cool hit counter

Sách


Lời giới thiệu Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp
Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa Thiền định phóng quang và đàm kinh nhập diệu
Nguyện hương Đoạn phiền não – tâm bình an
Đảnh lễ Phật Giàu đạo đức, giàu tuệ giác
Lễ Phật quá khứ Giới đức pháp thân
Đảnh lễ Phật hiện tại An trụ tịch diệt tướng
Lễ Phật vị lai Ý nghĩa Phật Đản theo kinh Pháp Hoa
Đảnh lễ Bồ tát Phật giáo và dân tộc Việt Nam
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh hoằng thông liệt vị Tổ sư Hoằng pháp ở thế kỷ XXI
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh thủ hộ thiện thần Dòng chảy miên viễn của Thiền
Sám hối Đức Phật sống mãi với chúng ta
Phát nguyện Đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật
Ý nghĩa thọ trì 7 phẩm Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Chùa mục đồng ở Nam bộ
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ nhất Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định của mọi thành công
Ý nghĩa phẩm Pháp sư Phật giáo, con đường dẫn đến sự sống hòa bình, phát triển, an lạc, hạnh phúc cho nhân loại.
Ý nghĩa phẩm Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15 Sức sống Thiền của Trần Thái Tông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 Sống trong tỉnh giác
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17 Quan niệm về kinh tế trong Phật giáo
Ý nghĩa phẩm Phổ Môn thứ 25 Những nét đẹp của Phật giáo Lý Trần
Ý nghĩa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28 Nghệ thuật trong Phật giáo
Hồi hướng Ý nghĩa nhà lửa tam giới trong kinh pháp hoa
Ý nghĩa tụng thủ hộ thần chú Ý nghĩa lễ tắm Phật
Ý Nghĩa Quy Y Tam Bảo Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm
Năm Giới Của Người Phật Tử Tại Gia Ý nghĩa Vu Lan  
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Pháp Hoa Và Tụng Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Sám Hối Nhứt Phật thừa
Ý Nghĩa Tụng Kinh Dược Sư Và Niệm Phật Dược Sư Quán tứ niệm xứ
Ý Nghĩa Niệm Phật Di Đà Tứ chánh cần
Lời nói đầu Tứ như ý túc
I. Lý do chọn 21 ngày tu gia hạnh Phổ Hiền
Ngũ căn ngũ lực
II. Ý nghĩa của sự khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày thành đạo của Phật Di Đà là ngày 17 tháng 11 và kết thúc vào ngày thành đạo của Phật Thích Ca là ngày mùng 8 tháng 12 Thất Bồ đề phần
III. Kết luận Thúc liễm thân tâm
Lời tựa Tùy duyên  
Tổng luận Thanh tịnh hóa thân tâm
Pháp hội 1 : Tam Tụ Luật Nghi Nhứt thiết Chúng sanh Hỷ kiến Bồ Tát
Pháp hội 2: Vô Biên Trang Nghiêm Đà la ni Chánh kiến
Pháp hội 3 : Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Tam quy và pháp niệm Phật
Pháp hội 5: Vô Lượng Thọ Như Lai Hài hòa để cùng tồn tại và phát triển
Pháp hội 6: Bất Động Như Lai Hạnh khiêm cung và bát kỉnh pháp
Pháp hội 7: Mặc Giáp Trang Nghiêm An lạc hạnh  
Pháp hội 8: Pháp Giới Thể Tánh Vô Sai Biệt Những kinh nghiệm giảng dạy
Pháp hội 9 : Đại Thừa Thập Pháp Kinh nghiệm giảng dạy Kinh Hoa Nghiêm
Pháp hội 10: Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn Một số đề tài gợi ý cho những bài thuyết giảng của Tăng Ni sinh Khóa Giảng sư
Pháp hội 11: Xuất Hiện Quang Minh & Pháp hội 12 : Bồ Tát Tạng Nổ lực tự học để kế thừa và phát huy được tinh ba của Thầy, Tổ.
Pháp hội 14: Phật Thuyết Nhập Thai Tạng Một số phương hướng cho ngành Hoằng pháp
Pháp hội 15: Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký Vài suy nghĩ về Hoằng pháp trong thời hiện đại
Pháp hội 16: Bồ Tát Kiến Thiệt Hoằng pháp trong thế kỷ 21
Pháp hội 17: Phú Lâu Na Nhà Hoằng pháp và giáo dục tiêu biểu trong thế kỷ XX
Pháp hội 18: Hộ Quốc Bồ Tát Hoằng pháp ở thế kỷ 21(thuyết giảng ngày 20 – 24 tháng 6 năm 2007)
Pháp hội 19: Úc Già Trưởng Giả Điểm chung nhứt của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền
Pháp hội 20: Vô Tận Phục Tạng Mô hình Hoằng pháp tại nước nhà trong thời đại ngày nay
Pháp hội 21: Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La Tư cách của vị trụ trì
Pháp hội 23: Ma Ha Ca Diếp Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại
Pháp hội 24: Ưu Ba Ly Ý nghĩa trụ trì
Pháp hội 25: Phát Thắng Chí Nguyện Trụ trì, người giữ chùa
Pháp hội 26: Thiện Tý Bồ Tát Kinh nghiệm làm trụ trì
Pháp hội 27 : Thiện Thuận Bồ Tát Tam pháp ấn
Pháp hội 28: Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả Nét đẹp của Phật giáo Nam Tông Khơ Me
Pháp hội 29: Ưu Đà Diên Vương Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện đại
Pháp hội 30: Diệu Huệ Đồng Nữ Điều thiết yếu của người tu : Sức khỏe tốt, trí sáng suốt và trái tim nhân ái
Pháp hội 31: Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di An trụ pháp tịch diệt
Pháp hội 32: Vô Úy Đức Bồ Tát Hoằng pháp và trụ trì
1. Lời tựa Đạo đức hành chánh
2. Khái niệm về kinh Duy Ma Ba điểm quan trọng đối với tân Tỳ kheo
3. Quán chúng sanh theo kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (Thuyết giảng tại chùa Phổ Quang)
4. Bất Nhị pháp môn trong kinh Duy Ma Ý nghĩa thọ giới (thuyết giảng tại chùa An Phước)
5. Ý nghĩa phẩm Phật Hương Tích trong kinh Duy Ma Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ : Học, tu và làm việc
6. Quan niệm về đức Phật trong kinh Hoa Nghiêm Truyền trao giới pháp và lãnh thọ giới pháp đúng như pháp.
7. Ý nghĩa lễ Phật theo kinh Hoa Nghiêm Giới tánh Tỳ kheo
8. Ý nghĩa phương tiện theo kinh Pháp Hoa Lời tựa       
9. Ý nghĩa thí dụ ba xe và nhà lửa trong kinh Pháp Hoa Tiểu sử
10. Ý nghĩa hóa thành dụ trong kinh Pháp Hoa Giới tánh tỳ kheo  
11. Pháp sư của kinh Pháp Hoa Hoằng pháp và trụ trì  
12. Ý nghĩa Long Nữ dâng châu trong kinh Pháp Hoa An lành và tĩnh giác
13. An Lạc Hạnh theo kinh Pháp Hoa Nghĩ về sự thành đạo của Đức Phật
14. Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất Mùa Xuân đọc kinh Hoa Nghiêm
15. Cảm niệm về Bồ Tát Phổ Hiền Sự lớn mạnh của Phật giáo song hành với thành phố phát triển 300 năm
Lời tựa Khai Thị 2009 Những quan niệm về Đức Phật
Xuân trong Phật đạo Thế giới tâm thức và thế giới hiện thực
Phước Lộc Thọ Pháp phương tiện
Hạnh xuất gia Tụng kinh, lạy Phật, sám hối và thiền quán
Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo Đức hạnh của vị Tỳ kheo
Hạnh nguyện Quan Âm Hành trình tâm linh : nẻo về vĩnh hằng của người tu
Tàm Quý Ý nghĩa Phật Đản PL. 2542 - 1998
Họa phước vô môn Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật
An cư kiết hạ Nương nhờ đức từ của Tam bảo
Phật giáo và vấn đề tác hại của thuốc lá Ý nghĩa Kim Cang thừa trong Phật giáo
Phật giáo và bảo vệ môi trường Cảm nghĩ về Đức Phật A Di Đà
Phật giáo và thiếu nhi Ý nghĩa Vu Lan 1998
Nói không với ma túy Bồ Tát Đạo
Đạo đức ở tại gia Mùa An cư : sáu thời tịnh niệm
Mỉm cười trong đau khổ Tinh thần Phật giáo Đại thừa
Phật giáo và dân số Phật giáo hướng về tương lai
Kính lão đắc thọ Ý nghĩa lễ Vu Lan PL 2542 - 1998 (thuyết giảng tại trường hạ chùa Hội Khánh)
Hành trì giới luật Chơn thân – huyễn thân
Ý nghĩa Vu lan Tư cách của vị trụ trì  
Hạnh nguyện Địa Tạng Bồ tát Tâm từ bi của Đức Phật
Nối vòng tay lớn 9 tuần tu học đồng đăng Cửu Phẩm Liên Hoa
Niềm vui của tuổi già Những việc cần làm trong 3 tháng An Cư
Kiến thức và trí tuệ Những việc cần làm trong 3 tháng an cư Suy nghĩ về linh hồn trong Phật giáo
Tình người Hoằng pháp   
Hạnh nguyện Bồ tát hay Bồ tát đạo Tìm hiểu ngôn ngữ của Đức Phật
Tha lực và tự lực Mùa Xuân trên đất Bắc
Hạnh nguyện Dược Sư Lời tựa        
Ơn Thầy Ý nghĩa cầu an
Vượt qua mặc cảm Hạnh nguyện Phổ Hiền
Lời tựa Lược giải Kinh Hoa Nghiêm Bản chất Niết bàn
Nghề nghiệp chân chánh Niềm tin chân chánh
CHƯƠNG I – LỊCH SỬ KINH HOA NGHIÊM
        I - Khái niệm về lịch sử kinh Hoa Nghiêm
Hóa giải hận thù
    II - Lịch sử truyền thừa và phát triển kinh Hoa Nghiêm Phật giáo và hòa bình thế giới
  III - Nội dung kinh Hoa Nghiêm Quốc thái dân an
CHƯƠNG II - Ý NGHĨA ĐỀ KINH HOA NGHIÊM Giải tỏa oan ức
CHƯƠNG III – QUAN NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT THEO KINH HOA NGHIÊM
       I - Quan niệm về Đức Phật trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
Vững trước khen chê
   II - Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Ý nghĩa sức mạnh hòa hợp
  III - Quan niệm về Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm Âm siêu dương thạnh
CHƯƠNG IV – BỒ TÁT ĐẠO
      I - Bồ tát Thập Tín
Thực tập nhẫn nhục
  II - Bồ tát Thập Trụ Thành công và thất bại
 III - Bồ tát Thập Hạnh Chiến thắng chính mình
IV - Bồ tát Thập Hồi hướng Thân cận người trí
 V - Bồ tát Thập Địa hay Thập Thánh Sống hạnh viễn ly
VI - Bồ tát Thập Định Ý nghĩa bờ bên kia
VII - Bồ tát Thập Thông Hương thơm đức hạnh
VIII - Bồ tát Thập Nhẫn Tòa án lương tâm
CHƯƠNG V – PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI Củng cố niềm tin
   1- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Đức Vân Tỳ kheo Giá trị cuộc sống
   2- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Vân Tỳ kheo Giáo dục con cái
   3- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Trụ Tỳ kheo Vượt qua tật bệnh
   4- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Di Già Đền ơn đáp nghĩa
   5- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Giải Thoát Thân phận con người
   6- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Tràng Tỳ kheo Sức mạnh của ý chí
   7- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hưu Xã Ưu bà di Quan niệm về Tịnh Độ
   8- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa Cư trần lạc đạo
   9- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thắng Nhiệt Bà la môn Làm mới cuộc sống
   10- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Từ Hạnh đồng nữ Lời tựa        
   11- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Kiến Tỳ kheo Ăn chay lợi cho sức khỏe và tâm linh
   12- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tự Tại Chủ đồng tử Chuyển hóa sanh thân thành pháp thân
   13- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Cụ Túc Ưu bà di Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam
   14- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Minh Trí Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị Tổ sư người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam
   15- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Pháp Bửu Kế Mật tông tại Việt Nam
   16- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Phổ Nhãn Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng
   17- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Vô Yểm Túc Phật giáo đi vào cuộc sống
   18- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Đại Quang Sự hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ
   19- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bất Động Ưu bà di Sức mạnh hòa hợp
   20- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Biến Hành ngoại đạo Tác động hỗ tương giữa thân và tâm
   21- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Ưu Bát La Hoa Tận dụng phương tiện hiện đại trong việc hoằng pháp
   22- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thuyền trưởng Bà Thi La Tứ chánh cần  
23.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Vô Thượng Thắng hay Di Lặc Bồ Tát Tu thiền tại Việt Nam
24- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân Vai trò của ni giới Việt Nam trong xã hội hiện đại
25- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với bà Tu Mật Đa nữ Ý nghĩa hóa thân Phật thuyết pháp
26- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Tỳ Sắc Chi La Ý nghĩa kệ dâng y
28.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Chánh Thu Ý nghĩa tập trung phân thân
27.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Quán Tự Tại Ý nghĩa tịnh độ
29- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thần Đại Thiên Cầu nguyện mùa vu lan
30- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Địa thần An Trụ Cư sĩ Phật giáo
31- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với chủ Dạ thần Bà San Bà Diễn Để Đạo đức Phật giáo trong tương lai
32- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Dạ thần Khai Phu Nhứt Thiết Thọ Hoa và Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Nhứt Thiết Chúng Sanh Điểm chung nhứt của Phật giáo nam truyền và bắc truyền  
33- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thọ thần Diệu Đức Viên Mãn Giới luật của người Phật tử tại gia
34- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ tát Di Lặc Bồ đề quyến thuộc
35- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Mối tương quan với thế giới siêu hình
36- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Phổ Hiền Bồ tát Chân tinh thần Phật giáo Bắc tông
CHƯƠNG VI – PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI – PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN Trồng căn lành và sám hối
16. Niết bàn theo kinh Pháp Hoa Lợi ích của an cư kiết hạ
17. Giáo dục của Phật Giáo Đại Thừa Tứ niệm xứ, tứ chánh cần
18. Những điều kiện tu Bồ Tát đạo Mùa xuân vĩnh hằng
19. Ngôi chùa tâm linh Kiến trúc Phật giáo
20. Hành trình về chân linh Kiến trúc Phật giáo  
21. Tu tâm Niềm tin của người phật tử Việt Nam
22. Canh tâm điền Sự an lạc trong gia đình
23. Đường về Yên Tử Báo đáp ơn nghĩa sinh thành
24. Nếp sống của một vị danh tăng Quan niệm về tịnh độ của kinh Di Đà
25. Ý nghĩa Phật Đản Pl.2538 (Tứ Nhiếp Pháp) Tam pháp ấn  
26. Ý nghĩa lễ đức Phật thành đạo Tinh thần từ bi hỷ xả, con đường tốt nhất đi đến hòa bình, phát triển và an lạc cho nhân loại
27. Phật giáo Việt Nam đang hướng về phía trước trên tinh thần vô ngã vị tha Từ bi và hòa bình trong Phật ngọc
28. Xuân hoan hỷ Tình yêu và giới tính theo tinh thần Pháp Hoa
29. Xuân trong cửa thiền Xây chùa, tô tượng, đúc chuông
30. Xuân của hành giả Pháp Hoa Xuân trong cửa đạo
Lời tựa lược giải kinh Pháp Hoa Bồ Tát Thích Quảng Đức, một bậc danh tăng siêu việt của thế kỷ 20
Lịch sử kinh Pháp Hoa Cái chết đối với người phật tử
Kinh đại thừa vô lượng nghĩa Giáo dục ở tự viện
Phẩm 1: Tựa Giới định tuệ
Phẩm 2: Phương tiện Khắc phục nghiệp, giữ chánh niệm, trụ chánh định
Phẩm 3: Thí dụ Khởi nghiệp mưu sinh theo Phật giáo
Phẩm 4: Tín giải Lễ Phật theo bổn môn Pháp Hoa
Phẩm 5: Dược thảo dụ Ngôi chùa tâm linh
Phẩm 6: Thọ ký Nhập không môn, vào vô lượng nghĩa định
Phẩm 7: Hóa thành dụ Nữ giới Phật giáo và sự kết nối toàn cầu
Phẩm 8,9: Ngũ bá đệ tử thọ ký, thọ học vô học nhơn ký Pháp phục của tăng ni Việt Nam
Phẩm 10: Pháp sư Phật giáo và môi trường sinh thái  
Phẩm 11: Hiện bảo tháp Phật giáo và phù đổng Thiên Vương
Phẩm 12: Đề Bà Đạt Đa Thâm nhập không môn
Phẩm 13: Trì Trụ định, hành trang tối thiểu của người tu
Phẩm 14: An lạc hạnh Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng
Phẩm 15: Tùng Địa Dũng Xuất Tu vô lượng nghĩa kinh, sống trong vô lượng nghĩa định, thâm nhập hội Pháp Hoa.
Phẩm 16: Như Lai thọ lượng Vô lượng nghĩa kinh và vô lượng nghĩa xứ tam muội
Phẩm 17: Phân biệt công đức Xây dựng đạo đức của người tu
Phẩm 18: Tùy hỷ công đức Yếu nghĩa của phẩm pháp sư, kinh Pháp Hoa
Phẩm 19: Pháp sư công đức Hướng đi của Phật giáo Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
Phẩm 20: Thường bất khinh Bồ Tát Những điều tâm đắc về hoằng pháp ( thuyết giảng tại Bình Định)
Phẩm 21: Như Lai thần lực Ý nghĩa Phật đản PL. 2550-2006
Phẩm 22: Đà La Ni Mỹ thuật Phật giáo
Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát bổn sự Vai trò của người phụ nữa trong kinh Hoa Nghiêm
Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát Những tư tưởng hòa bình, hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam
Phẩm 25: Phổ môn Đức Phật hằng hữu trong mỗi chúng ta
Phẩm 26: Diệu Trang nghiêm vương bổn sự Vai trò của Tăng già trong thời hiện đại
Phẩm 27: Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát Phật giáo trong nền toàn cầu hóa
Phẩm 28: Chúc lụy Giáo dục Phật giáo
Preface Một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa
Lời tựa lược giải kinh Duy Ma Ý nghĩa cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa
Tổng luận lược giải kinh Duy Ma Tịnh độ
Phẩm 1: Phật quốc Hóa thành dụ
Phẩm 2: Phương tiện   Phật giáo Nam tông vá Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Phẩm 3: Thanh văn Phật giáo trong lòng nhân dân miền Nam
Phẩm 4: Bồ Tát Vị trí của Pháp sư Huyền Trang trong Phật giáo
Phẩm 5: Văn Thù Sư Lợi thăm bệnh Xuân về trên cõi Tịnh
Phẩm 6: Bất tư nghì Vãng sanh cực lạc
Phẩm 7: Quán chúng sanh Cầu siêu bạt độ
Phẩm 8: Phật đạo Công đức của kinh Pháp Hoa
Phẩm 9: Nhập bất nhị pháp môn Nghệ thuật trong Phật giáo  
Phẩm 10: Phật Hương Tích Hoằng pháp ở thế kỷ 21
Phẩm 11: Bồ Tát đạo An cư dưỡng tánh - Thị phi phủi sạch
Phẩm 12: Kiến Phật A Súc Giữ giới và quán chiếu với tứ Thánh đế
Phẩm 13: Pháp cúng dường Gắn tâm với Đức Phật, với giáo pháp và Hiền thánh tăng
Phẩm 14: Chúc lụy Bốn pháp giải thoát
Lời tựa           Gạn sạch phiền não, nghiệp chướng, trần lao
Lịch sử Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Sám hối nghiệp chướng
Ý nghĩa Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Pháp Hoa chân kinh
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ I Ý nghĩa 12 đại nguyện của Đức Phật Dược Sư
Ý nghĩa phương tiện và chân thật Vũ trụ quan theo Phật giáo
Ý nghĩa Thí Dụ Sống an lạc, chết siêu thoát
Ý nghĩa phẩm Pháp Sư thứ 10 Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng
Ý nghĩa phẩm An Lạc Hạnh thứ 14 Quan niệm về đức Phật theo kinh Pháp Hoa  
Ý nghĩa phẩm Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ mười lăm Pháp Phật và an toàn giao thông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ mười sáu Đức Phật của chúng ta
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, phẩm Pháp Sư công đức thứ 19 Đạo đức Phật giáo
Bồ Tát hạnh: Dược Vương Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Diệu Trang Nghiêm Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Bồ tát hạnh theo kinh Pháp Hoa
Lời tựa           Mùa xuân của hành giả phát tâm bồ đề
Pháp Hội 33 : Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện Những điều tâm đắc về kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 34 : Công Đức Bửu Hoa Phu Bồ Tát Ý nghĩa Phật Đản PL 2543 - 1999
Pháp Hội 35 : Thiện Đức Thiên Tử Kinh nghiệm hoằng pháp  
Pháp Hội 36 : Thiện Trụ Ý Thiên Tử Tìm hiểu xã hội học Phật giáo
Pháp Hội 37 : A Xà Thế Vương Tử Theo dấu người xưa
Pháp hội 38: Đại Thừa Phương Tiện Những điều cần làm trong mùa An cư
Pháp Hội 39 : Hiền Hộ Trưởng Giả Bốn bậc trưởng lão được kính trọng
Pháp Hội 40 : Tịnh Tín Đồng Nữ Trở về viên minh tánh
Pháp Hội 41 : Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp Điều kiện để có kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 42 : Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại  
Pháp Hội 43 : Phổ Minh Bồ Tát Ý nghĩa an cư kiết hạ
Pháp Hội 44 : Bửu Lương Tụ Bồ tát quả môn
Pháp Hội 45 : Vô Tận Huệ Bồ Tát Mùa an cư - tiến tu tam vô lậu học
Pháp Hội 46 : Văn Thù Thuyết Bát Nhã Công việc của Tỳ kheo chân chánh
Pháp Hội 47 : Bửu Kế Bồ Tát Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ
Pháp Hội 48 : Thắng Man Phu Nhân Bất biến, tùy duyên
Pháp Hội 49 : Quảng Bác Tiên Nhân Bàn về nghi lễ
Pháp Hội 50 : Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm Tu hành đúng như pháp là tối thượng cúng dường
Pháp Hội 52 : Bửu Nữ Chọn pháp tu an lạc
Pháp Hội 53 : Bất Thuấn Bồ Tát Phát huy chân linh
Pháp Hội 54 : Hải Huệ Bồ Tát Nghĩ về Phật giáo Nhật Bản
Pháp Hội 55 : Hư Không Tạng Bồ Tát Ý nghĩa phẩm Tín giải trong kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 56 : Vô Ngôn Bồ Tát Bồ đề tâm  
Pháp Hội 57 : Bất Khả Thuyết Bồ Tát Đức Phật trong nền văn minh Ấn Độ
Pháp Hội 58 : Bửu Tràng Bồ Tát Một chuyến đi về miền đất Phật
Pháp Hội 59 : Hư Không Mục Giác Ngộ với thiên niên kỷ 3
Pháp Hội 60 : Nhựt Mật Bồ Tát Suy nghĩ về số mệnh trong Phật giáo
Pháp Hội 61 : Vô Tận Ý Bồ Tát Thiền trong đời thường
Lời tựa  Hướng về Thánh tích của Phật giáo
Tiểu sử   Lời tựa           
Thọ giới, tu hành, nỗ lực thâm nhập dòng thác trí tuệ Tam vô lậu học  
Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội Quý nhứt trên đời
Thức ăn tinh thần của người tu Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng  
Thực tu, cảm hóa được chư thiên và quần chúng Sinh hoạt trong mùa An cư  
Trau dồi giới đức, siêng tu tam vô lậu học Suy nghĩ về ý mã tâm viên  
Lời tựa    An lạc hạnh   
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2539 -1995 Tam vô lậu học: Giới, Định, Tuệ  
Tam vô lậu học An cư kiết hạ   
Quý nhất trên đời Cơm Hương Tích  
Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng Bồ tát đạo   
Ý nghĩa Vu lan PL. 2539 - 1995 Mùa An cư sáu thời tịnh niệm  
Nhìn về thế kỷ 21 Tinh thần Phật giáo Đại thừa  
Xuân Pháp Hoa Nhân duyên - căn lành  
Hướng về tương lai Chơn thân - huyễn thân  
Ý nghĩa Niết bàn Chín tuần tu học, đồng đăng cửu phẩm Liên hoa  
Internet, những nỗi lo mới Những việc cần làm trong ba tháng An cư  
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2540 -1996 Hành trang của người xuất gia: căn lành và Phật hộ niệm  
Cảm nghĩ về hoài bão của Đức Phật Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật  
Phật giáo và thực tiễn cuộc sống Trở về viên minh tánh  
Sinh hoạt trong mùa An cư Theo dấu người xưa  
Suy nghĩ về ý mã tâm viên Những điều cần làm trong mùa An cư  
Suy nghĩ về hoằng pháp Tu tâm  
An lạc hạnh Bốn bậc trưởng lão được kính trọng  
Tam vô lậu học : Giới-Định-Tuệ Bồ tát quả môn   
An cư kiết hạ   Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ  
Cơm Hương Tích Mùa An cư - tiến tu Tam vô lậu học  
Ý nghĩa lễ Vu lan Bất biến, tùy duyên  
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2540 - 1996 Công việc của Tỳ kheo chân chánh  
Ơn nghĩa đồng bào Phát huy chân linh  
Hướng về những người con tương lai của đất nước Bàn về nghi lễ  
Hãy đến với Chương trình "Hiểu và Thương" Sáu pháp hòa kỉnh trong mùa An cư  
Lòng từ của Bồ tát Quan Âm Đại thừa Phật giáo  
Bồ đề tâm Tu trên ngũ uẩn thân  
Suy tư của người Phật tử về những vấn đề lớn Trụ pháp và lực gia bị của Phổ Hiền  
Đầu tư - vấn đề nan giải Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ: học, tu và làm việc  
Những điều tâm đắc trên đường về Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Lấy từ bi xóa hận thù Hài hòa, con đường an lành  
Thuận lợi và nguy cơ Nếp sống của người tu  
Lá thư Tổng Biên tập Con đường giải thoát  
Lá thư Xuân (trích Nguyệt san GN số 10) Kinh Đại Bảo Tích pháp hội 59: Hư không mục  
Ý Xuân Ý nghĩa sám Pháp Hoa  
Lá thư Xuân (trích Báo GN số 41) Phật giáo Nam tông  
Những suy nghĩ về Hội nghị kỳ 5 khóa III Trung ương Giáo hội Đạo lực
Năm mới với niềm hy vọng mới Năm đặc điểm của người tu
Trách nhiệm và chức vụ Ý nghĩa Tam vô lậu học
Thành quả của Đại hội Phật giáo TP. HCM kỳ V Pháp tu trong ba tháng An cư
Sự đi lên của Phật giáo miền Trung Hướng đi giải thoát
Hướng phát triển tốt đẹp trong mùa An cư Hạnh an lạc
Hướng về ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7 Tỉnh giác là chơn giác
Lễ Vu lan - ngày đền ơn đáp nghĩa của Đông phương Ý nghĩa xuất gia  
Thương tiếc danh tăng An cư và hạnh đầu đà
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2541 - 1997 Cảm niệm Phật A Di Đà
Mừng 52 năm, một chặng đường phát triển của đạo pháp Cùng giúp nhau hoàn thiện tư cách người xuất gia
Vấn đề trẻ hóa lãnh đạo Hành đạo tùy duyên
Phật giáo Việt Nam, một tương lai tươi sáng Nhu đạo và Tịnh độ
Kết quả Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV Những kinh nghiệm tu hành
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VI (1994) Sự hộ niệm của Phật, Bồ tát, Thiên Long Bát Bộ
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VII (1999) Thể nghiệm pháp Phật
Cảm niệm cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa Tịnh độ   
Cảm niệm ân sư Trụ pháp Vô sanh
Đức Pháp chủ là biểu tượng đoàn kết các hệ phái Phật giáo Tu hành là chuyển hóa hữu lậu ngũ uẩn thành vô lậu ngũ uẩn
Cảm niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ Vai trò của nữ tu Phật giáo trong thời Bắc thuộc
Cảm niệm về Hòa thượng Thích Thiện Hào Y báo và chánh báo
Duyên kỳ ngộ Ý nghĩa Tịnh độ   
Hồi tưởng về đức hạnh của Hòa thượng Thích Tâm Thông Tất cả pháp môn tu đều là Phật pháp
Sáng niềm tin Ngộ tánh khởi tu
Một hình ảnh khó quên trong cuộc đời hoằng pháp của tôi Theo dấu chân Phật   
Cảm niệm ân sư (Kỷ niệm lễ chung thất Hòa thượng Thích Trí Đức) Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức
Những kỷ niệm với Hòa thượng Thích Thiện Châu Những khởi sắc của Phật giáo tỉnh Lâm Đồng
Nghĩ về Hòa thượng Thích Thanh Kiểm Trau dồi giới đức, phát triển tuệ lực
Tưởng niệm Ni trưởng Huê Lâm Tu đúng pháp
Ni sư Huỳnh Liên Tâm đức và tuệ đức
Nghĩ về Ni trưởng Như Hòa nhân ngày Tiểu tường An cư là tịnh hóa thân tâm
Lời nói đầu   An trú bây giờ và ở đây
Hoằng pháp Tăng trưởng đạo lực
Những điều tâm đắc về hoằng pháp Đi theo dấu chân Phật và các bậc tiền nhân
Kinh nghiệm hoằng pháp Tâm là Diệu pháp, thân là Liên hoa
Hoằng pháp theo nhân duyên Tu là chuyển nghiệp
Ý nghĩa thuyết pháp Thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học.
Giáo dục và hoằng pháp Nương lực Phổ Hiền Bồ tát để tiến tu
Lời tựa      Sống vô ngã vị tha
Ý nghĩa kinh hành niệm Phật Trí tuệ và đạo đức là sức mạnh của người tu
Ý nghĩa tĩnh tâm Tinh thần tùy duyên và bất biến
Lục hòa Làm cho đất nước cũng là làm cho Phật giáo
Sáu pháp ba la mật Bình thường tâm thị đạo và ngôi chùa tâm linh
Tịnh độ theo kinh Duy Ma Học hiểu giáo lý đúng đắn và ứng dụng có hiệu quả vào cuộc sống tu hành
Tam minh Phát huy đạo đức và trí tuệ làm đẹp cho đạo tốt cho đời
Hồi hướng theo kinh hoa nghiêm Ngủ trong tỉnh thức
Xử thế của đạo Phật Sự gắn bó giữa Tăng Ni và Phật tử là điều cần thiết
Tam bảo Nhận ra con người thực của mình để tiến tu
Nhập thế của đạo Phật Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định mọi thành công
Tứ hoằng thệ nguyện Ý nghĩa hồng danh sám hối
Xuân Di Lặc Đoạn phiền não - tâm bình an  
Báo hiếu theo kinh vu lan Giàu đạo đức, giàu tuệ giác  
Phật giáo và pháp luật Giới đức Pháp thân  
Khái niệm về giới luật của người phật tử tại gia An trụ tịch diệt tướng  
Ý nghĩa xuất gia Lắng tâm, tịnh niệm  
Ngọn đuốc xuân Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh  
Ngũ uẩn Ngũ ấm ma trong chúng ta  
Hòa thượng Thích Quảng Đức, một con người bất tử Phát huy đạo lực  
Mông sơn thí thực Sống trong tỉnh giác  
Tính cách pháp lý của giáo hội Tấm gương sáng của Tổ Huệ Đăng  
Những thành quả của giáo hội Phật giáo Việt Nam Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp  
Ý nghĩa đại trai đàn Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội  
Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa Thức ăn tinh thần của người tu  
Lắng tâm, tịnh niệm Thực tu, cảm hóa được chư Thiên và quần chúng  
Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh. Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm  
Ngũ ấm ma trong chúng ta Trau dồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học  
Phát huy đạo lực Tu bồi cội phúc  
Phước đức và trí tuệ Tùy duyên      
Tấm gương sáng của tổ Huệ Đăng Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa  
Tâm tạo ra tất cả Ý nghĩa Nhà lửa tam giới trong kinh Pháp Hoa  
Tu bồi cội phúc Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa  
Tùy duyên  

 

Tam minh

 

(Bài giảng mùa Phật Thành đạo PL. 2530 – 1986)

 

Nhân cách thánh thiện và giáo pháp vi diệu của Đức Thế Tôn trải qua hơn 2.500 năm vẫn còn là biểu tượng cao quý, là ngọn đuốc soi đường cho cuộc sống an bình, tịnh lạc của loài người chúng ta. Mạng mạch Phật giáo trường tồn mãnh liệt và hiện hữu sáng ngời với mọi biến chuyển đổi thay của thời gian. Điều ấy thật sự bắt nguồn từ phút giây Đức Phật thành đạo, tìm ra chân lý và thể hiện chân lý trong cuộc sống con người suốt 49 năm ngài hoằng hóa độ sinh. Vì thế, mọi người tôn xưng ngài là bậc Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn.

Sau thời điểm mà ngài chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác dưới cội Bồ đề, điều gì đã phát hiện, hình thành trong tâm trí ngài, để ngài được tôn thờ là Phật, là bậc giác ngộ,sáng suốt hoàn toàn ? Nói cách khác, tại sao ngài là người trí đức vẹn toàn với đầy đủ mười hiệu.

Dù thái tử Sĩ Đạt Ta là người thông minh xuất chúng, cũng có lòng từ bi rộng lớn. Và Sa môn Cù Đàm cũng đã nỗ lực tu hành trong suốt năm năm tìm đạo, sáu năm khổ hạnh, vượt hơn mọi giáo chủ ngoại đạo. Nhưng tại sao chỉ sau đêm thành đạo, mọi người không còn xem ngài là thái tử Sĩ Đạt Ta hay Sa môn Cù Đàm.

Muốn tìm hiểu điều gì đổi mới trong cuộc đời ngài, mà chúng ta thường gọi là thành đạo; hãy quan sát quá trình tu hành của Đức Phật.

Ngược dòng thời gian cách đây hơn 25 thế kỷ, thái tử xuất thân trong giai cấp cao nhất. Nhưng cuộc sống vật chất hạnh phúc không giam hãm được tâm hồn cao cả của ngài luôn hướng về giải thoát. Ngài thường quan sát con người là gì và thế giới xung quanh là gì. Đó là động cơ thúc đẩy ngài lên đường tìm thầy học đạo, là tiền đề mà thái tử đặt ra để dấn thân.

Trong năm năm, ngài đến thọ giáo với tất cả đạo sĩ danh tiếng trong nước. Và chẳng bao lâu, đệ tử thông minh xuất chúng Cù Đàm đã thấu triệt giáo lý của thầy. Tuy nhiên, ngài nhận thấy rằng không ai có đủ khả năng dẫn dắt ngài đạt đến mục tiêu; vì tất cả đều chưa thoát khỏi vòng vô minh. Từ đó, ngài không tìm sự giúp đỡ bên ngoài nữa.

Trong sáu năm kế tiếp, ngài tự khép mình vào những pháp tu cực kỳ khổ hạnh và lại nhận thấy chúng cũng không đưa đến giác ngộ. Ngài chấm dứt việc nhịn ăn, xuống sông tắm gội và nhận một bát sữa do một thiếu nữ dâng lên. Sức khỏe được phục hồi, ngài liền trải cỏ ngồi Thiền dưới cây Bồ đề với lời phát nguyện kiên cố "Dù thịt xương ta có tan nát, gân cốt ta có rã rời, máu ta có khô; ta cũng sẽ không rời cây Bồ đề, nếu không đạt đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.

Phát nguyện xong, ngài tham Thiền nhập định trong 49 ngày, kiểm chứng được thân và tâm của con người, cùng hoàn cảnh của con người. Sự giác ngộ ấy trải qua ba tầng. Đầu đêm, ngài chứng được tuệ giác Túc mạng minh, giữa đêm chứng được tuệ giác Thiên nhãn minh và cuối đêm chứng được tuệ giác Lậu tận minh.

Tam Minh mà Đức Phật phát hiện trong đêm thành đạo là bước ngoặc đánh dấu sự biến chuyển tư cách của Đức Phật. Từ một Sa môn Cù Đàm khao khát tìm chân lý, ngài trở thành một bậc giác ngộ sáng suốt hoàn toàn, thấy rõ và sử dụng được quy luật cấu tạo con người và thế giới con người. Từ đây về sau, ngài có nếp sống giải thoát và ảnh hưởng cho người xung quanh giải thoát theo.

Vì vậy, tìm hiểu Tam Minh là điều tất yếu cần thiết của hàng Phật tử, nếu muốn tiến theo đúng lộ trình mà Đức Phật đã đi.

1- TÚC MẠNG MINH

Túc mạng minh của Đức Phật không phải làmột thần thông huyền bí khó hiểu. Đó là một kiến giải, một hiểu biết rất thực tiễn màĐức Phật đã thành tựu trải qua một quá trình tu học.

Thật vậy, từ thuở nhỏ, ngài rất thông minh hiếu học; lại thuộc dòng họ Sakya là dòng dõi chuyên học. 16 tuổi, ngài đã tinh thông tất cả ngôn ngữ văn tự Ấn Độ và thuộc lòng, hiểu trọn bốn thứ kinh Vệ Đà.

Với bản chất hay suy tư, lại trưởng thành trong bối cảnh lịch sử của xã hội Ấn Độ vốn có nhiều tư tưởng triết học, đạo học khác nhau. Ngài dồn mọi nỗ lực vào việc tham học với các đạo sĩ danh tiếng và cả cuộc đời ngài là một cuộc tìm kiếm chân lý không ngừng nghỉ.

Khởi đầu, ngài nhận thấy truyền thống Veda quan niệm hiện hữu một Thượng đế siêu việt, hay Brahma. Vị này đã sáng tạo và an bài con người cùng toàn thể vũ trụ. Tiếp theo là thời hậu Upanishad chủ trương hiện hữu một Tự Ngã gọi là Atman, hay một linh hồn bất tử.

Ngoài ra, còn có nhiều khuynh hướng, hay tư tưởng khác. Nhưng Veda và Upanishad là hai tư tưởng triết học chính yếu thống trị xã hội Ấn Độ thời ấy.

Với trí tổng hợp, ngài thấy rõ chiều hướng manh nha và sự phát triển của tư tưởng loài người. Thật vậy, trong quá trình năm năm xuất gia tìm đạo, Sa môn Cù Đàm đã quan sát xã hội ngài đang sống, tìm hiểu xem kiến thức của những người đồng thời với ngài như thế nào. Bằng sự thiết thân thể nghiệm, ngài cũng biết rõ các pháp tu đương thời cũng như hoàn cảnh dẫn họ đến pháp tu ấy.

Ngài nhận chân được rằng vì người ta còn thấp kém, nên thường sợ sệt trước mọi hoàn cảnh khó khăn của thiên nhiên. Vì thế, họ hình thành một niềm tin dựa trên Thượng đế, để nương cậy, che chở họ được an toàn, giống như một đứa trẻ cần nương tựa sự bảo bọc của cha mẹ.

Ngoài ra, với ý muốn tự tồn, con người đã dựng lên ý niệm linh hồn bất tử, hay Atman sống mãi đến vô cùng tận. Đối với ngài, do si mê, sợ hãi, yếu đuối, hay tham vọng mà mọi người thời ấy sống bám vào hai hệ tư tưởng trên.

Trên đoạn đường tham học, với nhận thức vượt hẳn mọi người, ngài nhận ra được các pháp tu của ngoại đạo chỉ dẫn đến bế tắc, cùng mằn trí tuệ và thất bại khổ đau trong cuộc sống. Vì thế, ngài đã từ bỏ họ.

Với bản chất ưa thích trầm tư mặc tưởng và có tình thương vô hạn đối với mọi người, ngài thường suy tư về sự bất công trong xã hội đẳng cấp, về nỗi thống khổ của giai cấp thấp kém Paria. Và xa hơn, ngài nghĩ đến sự bất lực của con người trước cảnh sinh, già, bệnh, chết của một kiếp người ngắn ngủi.

Tất cả suy tư này một lần nữa khơi dậy nơi ngài tâm đại bi và ý hướng cầu Vô thượng Bồ đề, để giải thoát con người ra khỏi mọi khổ đau, đem lại hạnh phúc thật sự vĩnh cửu cho họ trên cuộc đời. Ngài liền tiếp tục lộ trình tìm chân lý, bằng cách thực nghiệm pháp tu khổ hạnh của các Sa môn thời ấy. Trải qua sáu năm khổ hạnh, ngài nghiền ngẫm những gì đã học hỏi với các đạo sĩ trong năm năm tìm đạo. Ngài tập trung thântâm, suy tư đến độ thân ngài như cây khô, da bụng dính vào xương sống.

Với sự tư duy mãnh liệt lâu ngày, những sai lầm của đạo sĩ được phơi bày trước mắt ngài. Chúng chỉ là kết quả của sự tưởng tượng mà thôi. Như vậy, ngài tu khổ hạnh không phải để ép xác như một người ngu, hay để tập luyện một số phép lạ, thần thông. Nhưng ngài vì theo đuổi mục tiêu quá lớn, mà vận dụng suy tư đến quên ăn, quên ngủ. Ngài đã thiết thân kiểm chứng những quan niệm siêu hình và thấy rằng con đường của truyền thống cổ xưa để lại không giúp cho việc phát sinh trí tuệ, tìm được chân lý. Ngài liền từ bỏ lối tu khổ hạnh.

Sau khi dùng một bát sữa, ngài nhớ lại một buổi lễ hạ điền khi còn thơ ấu. Trong lúc vua cha và mọi người say mê tham dự các cuộc vui, ngài đã ngồi dưới bóng cây tham Thiền nhập định và đắc sơ Thiền.

Ngài lại tiếp tục hành Thiền. Ngài quán sát thấy rằng con người, hay vạn vật đều có mâu thuẫn nội tại và ở trong quy trình vận động, biến chuyển không ngừng. Những sự biến đổi ấy không do lực lượng siêu nhiên bên ngoài tác động; không do Thượng đế an bài, hoặc con người không thể nhận được. Tất cả là những vận động, đổi thay một cách khách quan theo lý duyên sinh và luật nhân quả.

Trải qua quá trình học hỏi, tư duy, thể nghiệm trong năm năm tìm đạo, sáu năm khổ hạnh và 49 ngày tĩnh tâm dưới cội Bồ đề, Sa môn Cù Đàm đã đạt được cái thấy xác thực đầu tiên là tuệ giác Túc mạng minh.

Túc mạng minh không thể hiểu đơn giản một chiều là cái thấy của Đức Phật về kiếp trước của ngài và mọi người. Với Túc mạng minh, ngài thấy rõ cấu tạo của con người, thấy đúng như sự thật của nó. Nghĩa là ngài thấy rõ diễn tiến của chuỗi dài thừa kế theo lịch sử tiến hóa của loài người.

Thật vậy, qua kinh nghiệm lịch sử, Đức Phật thừa kế được tri thức của loài người từ sơ thủy cho đến khi ngài ra đời. Tất cả học thuyết có trước Đức Phật, ngài đã học qua và những học thuyết đương thời ngài đã thể nghiệm.

Mặc dù sau này ngài bác bỏ những nhận thức sai lầm đó. Nhưng nhờ biết rõ tất cả sai lầm, hoặc việc đúng đắn thành công, hay thất bại trong kho tàng tri thức của những người đi trước, mà ngài tập họp, phân tích, gạn lọc và có được cái thấy thực tại chính xác của con người. Con người ở đây không chỉ cho nhục thân, mà nhằm chỉ cái thân hiểu biết được kinh Hoa Nghiêm gọi là Trí thân.

Ngài thấy được con người ngày nay chính là con người kéo dài từ quá khứ ăn lông ở lỗ, cho đến móc xích hiện tại; trong đó có ngài và mọi người. Bởi vì thân hiểu biết của mọi người ngày nay là kết tinh của sự tiếp nhận tri thức quá khứ mà tạo thành tri thức của mình.

Với Túc mạng minh, ngài kế thừa, chọn lọc, tổng hợp Trí thân của quá khứ, để tạo thành Phật thân là thân đầy đủ trí tuệ, sáng suốt. Trong khi những người khác vì không có quá trình tu tập như Đức Phật, nên không tạo được Trí thân như ngài.

Có Trí thân, Đức Phật trở về thăm hoàng cung và được vua Tịnh Phạn trao cho áo mão để tiếp nối sự nghiệp của ông. Đức Phật đã từ chối và khẳng định rằng ngài trở về với tư cách là một người thừa kế tuệ giác của chư Phật quá khứ; không phải thừa kế sự nghiệp vật chất bằng nhục thân này.

Chứng được Túc mạng minh, Đức Phật đã phủ nhận sự hiện hữu của đấng Tạo hóa hay Thượng đế toàn năng siêu việt. Trong kinh Túc Sanh chuyện, Đức Phật dạy rằng :

" Ta liệt Brahma vào hạng bất công

Đã tạo nên một thế giới hư hỏng”

Đây là vấn đề căn bản khác biệt giữa đạo Phật và các tôn giáo khác. Các tôn giáo thường dựa vào nếp nghĩ mê tín của con người trong thời đại cổ sơ để đặt ra một số giáo điều, hay những tư tưởng đòi hỏi niềm tin mù quáng nơi Thượng đế. Trong một thời gian dài, người ta quen nghĩ rằng nhận thức hay trí tuệ của con người có được là nhờ Thượng đế mặc khải qua Atman. Với nếp nghĩ như vậy dẫn đến sự ký thác vận mạng của mình cho một thế lực siêu nhiên. Kết quả là làm cản trở sự phát triển tri thức, hay hạn chế sự tự chủ, tự giác của con người, cho đến khiến họ trở thành bất lực hoàn toàn.

Trái lại, Đức Phật không dạy những gì thần bí. Ngài dẹp bỏ các lý luận siêu hình, viễn vông. Ngài chủ trương trở về với con người và đặt niềm tin nơi khả năng nhận thức vô tận của con người. Theo Phật, con người có thể tiếp nhận và sử dụng đúng đắn chân lýkhách quan, hay những quy luật chi phối con người và vũ trụ.

Thật là sáng suốt khi Đức Phật ở vào bối cảnh của xã hội còn trong giai đoạn sơ khai, ngài đã dạy rằng con người là chủ nhân ông của chính mình và con người là hơn cả. Giá trị và địa vị của con người hơn cả muôn loài. Vì con người thuộc loài trung cấp nối liền giữa Phật giới và chúng sinh giới. Vì thế, con người có đủ điều kiện tự giải thoát cho mình, cho người, bằng cách lý giải chân lý và thể hiện chân lý.

Chính Đức Phật cũng mang thân tứ đại, ngũ uẩn như chúng ta. Ngài luôn luôn đứng ở vị trí con người để tìm đạo, học đạo, tu tập, chứng thành đạo quả và hoằng pháp độ sinh. Ngài đắc đạo hoàn toàn do nỗ lực của trí tuệ phá trừ vô minh, tà kiến. Nghĩa là ngài tìm được phương hướng kiểm soát, chi phối nội giới và ngoại giới.

Kiểm soát nội giới hay điều chỉnh được tình cảm thấp kém, dẹp bỏ tham vọng, tri thức phiền não của con người. Khắc phục ngoại giới, không còn lệ thuộc vào vật chất và hoàn cảnh sống. Nói cách khác, tìm được công thức chỉ đạo cuộc sống tự tại giải thoát cả hai mặt vật chất và tinh thần.

Cùng là người, nhưng người chi phối hoàn toàn nội giới và ngoại giới thì đó là Phật. Còn người mê mờ không nắm được quy luật nội ngoại cảnh là chúng sinh. Đó chính là ý nghĩa Đức Phật đã thành Phật ngay trong địa vị làm người. Có thể nói Đức Phật là người toàn diện đã biết khai thác, sử dụng trọn vẹn trí tuệ của con người để đạt đến giác ngộ, giải thoát.

Tuy nhiên, không phải chỉ có Đức Phật là người duy nhất đạt được quả vị giác ngộ hoàn toàn. Bằng tuệ giác Túc mạng minh, ngài thấy được mỗi người là một vị Phật sẽ thành. Mọi người đều bình đẳng trước chân lý. Vì thế, sau khi thành đạo, Đức Như Lai đã trở về với xã hội loài người, dìu dắt chúng sinh theo ngài qua cửa Vô sinh bất diệt.

Ngài dạy rằng mọi người đều có khả năng thành Phật, có khả năng chuyển mê thành sáng suốt. Nhưng chúng ta không biết vận dụng tiềm năng này, để cam chịu sống mãi với mê lầm, khổ đau. Đức Phật hiện hữu trên cuộc đời nhằm chỉ cách thức khai thác khả năng thành Phật sẵn có của mọi người.

2- THIÊN NHÃN MINH

Từ tuệ giác Túc mạng minh, Đức Phật tổng hợp được tri thức quá khứ, thấy được thân mạng của ngài và của mọi người. Ngài tận lực suy tư, phát hiện ra sự hiểu biết hiện tại, gọi là tuệ giác Thiên nhãn minh. Đó là cái thấy đúng đắn về xã hội đang sống, hay rộng ra là vũ trụ loài người.

Với Thiên nhãn minh, ngài thấy loài người thời bấy giờ không phải vừa phát xuất từ Trung Á kéo sang chiếm Ấn Độ. Nhưng ngài thấy cả tam thiên đại thiên thế giới, nghĩa là mọi loài đang sinh hoạt tương quan tương duyên như thế nào thì ngài đều biết rõ.

Đức Phật xác định thế gian không phải như ngoại đạo chủ trương chỉ có hai mặt là mặt hữu hình, tức thế giới chúng ta đang sống và mặt vô hình do thần linh cai quản. Ngài đánh đổ vũ trụ quan mê tín của nhất thần và đa thần giáo. Ngài kiến lập một vũ trụ quan đặt nền tảng trên định lý duyên khởi, thấy tất cả vạn pháp và mình không khác, không có cái gì độc lập riêng biệt mà tồn tại.

Theo ngài, nhất thiết pháp nhân duyên sinh, nghĩa là mọi sự vật và hiện tượng đều tồn tại trong mối tương quan tương liên giữa nhiều sự vật khác nhau. Hoặc giữa các mặt khác nhau của cùng một sự vật, tác động ảnh hưởng lẫn nhau theo quá trình biến đổi trong không gian và thời gian.

Do cái này có thì cái kia có; do cái này sinh thì cái kia sinh. Đó là quy tắc giải thích tương quan tương duyên của lý duyên khởi.

Vì sự hiện hữu của các pháp do nhân duyên hòa hợp; mà nhân duyên thì trùng trùng duyên khởi. Vì thế, thực tại không phải là cái thường hằng bất biến, nhưng là một năng lực di động, tiếp nối không ngừng. Để diễn tả sự biến chuyển liên tục, Đức Phật dạy rằng tất cả đều có, đó là chấp trước của thế gian. Tất cả đều không, đó là chấp trước của thế gian. Tất cả là một, đó là chấp trước của thế gian. Tất cả là khác, đó là chấp trước của thế gian. Thế giới này đa số đều chấp chặt vào hai cực đoan là có và không.

Thật vậy, trong thế giới kinh nghiệm của chúng ta, thường diễn tả bằng danh từ có, hoặc không. Nhưng nhìn vào chiều sâu của sự vật, hay dưới dạng thể tánh của nó, có lẽ ngôn ngữ loài người không thể diễn tả sự thật. Chân lý có thể nằm ở giữa "có’ và "không”. Ví như một dòng sông chảy liên tục và trên mặt sông thì dường như lúc nào cũng vậy, không thay đổi. Nhưng dòng nước không bao giờ đứng yên một chỗ.

Chúng ta không thể tìm thấy một cái gì độc nhất, thường hằng làm nhân cho vật khác phát sinh. Tính chất của sự vật là luật quan hệ hỗ tương nội tại của nó với những vật khác. Vì vậy, Đức Phật đã nói trong kinh Anguttara Nikaya rằng thế giới tồn tại là một dòng biến chuyển liên tục và vô thường.

Cũng chính vì những thực tại khách quan luônluôn thay đổi, Đức Phật dạy chúng ta không nên chấp chặt một pháp nào, xem nó như một chân lý vĩnh cửu bất biến. Theo ý nghĩa đó, sau khi giảng về lý duyên khởi, ngài dạy rằng : "Hỡi các Tỳ kheo, thuyết ấy rõ ràng minh bạch là thế. Nhưng nếu các con bám chặt vào nó, nếu các con quý chuộng nó, cất giữ nó, nếu các con ràng buộc với nó, là các con không hiểu được rằng giáo lý như một chiếc bè dùng để qua sông, chứ không phải để ôm giữ lấy”.

Những lời dạy trên của Đức Phật thể hiện tinh thần phóng khoáng, khuyến khích mọingười phát triển nhận thức, tư duy của mình trên bước đường tu học. Cũng như thể hiện tinh thần tôn trọng sự thật khách quan bằng cách trang bị cho mọi người "Như thị tri kiến”.

Như thị tri kiến là nhìn sự vật đúng với sự thật của sự vật; không phải là cái thấy bằng tưởng tượng. Khi Đức Phật chưa thành đạo, ngài tọa Thiền giữa rừng già. Đêm xuống có đủ mọi hiện tượng ghê sợ đe dọa. Các ngoại đạo dạy ngài tập trấn an bằng cách tưởng tượng lấy ngày làm đêm, lấy đêm làm ngày. Nhưng sự giả tưởng ấy không đemđến cho ngài sự trấn tỉnh. Cuối cùng, ngài không áp dụng pháp tưởng tượng này. Trái lại, ngài quan sát thực tại đúng như thật; thấy rõ đêm là đêm và ngày là ngày.

Nhìn sự vật đúng như sự thật của sự vật nghĩa là không phải chỉ thấy bề ngoài hay hiểu biết bằng tình cảm. Phải biết rõ bản chất của sự vật, biết được quy luật chi phối suốt một quá trình từ khởi điểm cho đến phát triển và tan hoại của sự vật.

Dưới tuệ giác Thiên nhãn minh, Đức Phật không để chúng ta vướng bận trong thế giới siêu hình, làm lạc hướng suy tư. Ngài hướng dẫn chúng ta trở về đời sống thực tế con người và nhận thức những vấn đề trong cuộc sống. Giáo lý Đức Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn, nhưng chính yếu vẫn là tinh thần Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác. Vì vậy, chúng ta sẽ sai lầm khi đi tìm chân lý bằng cách xa lánh cuộc sống trần thế, hay tìm nó ở thế giới hư vô. Đức Phật không dạy chúng ta từ bỏ cuộc đời. Ngài dạy chúng ta một nếp sống đạo đức cao đẹpvà trí tuệ trong sáng, để có nhận thức sinh động, phù hợp với thế giới luôn chuyển đổi.

Chính Đức Phật đã thành đạo ngay giữa cuộc đời này, cho chúng ta thấy chân lý là đóa hoa nở trong sinh tử, không phải từ một cõi xa xăm nào rớt xuống. Lìa chúng sinh thì không có Phật, cũng như hoa sen không nở ngoài bùn.

Tuy nhiên, muốn đạt được cái thấy và hiểu sự vật đúng như sự thật của tuệ giác Thiên nhãn minh, Đức Phật đã tư duy để thoát khỏi bế tắc, sai lầm, nghĩa là thoát ly sinh tử. Đó là kết quả của quá trình từng bước diệt vô minh, đoạn trừ những kiến hoặc và tư hoặc.

Để diệt trừ kiến hoặc, hướng dẫn con người biết nhìn thẳng thực tại, loại trừ mê mờ chấp trước, hay niềm tin mù quáng, Đức Phật dạy về mười điều hoài nghi như sau :

"Đừng chấp nhận điều gì, chỉ vì ta đã nghe thấy có người nói điều ấy một lần. Đừng chấp nhận điều gì, chỉ vì điều ấy được truyền lại từ xưa. Đừng chấp nhận điều gì, chỉ vì điều ấy được viết ra trong kinh sách. Đừng chấp nhận điều gì, vì chính ta đã ước đoán và nêu ra như thế. Đừng chấp nhận điều gì, vì chính ta đã suy diễn và nói ra như thế. Đừng chấp nhận điều gì, chỉ vì bề ngoài tỏ ra như thế. Đừng chấp nhận điều gì, chỉ vì điều ấy hợp với thành kiến của ta. Đừng chấp nhận điều gì, chỉ vì tính cách có thể chấp nhận được của điều ấy. Đừng chấp nhận điều gì, chỉ vì sự kính trọng của ta đối với người ấy”.

Để phá trừ tư hoặc, Đức Phật dạy rằng phải gột rửa tâm trí ta cho sạch hết những bụi bặm dày đặc mà dục vọng đã tạo ra. Vì vậy, khi chúng ta càng xa rời khát ái của tư hoặc và vọng tưởng điên đảo của kiến hoặc; trí tuệ càng sáng suốt và tầm nhìn càng chính xác, gần Phật hơn. Phật này là chân lý, là sự thật trên cuộc đời vậy.

Đạt được Thiên nhãn minh, chúng ta sẽ nhận thức rõ ràng các pháp gắn bó theo sự biến chuyển của sự vật khách quan và hành động phù hợp với thực tại khách quan này; cũngnhư thoát khỏi những phiền não do dục vọng hay vọng tưởng điên đảo gây nên. Nhờ đó, tạo được sự quan hệ hòa hợp giữa người và người, hay giữa con người với thế giới chúng ta sống.

3 – LẬU TẬN MINH

Với tuệ giác Túc mạng minh và Thiên nhãn minh, Đức Phật thấy rõ quá khứ và hiện tại một cách chính xác. Ngài vạch ra một hướng đi trong tương lai rõ ràng, phải làm gì cho phù hợp với thực tế cuộc sống, gọi là Lậu tận minh.

Từ quá khứ và hiện tại thấy chính xác, sẽ dẫn đến thực hiện việc làm trong tương lai không sai lầm. Nếu thực tế không biết rõ mà đưa ra dự án thì chỉ là không tưởng. Suốt cuộc đời của Đức Phật, sau khi thành đạo, ngài chỉ làm những gì đã thấy biết bằng tu chứng ba tuệ giác nói trên. Trong 49 năm thuyết pháp, những gì Đức Phật giảng dạy cho người đều là sự thật mà ngài đã chứng nghiệm có kết quả ngay trong cuộc sống.

Trên bước đường truyền bá chánh pháp, thân giáo là phương tiện chính của Đức Phật sử dụng để giáo hóa chúng sinh. Với tầm nhìn chính xác của tri kiến thấy đúng như thật, ngài hiểu rõ hoàn cảnh và khả năng của từng người, mà tùy theo đó dìu dắt họ đều được lợi lạc. Chúng ta không dạy được người, vì không biết rõ hoàn cảnh của họ; hoặc tuy thấy đúng, nhưng ta không tìm được phương cách giải quyết cho họ. Thật sự bản thân ta cũng không đủ phương tiện, còn nhiều khó khăn vướng mắc; tự lo cho chính mình không xong, làm sao cưu mang thêm người nổi.

Trái lại, Đức Phật vào đời giáo hóa chúng sinh, nhân cách của ngài đã hoàn thiện một cách tốt đẹp. Với trí tuệ siêu việt, đạo đức trong sáng không lỗi lầm và uy lực vô song, ngài dễ dàng thành công trong việc giáo hóa người. Điển hình là lịch sử có ghi rõ Đức Phật đã đích thân đến chiến trường can thiệp, để ngăn chặn chiến tranh, giảng hòa hai bộ tộc Kolyas và Sakyas tranh giành nhau nguồn nước sông Rohini. Sau khi Đức Phật giải thích, ánh sáng trí tuệ như bừng sáng trong đầu của các vua và tướng lãnh, quân sĩ. Họ đã buông bỏ vũ khí, vì nhận ra sự ngu xuẩn của họ. Điều này gợi cho chúng ta suy nghĩ nếu không phải là một bậc sáng suốt đầy uy đức như Đức Phật, thì khó có một sứ giả hòa bình nào có thể làm tắt được lửa hận thù của hai đạo binh đang sôi sục, đang dàn trận sắp sửa tàn sát nhau.

Trên bước đường giáo hóa của Đức Phật, không phải chỉ có người hiền lành, dễ dạy nghe theo ngài. Thực tế cho thấy ngài còn uốn nắn, hướng dẫn được những kẻ ác toan sát hại ngài. Bằng Phật huệ, Đức Phật nhận thấy Vô Não không phải là tên sát nhân đáng bị loại bỏ ra ngoài xã hội; mặc dù ông đã giết đến 999 người và định giết thêm Đức Phật cho đủ số 1.000 người, theo đúng lời dạy của ông thầy ngoại đạo.

Dưới cái thấy như thật của Đức Phật, Vô Não là người hiếu học, siêng năng nhiệt tình trong việc cầu đạo, đến độ tuyệt đối vâng lời thầy, mà trở thành kẻ sát nhân. Chỉ vì người hướng dẫn sai lầm, đẩy ông ta vào con đường tội lỗi. Hiểu rõ được khả năng, bản chất thật sự của Vô Não, Đức Phật đã trải tâm từ bi với ông. Và ngài cảm hóa ông bằng câu nói thật nhân từ, đơn giản : "Như Lai đã dừng và đã dừng lại mãi mãi rồi. Như Lai đã từ bỏ, không còn làm dữ và gây hại cho một vật nào. Còn ngươi, đến bao giờ mới dừng lại, không giết nữa”. Vô Não đã tỉnh ngộ và quăng dao. Ông đã được Đức Phật nhận vào giáo đoàn ngay từ lúc đó. Về sau, ông nỗ lực tu hành và cũng trở thành người đạo hạnh thanh tịnh, đắc quả A la hán giống như mọi người.

Cuối cuộc đời giáo hóa chúng sinh của Đức Phật, ngài đã dừng chân trên núi Linh Thứu hay Kỳ Xà Quật để giảng kinh Pháp Hoa. Núi này thuộc thành Vương Xá, thủ đô nước Ma Kiệt Đà, ngày nay là tiểu bang Bihar của Ấn Độ. Ngài đã thuyết giảng pháp chân thật ở một nước do bạo chúa A Xà Thế cai trị. Hoa Ưu Đàm đã tỏa hương thơm ngát trên mảnh đất hung tàn bạo ngược này.

Đặt chân đến nơi đây, dù chưa nói một lời, nhưng uy đức và lòng từ vô lượng của Đức Phật đã cảm hóa được tâm ác độc của vua A Xà Thế. Ngài giáo hóa ông trở thành người hộ pháp đắc lực nhất, thành ông vua cai trị hiền lành, sáng suốt. Phải chăng Đức Phật muốn thể hiện chân lý bình đẳng tuyệt đối là thiện ác đều như nhau, xấu tốt đều như nhau. Soi sáng bởi trí giác và lòng từ của ngài thì thiện ác đều không khác. Biết vận dụng thì xấu cũng trở thành tốt; nhưng không khéo vận dụng, thiện cũng thành ác.

Khi giáo hóa hàng đệ tử đã thuần thục, với Tam Minh, ngài thấy rõ khả năng và ý chí của họ, cũng như biết rõ các việc làm trong tương lai của họ. Ngài mới thọ ký cho các đệ tử sẽ đạt được quả vị Phật. Nghĩa là Đức Phật vẽ ra con đường cho người thừa kế tiếp tục đi theo mà không lầm lỗi; xếp đặt những công việc mà họ phải thành tựu, để bước lên quả vị Vô thượng Đẳng giác.

Đức Phật đã sử dụng khéo léo mọi phương tiện giáo hóa chúng sinh và dốc hết tâm lực phục vụ mọi người được lợi lạc trong suốt 49 năm. Ngài an nhiên vào Niết bàn với câu nói nhẹ nhàng, thanh thản : "Những gì đáng nói ta đã nói; những gì đáng làm ta đã làm và những người đáng độ ta đã độ”.

Với tuệ giác Tam Minh mà Đức Phật thực chứng dưới cội Bồ đề trong đêm thành đạo, ngài không chỉ dạy "thấy và hiểu” sự vật đúng như sự thật của sự vật. Ngài còn vạch ra con đường cho chúng ta "hiểu và sống” đúng như thật, để mang an vui lợi ích cho đời.

Đức Phật Niết bàn, tuy sanh thân không còn; nhưng tinh ba của ngài truyền trao vẫn tồn tại qua những lời dạy được gọi là Pháp thân. Giáo lý được lưu truyền và triển khai theo sự tu chứng của hàng đệ tử Phật qua từng thế hệ. Đó chính là Pháp thân Phật tiếp tục mở rộng theo sự tiến bộ về tri thức của loài người. Dưới kiến giải của Phật giáo phát triển, tuy Đức Phật không còn, nhưng chúng ta vẫn sống được bên cạnh ngài, nếu biết vận dụng giáo pháp của ngài để phát huy cuộc sống chúng ta.

Trên tinh thần này, khi đạo Phật truyền sang Việt Nam, gặp bối cảnh khác, nên suy tư và vận dụng giáo lý của Phật tử Việt Nam cũng khác. Nếu không biết đổi khác, mà sống đúng y khuôn với giáo lý nguyên thủy, chắc chắn chúng ta sẽ không có những trang sử đẹp được mệnh danh là thời vàng son của Phật giáo Lý Trần.

Phật giáo Lý Trần nhập cuộc và biến dạng giáo lý một cách kỳ diệu. Chúng ta có thể xem Phật giáo Lý Trần là tiêu biểu cho sự thể hiện con đường hiểu và sống đúng như thật của Phật giáo Việt Nam. Các Thiền sư cũng như cư sĩ Phật tử thời ấy đã tiếp thu những lời dạy quý báu của Đức Phật. Các ngài đã khéo vận dụng tuệ giác trong việc phân tích và áp dụng giáo pháp vào hiện trạng xã hội. Vì thế, Phật giáo Lý Trần mới đưa ra tư tưởng chỉ đạo phù hợp, giúp cho sự sống còn và sự hưng thịnh của đất nước.

Khi nước ta còn trong giai đoạn phôi thai xây dựng nền độc lập, người dấn thân đầu tiên là pháp sư Ngô Chân Lưu. Vua Đinh Tiên Hoàng đã sắc phong cho ngài là Khuông Việt Thái sư, một chức vị tương tự với chức Thủ tướng ngày nay. Có thể ngài bị phê phán là đã phạm giới, vì làm quan. Tuy nhiên, dưới kiến giải của người ngộ đạo thấm nhuần sâu sắc tinh thần xả kỷ vị tha, ngài sẵn sàng cởi bỏ chiếc áo Thiền sư để khoác lên chiếc áo Thái sư. Dù mặc áo Thái sư, nhưng lịch sử vẫn xem ngài là một Thiền sư có nhân cách trọn vẹn hơn các quan văn khác. Vì ngài đã thể hiện tấm lòng thiết tha vì nước, đem hết tâm lực, trí lực phục vụ cho dân tộc. Tuy hình là Thái sư, nhưng tâm là Thiền sư. So sánh về sự tu chứng, sự hiểu biết với các Thiền sư khác, ngài không thua kém.

Một hình ảnh dấn thân cao đẹp khác nữa là Đỗ Thuận Pháp sư. Ngài không ngồi yên ở triều đình để hưởng thụ chức vụ Tăng Lục Đạo sĩ. Trong lúc nhà Đinh mới dựng nước, tình thế an ninh còn nhiều khó khăn, Tăng Lục Đạo sĩ Đỗ Thuận đã cải trang làm người lái đò trên dòng sông trước đền Hoa Lư. Mỗi ngày ngài đưa khách buôn qua lại từ Trung Quốc đến Hoa Lư. Theo dõi câu chuyện của họ, ngài biết được dân tình đối với chính sách của vua như thế nào, cũng như hiểu được tình hình biến chuyển của Trung Quốc. Đồng thời ngài thu nhận những tin tức gởi về cho Khuông Việt Thái sư ở triều đình. Với việc làm như vậy, ngài đã cố vấn cho vua một cách tốt đẹp trong việc trị nước an dân, bảo vệ sự yên ổn của đất nước.

Cũng trong lớp áo của người lái đò tầm thường, Đỗ Thuận Pháp sư đã đối đáp trôi chảy hai câu thơ của sứ giả Tống, khiến họ phải kinh ngạc, thán phục ngài về tài tinh thông ngôn ngữ, văn chương Trung Quốc. Qua đó, ngài cũng đã biểu lộ cho họ thấy tinh thần bất khuất kiên cường của dân tộc Việt Nam. Vì mục tiêu đóng góp lợi ích cho dân tộc, ngài hy sinh chức vụ Tăng Lục Đạo sĩ để đóng vai người chèo đò đầy đủ khả năng tri thức, thành công trọn vẹn công tác ngoại giao.

Ngày nay, nhắc đến công lao của những người đóng góp trong thời kỳ lập quốc nhà Đinh, lịch sử chỉ ca ngợi việc làm của Khuông Việt Thái sư và Đỗ Thuận Pháp sư. Còn những người sống đóng khuôn tiêu cực thì phải lu mờ với cỏ cây mà thôi.

Đến đời Lý, Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội và in rõ dấu ấn trong mọi lãnh vực. Các vị Thái sư, Quốc sư như Viên Chiếu, Thông Biện, Chân Không, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, v.v… đã góp phần quan trọng cho đất nước. Tiêu biểu nhất là Thiền sư Vạn Hạnh với số tuổi hơn 70 vẫn tiếp tục đóng góp cho công cuộc nội trị, xây dựng, phát triển triều Lý. Ngài biểu hiện truyền thống yêu nước sâu sắc của Phật giáo Việt Nam hợp nhất đạo với đời. Vì thế, vua Lý Nhân Tông ca ngợi ngài là "Trụ tích trấn vương kỳ”, nói lên hình ảnh của Thiền sư bảo vệ đất nước bằng cây gậy Thiền.

Trên tinh thần phục vụ chúng sinh là tối thượng cúng dường chư Phật, vua quan và Thiền sư thời Lý Trần đã không do dự trước giới sát, một giới cấm căn bản, khi các ngài đối phó với giặc ngoại xâm. Tuy nhiên, ngăn chặn được khả năng sát hại của giặc rồi, các ngài lại thể hiện tinh thần từ bi không hận thù, xem họ như bạn. Thật vậy, vua Lý Thành Tông không khoan nhượng trước thế lực ác của kẻ hiếu chiến. Nhưng khi thắng giặc Chiêm Thành xong, ngài thể hiện tấm lòng nhân đạo, tha cho vua Chiêm là Chế Củ về nước. Hoặc vua Lý Thánh Tông đã tha chết Nùng Trí Cao, dù y mưu phản hai lần.

Hoặc đệ nhất Tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tôn, với dũng khí hào hùng và trí tuệ sáng suốt, đã thẳng tay với giặc Nguyên, khi ở thế bắt buộc phải bảo vệ đất nước. Đến lúc dẹp yên giặc, ngài lại đối xử hết sức khoan dung với họ. Ngài ra lệnh đốt tráp đựng những bức thư thông đồng với giặc của một số quan lại.

Qua vài thí dụ điển hình về sự đóng góp của các Thiền sư cho thấy các Thiền sư và Phật tử cư sĩ đời Lý Trần đã đóng góp nhiều lợi lạc cho dân tộc, thắp sáng ngọn đèn chánh pháp trong tâm tưởng mọi người. Đó là cái thấy như thật của Bồ tát. Thấy việc gì lợi ích chúng sinh, các ngài sẵn sàng xả thân thực hiện. Với các ngài, phương tiện hay hình thức thì đa dạng, tùy nhu cầu mà thay đổi cho thích hợp và có lợi cho người.

Tóm lại, trong suốt 49 năm hoằng hóa độ sinh của Đức Thế Tôn, từ khi thành đạo đến lúc nhập Niết bàn, chúng ta nhận chân được sự thành đạo của Đức Phật không mang ý nghĩa một sự kết thúc. Nhưng đó là sự khởi đầu của ngài trên con đường phụng sự nhân loại, đem ánh sáng trí tuệ và tình thương đến cho mọi người.

Chính đời sống vì an lạc, vì lợi ích cho cuộc đời, Đức Phật đã cảm hóa mọi người một cách mãnh liệt. Cho đến nay, hơn 25 thế kỷ trôi qua, nhân cách của Đức Phật vẫn còn là kim chỉ nam hướng dẫn sự sống tốt đẹp cho loài người ở khắp mọi nơi, tạo thành một nguồn sinh lực vô tận.

Ở Việt Nam, nguồn sinh lực ấy đã được phát triển sâu sắc qua sự dấn thân của các Thiền sư thật tu thật chứng. Các ngài đã xả thân, cống hiến đời mình cho công việc gìn giữ sự độc lập, an vui của đất nước; đóng góp trí tuệ và lợi ích cho dân tộc trên nhiều lãnh vực.

Ngày nay, chúng ta may mắn kế thừa những nét sáng đẹp của cha ông, kế thừa tinh thần vô ngã vị tha qua các bài pháp sống đã lưu đậm nét cảm tình của người dân đối với nhiều việc làm tích cực của Phật giáo Đinh Lê Lý Trần. Chúng ta rút ra được mô hình cho sự tồn tại và phát triển đạo pháp ở thời đại ngày nay. Đó là sự đóng góp đôi tay và khối óc của Tăng Ni và cư sĩ Phật tử Việt Nam cho an sinh xã hội, cho phúc lợi của dân tộc, cho sự phồn vinh của đất nước và an lạc, hạnh phúc của mọi người.