt bình thường, vì hiểu biết đúng mới giải quyết được việc khó. Hòa thượng Trí Tịnh cũng nói rằng dùng hiểu biết của mình nhiều lắm cũng chỉ đúng sáu mươi phần trăm cũng là giỏi rồi. Nhưng thực tế đúng chín mươi chín lần, chỉ sai một lần là một phần trăm, kể như hoàn không. Vì vậy, đối với Hòa thượng, sự hiểu biết của chúng ta cũng còn đáng e ngại lắm, vì còn vấp phải bốn mươi phần trăm sai lầm, làm gì mà cuộc đời chúng ta không phạm lầm lỗi. Hòa thượng nhiếp tâm niệm Phật Di Đà để Phật hộ niệm, thấy theo Phật mới bảo đảm đúng. Phật hộ niệm thì ta biết chính xác hoàn toàn.

Tôi nhớ lại đời mình có hai bước ngoặt quan trọng vào năm 1963 và 1975 và từ hai dấu ấn này, tôi nhận ra được thế nào là Phật hộ niệm. Năm 1963, trong phong trào tranh đấu của Phật giáo, tôi hoàn toàn vô tâm, chỉ nghĩ dốc toàn tâm toàn lực bảo vệ Phật giáo. Lúc ấy đối với tôi, sống chết không quan trọng, nhưng tôi có cảm giác lạ là tất cả quyết định của tôi đều đúng một trăm phần trăm, vì không đúng thì cuộc sống của tôi đã không còn. Tôi hoạt động hay bị bỏ tù đều đúng, nên hoàn toàn thoát nạn một cách đơn giản. Theo tôi, Phật quyết định cuộc đời ta, không phải ta quyết định. Tôi không tự thắp đuốc đi được, nhưng nhờ đuốc của Phật mà tôi đi không rớt xuống hố, vượt qua mọi chướng ngại hiểm nguy giống như một cách tình cờ may mắn vậy. Tôi tin tưởng ở lý Đại thừa một cách sâu sắc vì lý do đó.

Ngoài ra, năm 1973, tôi về Việt Nam. Đối với tôi, việc quyết tâm về nước không trở lại Nhật bằng cách trả lại thẻ thường trú, đó là vì Phật bổ xứ khiến tôi làm như vậy, chứ thực sự tôi cũng không biết tại sao mình lại quyết định như thế. Giai đoạn đầu 1975, việc tu hành thực sự rất khó và trong hoàn cảnh khó khăn nhiều bức bách ấy, tôi nhận ra được ý nghĩa Phật nói trong kinh Pháp Hoa rằng Tịnh độ Ta chẳng hư mà chúng thấy cháy rã, nghĩa là trong thế giới đầy khổ đau mà Phật thấy an lành. Và quan trọng là tôi đã mượn sự an lành của Phật làm an lành cho mình, nên thấy đúng và quyết định đúng bằng cách không đi ra khỏi thành phố Hồ Chí Minh, vì tu sĩ ra ngoài thành phố lúc ấy dễ bị bắt như chơi. Tôi ép mình trong Tổ đình Ấn Quang, thọ trì Pháp Hoa và biên soạn nghi thức Bổn môn Pháp Hoa để tu hành. Có thể khẳng định rằng vào thời điểm ấy, những quyết định của tôi đều đúng và từng bước tôi vượt qua những khó khăn, tiến tu trên đường đạo và đóng góp được cho Giáo hội.

Các Thầy cứ nghiệm lại sẽ thấy rõ dù giỏi mấy cũng chỉ là hiểu biết thế gian, chỉ làm được tối đa sáu mươi phần trăm, còn bốn mươi phần trăm sai lầm thì chúng ta phải gánh hậu quả chắc chắn là không vui. Nhưng theo Phật, hoàn toàn không khởi tâm tính toán, mà kết cuộc không sai lầm và cũng không có gì để hối hận. Và tôi tin mình làm được đều do Phật hộ niệm, bổ xứ. Không có sức hộ niệm của Phật, việc dễ cũng thành khó. Điển hình như chùa Phổ Quang từ năm 1975 đến 1995, có biết bao vị xin lãnh chùa, nhưng không được và ai về đây cũng buồn phiền, khổ đau. Riêng tôi chưa bao giờ nghĩ đến sẽ lãnh chùa này. Năm 1999, tự nhiên Ủy ban Nhân dân thành phố lại giao chùa cho tôi. Thiết nghĩ Phật bổ xứ chúng ta làm Phật sự nào thì bảo đảm thành công, dù không giỏi. Còn giỏi mấy cũng rơi vô tranh chấp hơn thua, cuối cùng ai cũng sai, dù ít hay nhiều. Kinh nghiệm cho thấy những người đi trước đều nhìn nhận rằng có phạm sai lầm, vì sai lầm mới thất bại. Các anh em phải suy nghĩ để xây dựng cho mình đời sống tâm linh, đạo đức và quan trọng là được Phật hộ niệm. Phật không hộ niệm, chúng ta dụng tâm, dụng ý, quả báo đến không lường.

Tôi dịch kinh Di Đà vào khoảng 11 hay 12 giờ đêm, trong vòng một, hai tiếng đồng hồ, sau khi tôi làm lễ cấm túc An cư có ý định dịch và giảng dạy kinh này. Tôi dịch kinh khác với các Pháp sư. Phần lớn các Pháp sư dịch kinh căn cứ vào chữ trong văn kinh mà dịch. Còn tôi tụng nhiều lần, nhưng đến lúc dịch thì xếp kinh lại, để đó và bằng độ cảm trong lòng thế nào thì viết ra, sau đó mới đối chiếu với bản kinh gốc. Đối với tôi, việc dịch kinh chính yếu bằng niềm tin và độ cảm của mình trên bước đường tu. Không có niềm tin, không thể tiến tu; không có độ cảm, không có ứng nghiệm để tu.

Trước khi tụng kinh, chúng ta có bài tán hương. Tôi soạn bài tán hương như sau: Lò hương vừa bén gỗ chiên đàn. Khói thơm ngào ngạt khắp trần gian. Ba ngàn thế giới đều thanh tịnh. Mười phương chư Phật hiện thân vàng.

Đối với người tu, hai câu sau rất quan trọng. Nếu tán hương bằng cách chỉ tụng suông, chắc chắn không có hiệu quả, quan trọng là ba ngàn thế giới đều thanh tịnh vì lưu xuất từ tâm tịnh. Thật vậy, tâm người tu đã thanh tịnh thì ba ngàn thế giới trùng trùng duyên khởi cũng hoàn toàn bị tiêu diệt trong tâm hành giả, vì cái này diệt thì cái kia diệt, cho đến biến mất ba ngàn thế giới, nên tâm thanh tịnh hoàn toàn. Sự thực ba ngàn thế giới có thanh tịnh hay không không quan trọng, nhưng đòi hỏi chính yếu là chúng ta phải tập trung cao. Còn miệng tụng, nhưng không tụng bằng tâm khát ngưỡng cao, không thanh tịnh thì không có hiệu nghiệm. Vì vậy, có Thầy tụng kinh, người nghe phát tâm; nhưng cũng có Thầy tụng thấy bình thường, chẳng ai quan tâm.

Khi tâm chúng ta thanh tịnh cao thì tất cả từ chơn như duyên khởi và mười phương Phật hiện. Nói cách khác, một bên sanh diệt là ba ngàn thế giới sanh tử luân hồi biến mất thì mười phương Phật hiện ra. Tu hành không đi theo lộ trình này, kết quả ít hay không có, vì ta tu trên sanh diệt, vọng động, nên kết quả cũng tương xứng như vậy. Tu trên tham cầu phải trả giá đắt. Khi A lại da duyên khởi không hoạt động thì mười hai duyên dứt sạch, nên chơn như xuất hiện, theo đó mười phương Phật hiện thân vàng tiêu biểu cho niềm tin chúng ta hoàn toàn trong sáng.

Bài khai kinh tôi giữ nguyên, chỉ sửa đổi một ít: Phật pháp cao siêu rất thẳm sâu. Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu. Con nay nghe thấy chuyên trì tụng. Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. Nguyên tác của bài này bằng Hán văn của Tắc Thiên Hoàng đế khi nghe kinh Hoa Nghiêm, bà đã cảm được và soạn bài kệ này. Chúng ta đều khai kinh bằng bài này để nhắc nhở hành giả sự thậm thâm vi diệu của pháp Phật. Cuộc đời của bà Tắc Thiên rất kỳ quặc, mọi việc không như ý; nhưng bắt gặp được kinh Hoa Nghiêm thì bà trở nên thanh thản và đi lên dễ dàng. Bà đã hết lòng hộ đạo, tài trợ cho các Pháp sư phiên dịch bộ kinh Hoa Nghiêm. Một người đàn bà làm thái hậu và lên làm vua phế bỏ nhà Đường để lập nhà Chu là một việc không đơn giản chút nào; nhưng bà đã làm được. Đối với bà, cảm nhận được pháp Phật và quyết tâm giữ gìn niềm tin Tam Bảo, vì nhờ đó mà bà đã nhận được những điều phi thường trong cuộc sống. Thậm thâm vi diệu của đạo pháp vô cùng quan trọng đối với người tu. Vì vậy, chúng ta tu hành mà không thấy, không nhận được thậm thâm vi diệu của pháp Phật cũng giống như người bị lờn thuốc, thì chỉ một thời gian là chúng ta sẽ chán nản và bỏ cuộc.

Đến phần nội dung kinh, tôi không dịch theo văn tự, vì tôi nghĩ văn của mỗi người diễn tả một cách khác nhau; chủ yếu tôi chú trọng đến kinh hơn, giữ ý kinh, nhưng lời thay đổi cho dễ hiểu. Tôi diễn tả bằng từ dễ hiểu, dễ nhớ, không trung thành với chữ, vì từ gốc chữ Phạn đã được dịch sang chữ Hán, rồi dịch sang chữ Việt; nếu trung thành văn tự thì sẽ bị kẹt từ ngữ, văn không xuôi, khó đọc, khó nhớ.

Mở đầu, tôi chú ý đến địa điểm Phật thuyết kinh này là thành Xá Vệ, tịnh xá Kỳ Hoàn và kế đến thính chúng nghe pháp gồm Thanh văn, Bồ tát và Bát bộ chúng. Diễn tả pháp hội như vậy, vì tôi tạo độ cảm giữa mình và các ngài.

"Một thuở nọ, Đức Phật ở thành Xá Vệ, tịnh xá Kỳ Hoàn cùng chư La hán 1250 Thượng tọa và nhiều người khác còn đang tu học…”. Bản chính kinh Di Đà cũng nói đến 1250 La hán là chúng thường tùy với Đức Phật. Và theo tôi cũng có nhiều người khác còn đang tu học, không lẽ chỉ có 1250 La hán ở Xá Vệ. Và trong 1250 La hán không có Ưu Ba Ly, A Nan, Ca Diếp, chỉ có Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, ba anh em Ca Diếp dẫn theo một ngàn đồ chúng và năm mươi thanh niên Da Xá. Tuy nhiên, theo tôi trong pháp hội này không phải chỉ có 250 vị La hán thường tùy với Đức Phật, vì trong 1250 vị La hán có vị đã viên tịch trước khi Phật nói kinh Di Đà, thí dụ như đệ tử của Xá Lợi Phất đã lên cõi Trời. Nhưng dưới cái nhìn của tôi, các vị La hán này đã từng gắn bó mật thiết với Phật, nên sống hay chết, các ngài vẫn thường tùy với Phật, vẫn hiện diện đầy đủ. Với tôi, pháp hội được quan sát dưới dạng tín ngưỡng tôn giáo thuộc thế giới siêu hình, nên giác linh của các ngài vẫn thường tùy với Phật. Cũng trên tinh thần truyền thống tín ngưỡng như vậy, ngày nay các vị Hòa thượng trong Giáo hội chúng ta tuy đã vắng bóng trên cuộc  đời, nhưng chúng ta tin tưởng rằng giác linh các ngài vẫn hộ niệm cho sinh hoạt đạo pháp của chúng ta. Đối với tôi, Giáo hội chúng ta tồn tại ở cả hai mặt hữu hình và vô hình, nhưng phần vô hình quan trọng hơn. Hai mặt hữu hình và vô hình tương quan tương duyên tồn tại, không có lực vô hình, chúng ta không mạnh được. Có người nói Thầy tu như chúng ta hiền lành đến con muỗi cũng không dám giết, nhưng sự hiện hữu của người tu hành chân chính quan trọng không nhỏ, lịch sử đã từng chứng minh điều này. Theo tôi, người tu chân chính có một giá trị nhất định trong lòng xã hội phần lớn là nhờ thế lực vô hình của Thiên long Bát bộ tạo một vòng đai an toàn cho sinh hoạt tu hành của họ, cho đến nhận được lực gia bị của Bồ tát hay Phật thì chúng ta sẽ thành tựu những việc làm mà người bình thường không thể nào làm nổi. Vì vậy, người tu thiếu sức gia bị vô hình thì khó lòng đương đầu với vô số chướng ngại trong đời ngũ trược ác thế này.

Tôi nghĩ rằng 1250 La hán đã ở Niết bàn hay còn hiện thế vẫn coi như thường tùy với Phật, không thể thiếu được. Phật ở đâu, các ngài ở đó và một số người khác đang tu học từ Sơ quả đến Tam quả. Và đứng đầu nhóm này là A Nan chưa đắc quả La hán, nhưng được xếp trong mười vị nòng cốt lãnh đạo tập đoàn đa văn. Đó là cách phân chia chúng theo Phật rõ ràng chính xác. Những người hợp với nhau về tư tưởng, về việc làm thì tự tập trung lại để cùng nhau sinh hoạt. A Nan học rộng nghe nhiều thì có thể tập hợp những người thích học, thích nghe. Vì vậy, A Nan là đối tượng mà họ quý trọng, nên họ theo ngài. Mỗi người tu hành tiêu biểu cho một việc, một hạnh và tập hợp được những người cùng một sở thích, cùng một hạnh; đó là sự tập hợp tự nhiên, không phải Phật phân chia như vậy.

Nhóm đa văn thích học, thích nghe, sau khi Phật thuyết pháp, họ tập hợp theo A Nan để bàn luận, trao đổi hiểu biết về pháp Phật đã dạy. Họ còn tu học nên say mê thích thú học và kiết tập kinh điển; nhờ vậy chúng ta mới có kinh điển ngày nay để nương theo tu hành. Thật vậy, nếu không có nhóm đa văn do A Nan lãnh đạo thì về sau không ai kiết tập kinh điển, vì những vị đắc La hán, chứng chân lý thì không còn muốn nghe pháp phương tiện, làm thế nào kiết tập kinh điển. Cũng như các Thầy học ở Phật học viện hay Cao đẳng mới ham học, viết sách hướng dẫn cho người đi sau; còn chuyên tu thì thường không có sách để lại cho đời. Có thể nói A Nan đa văn đóng vai trò quan trọng, dù xếp ngài vào hàng thứ mười. Hoặc Ưu Ba Ly kiết tập luật tạng cũng được xếp vô đây. Ngài thường quan sát sinh hoạt của đại chúng và nghe Phật nhận xét, thưởng, phạt, nên sau này chúng ta mới có luật tạng. Vì vậy, cũng không thể thiếu sót tập đoàn Ưu Ba Ly nghiên cứu về giới điều của Phật. Ngày nay rất ít người nghiên cứu luật học hay kỷ cương của Giáo hội. Tôi khuyên các anh em nên nghiên cứu luật Phật và đối chiếu với luật thế gian để điều hành Tăng đoàn ngày nay vừa thích hợp với giáo lý của Phật vừa thích hợp với cuộc sống của mọi người. Theo tôi, chúng ta đang gặp bế tắc vấn đề này.

Thật vậy, luật Sa di, Tỳ kheo mà chúng ta đang sử dụng đã có từ thời Phật cho đến ngày nay không ai dám sửa đổi. Tuy nhiên, tôi nghĩ luật cũng là một trong những phương tiện của Phật đưa ra để điều hành sinh hoạt của Tăng đoàn. Vì các anh em thấy luật ghi rằng có Tỳ kheo vi phạm một lỗi lầm nào đó làm mất uy tín Tăng đoàn, Phật mới tập hợp chúng và hỏi họ rằng có nên hay không nên làm như vậy. Đại chúng quyết định không nên làm thì Ưu Ba Ly ghi vào luật là không nên làm việc đó. Như vậy có những điều không xảy ra thời Phật tại thế, nhưng nay thời đại chúng ta có xảy ra thì chúng ta có nên ghi thêm vào luật hay không. Hoặc có những điều phạm sai trái có quy định trong luật, nhưng nay không còn thích hợp thì ta có nên giữ nguyên như vậy hay không. Theo tôi, trong luật Tỳ kheo, bốn tội Ba la di thì không sửa đổi, nhưng các luật khác nên sửa đổi. Tuy nhiên, cái khó là chưa có người đủ tư cách làm Luật sư để kiết tập luật.

Thiết nghĩ luật mà chúng ta thọ trì từ thời xưa, các Luật sư đã thay đổi rồi. Chẳng hạn trước tháp Phật không được đốt thây chết, không được khạc nhổ. Tôi nghĩ điều này không phải Phật chế đặt, nhưng là Tăng đặt ra vì Phật nhập diệt mới có tháp Phật. Theo tôi, điều luật này thuộc về oai nghi. Các Luật sư đời sau thấy một số Tỳ kheo thiếu sự tôn trọng tháp Phật, nên mới ghi vô luật điều này. Hoặc các Tỳ kheo đi đường lượm được da dê thì được phép đem đi mấy do tuần. Ngày nay không có da dê vứt bỏ và cũng không ai lượm những thứ này. Hay Tỳ kheo không được vừa đi vừa nhảy. Đương nhiên có Thầy giỡn như vậy trông khó coi, nên Phật mới cấm.

Có thể nói những điều nào đó được đặt ra trong một thời kỳ nào hay hoàn cảnh nào thì thích hợp; nếu không cần thì cũng không có luật. Phật chế luật nhằm tịnh hóa Tăng đoàn, sai trái cần sửa chữa để bảo đảm uy tín của Tăng đoàn trong sạch. Đối với tôi, chủ yếu nhằm xây dựng oai nghi của chúng ta; nói chung có bốn oai nghi, nói rộng có ba ngàn oai nghi là tư cách của người tu. Nhóm kiết tập luật tạng tuy nhỏ, nhưng cũng rất quan trọng. Khi Phật lập giáo khai tông, hàng đệ tử tu theo chánh pháp, lấy Tứ Thánh đế làm chính. Lúc ấy, Phật không nói oai nghi. Khi Tăng đoàn phát sanh vấn đề mới có luật ngăn cấm và dạy luật, nên người ta đặt kinh, luật xuống hàng sau cùng, vì nó là phương tiện. Đối với Thánh La hán thâm nhập pháp chân thật, Phật không cần dùng lời và các ngài cũng tự biết nên làm gì và chỉ làm đúng; vì thế dĩ nhiên không cần luật cấm đoán gì cả. Nhưng đối với chúng sanh nghiệp cấu sâu dày, không nói thì họ không biết; vì vậy mà Phật phải dùng phương tiện là kinh, luật. Ngày nay chúng ta vào chùa phải học luật, kinh trước và sau tham Thiền là từ giã ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ thô kệch bên ngoài để đi vào đời sống tâm linh. Người có đời sống tâm linh theo Phật thì không cần kinh điển nữa.

Và kế tiếp là Phú Lâu Na thuyết pháp đệ nhất A la hán được xếp vào hàng thứ tám cũng mang tính cách truyền bá chánh pháp. Việc làm này cũng là phương tiện, tùy hoàn cảnh từng người, tùy yêu cầu từng lúc, từng nơi mà khai phương tiện giảng dạy cho người thâm nhập Phật huệ. Ba tập đoàn chuyên về kiết tập kinh điển, luật tạng và thuyết pháp tồn tại trên nhân gian cho đến ngày nay; thiếu ba sinh hoạt này, Tăng đoàn không mạnh được, tức phải có giáo lý, nguyên tắc và người thực hành. Trên một bậc, có ngộ tánh Tu Bồ Đề, thiên nhãn A Na Luật… tiêu biểu cho những vị tu chứng đã phát huy được nội tâm. Nói chung, tôi đề cập đến mười vị đại đệ tử tiêu biểu cho mười nhóm nòng cốt của Phật là chúng Thanh văn. Thực sự trong kinh Di Đà, tôi thấy có mười ba hay mười bốn vị A la hán, nhưng tôi rút gọn lấy mười đại đệ tử chính duy trì Phật pháp. Những vị còn lại, tôi không ghi vô như Châu Lợi Bàn Đà, Kiều Phạm Ba Đề, v.v… Bằng độ cảm tâm với từng vị đại đệ tử, tôi ghi thêm hạnh nguyện của các ngài ở trước danh xưng của mỗi vị, thí dụ mật hạnh La Hầu La, thuyết pháp Phú Lâu Na, đa văn A Nan…

Chúng thứ hai là Bồ tát, đứng đầu là Văn Thù, Di Lặc (trong kinh Di Đà gọi là A Dật Đa Bồ tát). Hai vị Bồ tát này tôi gặp trong kinh Pháp Hoa, các ngài được coi là Pháp Hoa kinh duyên khởi. Trong hội Pháp Hoa của Phật Thích Ca, Bồ tát Di Lặc hỏi Văn Thù Sư Lợi để Văn Thù nói về nguyên nhân có kinh Pháp Hoa, thế nào là Pháp Hoa…

Theo tinh thần Đại thừa, chia chúng hội của Phật làm ba: chúng duyên khởi, chúng đương cơ và chúng kết duyên. Đại thừa không chia chúng như chúng ta thường thấy là chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Sa di, Sa di Ni, Thức Xoa Ma Na Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di. Chúng duyên khởi là tất cả Bồ tát lớn trợ hóa cho Đức Thích Ca. Đức Phật hiện thân lại cuộc đời này thì các Bồ tát lớn cũng sanh theo Phật. Các ngài đã thâm nhập Phật huệ, nên trong kinh Pháp Hoa nói rằng không phải Phú Lâu Na mới thuyết pháp trong hiện đời mà ngài đã là Pháp sư bậc nhất từ thời xa xưa. Hoặc A Nan đã từng phát tâm từ thời Phật Không Vương cùng với Phật Thích Ca, v.v… Những vị này không phải là Thanh văn, nhưng thực sự là Bồ tát hiện thân lại theo Phật để tạo điều kiện cho Phật thuyết pháp, hành đạo, vì một mình Phật không thể làm mọi việc. Trong kinh Đại thừa thường nói rằng một Đức Phật ra đời luôn luôn có Thánh chúng xuất hiện theo để giúp Phật, làm cho vai trò của Phật nổi bật lên tư cách đại Đạo sư của trời người. Những vị Bồ tát tái sanh trong tất cả thành phần xã hội và mỗi vị tiêu biểu cho một hạnh của Phật trên cuộc đời này. Đó là chúng duyên khởi tạo mọi điều kiện để Phật thuyết pháp giáo hóa độ sanh. Thí dụ nếu Phật nhẫn nhục để người mắng chửi thì phải có đệ tử giải thích việc này cho người thông hiểu lợi ích của pháp nhẫn ba la mật là như thế nào. Cũng tương tự như vậy, ngày nay các Hòa thượng lớn ngồi yên trong Thiền thất thì các Thượng tọa khác cũng như vậy, làm sao Phật pháp tồn tại. Hòa thượng Trí Tịnh ngồi yên thì học trò ngài phải đi truyền bá, nhưng truyền bá cho ai. Vì vậy, cần có chúng đương cơ là những người hữu duyên để Phật nói pháp khai ngộ cho họ. Phật không khai ngộ cho các Bồ tát đã chứng ngộ rồi. Và chúng kết duyên như Phật tử theo nghe pháp, hiểu được và sau phát tâm tu. Họ là người trồng căn lành với đạo.

Như vậy, luôn luôn có ba chúng. Chúng đương cơ phải thể nghiệm cho người thấy giá trị chân thật của pháp Phật. Chúng kết duyên chưa thể hiện được tinh ba của Phật dạy, nên thường dễ chán nản. Các Thầy làm đạo phải thấy điều này. Chúng kết duyên có xin tu cũng đừng cho phép xuất gia, về sau họ làm bậy, ta mang họa. Họ làm cư sĩ đến chùa tụng kinh là đủ rồi, vì xuất gia mà tánh cư sĩ vẫn còn, không thể tu được.

Chúng đương cơ chết sống với đạo, họ sống cực khổ thế nào cũng tu được. Tôi tu ở chùa từ 12 tuổi, biết rõ người quyết tâm tu thì tự tìm học, tự nỗ lực công phu và tạo được công đức, sau làm đạo dễ thành công. Còn những người không muốn tu chỉ chờ Thầy sơ hở là làm bậy, rồi cũng hoàn tục. Phải thấy rõ họ chỉ mới là người kết duyên, nên nuôi dưỡng tâm đạo của họ cho vững mạnh, đừng vội cho xuất gia, không có lợi.

Còn chúng duyên khởi hay chúng trợ hóa như Bồ tát Văn Thù trợ hóa Phật Thích Ca. Theo kinh Pháp Hoa, từ thời Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, Văn Thù là Diệu Quang Pháp sư có tám trăm đệ tử đều thành Phật và người thành Phật sau cùng là Phật Nhiên Đăng. Và Phật Nhiên Đăng là người thọ ký cho Đức Thích Ca thành Phật. Vậy mà đến nay, Văn Thù vẫn còn là Bồ tát. Phật Thích Ca nói rằng những việc của Phật chỉ có Phật biết, Ngài có vô số phương tiện giáo hóa chúng sanh. Phật cho biết Văn Thù chính là một vị cổ Phật hiện thân lại để trợ giúp cho Phật Thích Ca hành đạo ở Ta bà. Ngài là một trong những vị Bồ tát đã thành Vô thượng đẳng giác vì thương nhân gian sanh lại cuộc đời này để giúp Phật Thích Ca nói pháp chân thật, khai mở vô số phương tiện, v.v… thể hiện tinh thần một Đức Phật Thích Ca xuất hiện thì có trăm ngàn vị Phật khác ủng hộ, trợ hóa.

Về phần chúng ta tu Bồ tát đạo được xếp vào hàng Bồ tát từ nhân hướng quả, mới phát tâm Bồ đề, còn phải trải qua thứ bậc từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi hướng đến Thập quả mới hoàn tất công hạnh của Bồ tát. Quá trình tu hành này không đơn giản, Phật thường nói là phải qua ba a tăng kỳ kiếp. Tuy nhiên, với lời phát nguyện của các vị đại Bồ tát và Thiên long Bát bộ luôn ủng hộ, hộ niệm cho những người phát tâm Bồ đề đi theo lộ trình của Phật được kinh Pháp Hoa ví như hoàng tử dù còn nằm trong nôi cũng đã có uy quyền. Tôi tin tưởng rằng nếu chúng ta an trụ trong chánh pháp, chắc chắn sẽ tiếp nhận được gia trì lực của chư Phật, chư Bồ tát và Bát bộ chúng, nhận được những điều thậm thâm vi diệu, thâm nhập được nghĩa lý Phật dạy, thì sẽ vượt qua mọi chướng duyên trên con đường tiến đến Phật quả. Nếu cần nghỉ ngơi bồi dưỡng sau những tháng ngày hành đạo ở Ta bà, Đức Phật Thích Ca đã chỉ cho chúng ta con đường đi đến thế giới Cực Lạc ở phương Tây của Đức Phật Di Đà. Quả thực đó là một cảnh giới tuyệt vời khi được nghỉ ngơi bên cạnh vị Thầy là Đức Phật có vô lượng thọ, vô lượng công đức, vô lượng trí tuệ và hàng Thánh chúng cùng tu với chúng ta cũng tuyệt vời như vậy. Mong rằng đại chúng nỗ lực tu hành, khám phá được những lực siêu tự nhiên để trưởng dưỡng đạo tâm và gánh vác Phật sự, làm cho Phật pháp được hưng thạnh trên thế gian này.

(Bài giảng tại trường hạ chùa Phổ Quang, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh, ngày 2-7-2002)