cool hit counter

Sách


Lời giới thiệu Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VII (1999)
Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa Cảm niệm cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa
Nguyện hương Cảm niệm ân sư
Đảnh lễ Phật Đức Pháp chủ là biểu tượng đoàn kết các hệ phái Phật giáo
Lễ Phật quá khứ Cảm niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ
Đảnh lễ Phật hiện tại Cảm niệm về Hòa thượng Thích Thiện Hào
Lễ Phật vị lai Duyên kỳ ngộ
Đảnh lễ Bồ tát Hồi tưởng về đức hạnh của Hòa thượng Thích Tâm Thông
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh hoằng thông liệt vị Tổ sư Sáng niềm tin
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh thủ hộ thiện thần Một hình ảnh khó quên trong cuộc đời hoằng pháp của tôi
Sám hối Cảm niệm ân sư (Kỷ niệm lễ chung thất Hòa thượng Thích Trí Đức)
Phát nguyện Những kỷ niệm với Hòa thượng Thích Thiện Châu
Ý nghĩa thọ trì 7 phẩm Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Nghĩ về Hòa thượng Thích Thanh Kiểm
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ nhất Tưởng niệm Ni trưởng Huê Lâm
Ý nghĩa phẩm Pháp sư Ni sư Huỳnh Liên
Ý nghĩa phẩm Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15 Nghĩ về Ni trưởng Như Hòa nhân ngày Tiểu tường
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 Lời nói đầu  
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17 Hoằng pháp
Ý nghĩa phẩm Phổ Môn thứ 25 Những điều tâm đắc về hoằng pháp
Ý nghĩa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28 Kinh nghiệm hoằng pháp
Hồi hướng Hoằng pháp theo nhân duyên
Ý nghĩa tụng thủ hộ thần chú Ý nghĩa thuyết pháp
Ý Nghĩa Quy Y Tam Bảo Giáo dục và hoằng pháp
Năm Giới Của Người Phật Tử Tại Gia Lời tựa     
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Pháp Hoa Và Tụng Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Ý nghĩa kinh hành niệm Phật
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Sám Hối Ý nghĩa tĩnh tâm
Ý Nghĩa Tụng Kinh Dược Sư Và Niệm Phật Dược Sư Lục hòa
Ý Nghĩa Niệm Phật Di Đà Sáu pháp ba la mật
Lời nói đầu Tịnh độ theo kinh Duy Ma
I. Lý do chọn 21 ngày tu gia hạnh Phổ Hiền
Tam minh
II. Ý nghĩa của sự khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày thành đạo của Phật Di Đà là ngày 17 tháng 11 và kết thúc vào ngày thành đạo của Phật Thích Ca là ngày mùng 8 tháng 12 Hồi hướng theo kinh hoa nghiêm
III. Kết luận Xử thế của đạo Phật
Lời tựa Tam bảo
Tổng luận Nhập thế của đạo Phật
Pháp hội 1 : Tam Tụ Luật Nghi Tứ hoằng thệ nguyện
Pháp hội 2: Vô Biên Trang Nghiêm Đà la ni Xuân Di Lặc
Pháp hội 3 : Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Báo hiếu theo kinh vu lan
Pháp hội 5: Vô Lượng Thọ Như Lai Phật giáo và pháp luật
Pháp hội 6: Bất Động Như Lai Khái niệm về giới luật của người phật tử tại gia
Pháp hội 7: Mặc Giáp Trang Nghiêm Ý nghĩa xuất gia
Pháp hội 8: Pháp Giới Thể Tánh Vô Sai Biệt Ngọn đuốc xuân
Pháp hội 9 : Đại Thừa Thập Pháp Ngũ uẩn
Pháp hội 10: Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn Hòa thượng Thích Quảng Đức, một con người bất tử
Pháp hội 11: Xuất Hiện Quang Minh & Pháp hội 12 : Bồ Tát Tạng Mông sơn thí thực
Pháp hội 14: Phật Thuyết Nhập Thai Tạng Tính cách pháp lý của giáo hội
Pháp hội 15: Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký Những thành quả của giáo hội Phật giáo Việt Nam
Pháp hội 16: Bồ Tát Kiến Thiệt Ý nghĩa đại trai đàn
Pháp hội 17: Phú Lâu Na Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa
Pháp hội 18: Hộ Quốc Bồ Tát Lắng tâm, tịnh niệm
Pháp hội 19: Úc Già Trưởng Giả Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh.
Pháp hội 20: Vô Tận Phục Tạng Ngũ ấm ma trong chúng ta
Pháp hội 21: Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La Phát huy đạo lực
Pháp hội 23: Ma Ha Ca Diếp Phước đức và trí tuệ
Pháp hội 24: Ưu Ba Ly Tấm gương sáng của tổ Huệ Đăng
Pháp hội 25: Phát Thắng Chí Nguyện Tâm tạo ra tất cả
Pháp hội 26: Thiện Tý Bồ Tát Tu bồi cội phúc
Pháp hội 27 : Thiện Thuận Bồ Tát Tùy duyên
Pháp hội 28: Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp
Pháp hội 29: Ưu Đà Diên Vương Thiền định phóng quang và đàm kinh nhập diệu
Pháp hội 30: Diệu Huệ Đồng Nữ Đoạn phiền não – tâm bình an
Pháp hội 31: Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di Giàu đạo đức, giàu tuệ giác
Pháp hội 32: Vô Úy Đức Bồ Tát Giới đức pháp thân
1. Lời tựa An trụ tịch diệt tướng
2. Khái niệm về kinh Duy Ma Ý nghĩa Phật Đản theo kinh Pháp Hoa
3. Quán chúng sanh theo kinh Duy Ma Phật giáo và dân tộc Việt Nam
4. Bất Nhị pháp môn trong kinh Duy Ma Hoằng pháp ở thế kỷ XXI
5. Ý nghĩa phẩm Phật Hương Tích trong kinh Duy Ma Dòng chảy miên viễn của Thiền
6. Quan niệm về đức Phật trong kinh Hoa Nghiêm Đức Phật sống mãi với chúng ta
7. Ý nghĩa lễ Phật theo kinh Hoa Nghiêm Đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật
8. Ý nghĩa phương tiện theo kinh Pháp Hoa Chùa mục đồng ở Nam bộ
9. Ý nghĩa thí dụ ba xe và nhà lửa trong kinh Pháp Hoa Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định của mọi thành công
10. Ý nghĩa hóa thành dụ trong kinh Pháp Hoa Phật giáo, con đường dẫn đến sự sống hòa bình, phát triển, an lạc, hạnh phúc cho nhân loại.
11. Pháp sư của kinh Pháp Hoa Sức sống Thiền của Trần Thái Tông
12. Ý nghĩa Long Nữ dâng châu trong kinh Pháp Hoa Sống trong tỉnh giác
13. An Lạc Hạnh theo kinh Pháp Hoa Quan niệm về kinh tế trong Phật giáo
14. Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất Những nét đẹp của Phật giáo Lý Trần
15. Cảm niệm về Bồ Tát Phổ Hiền Nghệ thuật trong Phật giáo
Lời tựa Khai Thị 2009 Ý nghĩa nhà lửa tam giới trong kinh pháp hoa
Xuân trong Phật đạo Ý nghĩa lễ tắm Phật
Phước Lộc Thọ Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm
Hạnh xuất gia Ý nghĩa Vu Lan  
Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa
Hạnh nguyện Quan Âm Nhứt Phật thừa
Tàm Quý Quán tứ niệm xứ
Họa phước vô môn Tứ chánh cần
An cư kiết hạ Tứ như ý túc
Phật giáo và vấn đề tác hại của thuốc lá Ngũ căn ngũ lực
Phật giáo và bảo vệ môi trường Thất Bồ đề phần
Phật giáo và thiếu nhi Thúc liễm thân tâm
Nói không với ma túy Tùy duyên  
Đạo đức ở tại gia Thanh tịnh hóa thân tâm
Mỉm cười trong đau khổ Nhứt thiết Chúng sanh Hỷ kiến Bồ Tát
Phật giáo và dân số Chánh kiến
Kính lão đắc thọ Tam quy và pháp niệm Phật
Hành trì giới luật Hài hòa để cùng tồn tại và phát triển
Ý nghĩa Vu lan Hạnh khiêm cung và bát kỉnh pháp
Hạnh nguyện Địa Tạng Bồ tát An lạc hạnh  
Nối vòng tay lớn Những kinh nghiệm giảng dạy
Niềm vui của tuổi già Kinh nghiệm giảng dạy Kinh Hoa Nghiêm
Kiến thức và trí tuệ Một số đề tài gợi ý cho những bài thuyết giảng của Tăng Ni sinh Khóa Giảng sư
Tình người Nổ lực tự học để kế thừa và phát huy được tinh ba của Thầy, Tổ.
Hạnh nguyện Bồ tát hay Bồ tát đạo Một số phương hướng cho ngành Hoằng pháp
Tha lực và tự lực Vài suy nghĩ về Hoằng pháp trong thời hiện đại
Hạnh nguyện Dược Sư Hoằng pháp trong thế kỷ 21
Ơn Thầy Nhà Hoằng pháp và giáo dục tiêu biểu trong thế kỷ XX
Vượt qua mặc cảm Hoằng pháp ở thế kỷ 21(thuyết giảng ngày 20 – 24 tháng 6 năm 2007)
Nghề nghiệp chân chánh Điểm chung nhứt của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền
Lời tựa Lược giải Kinh Hoa Nghiêm Mô hình Hoằng pháp tại nước nhà trong thời đại ngày nay
CHƯƠNG I – LỊCH SỬ KINH HOA NGHIÊM
        I - Khái niệm về lịch sử kinh Hoa Nghiêm
Tư cách của vị trụ trì
    II - Lịch sử truyền thừa và phát triển kinh Hoa Nghiêm Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại
  III - Nội dung kinh Hoa Nghiêm Ý nghĩa trụ trì
CHƯƠNG II – QUAN NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT THEO KINH HOA NGHIÊM
       I - Quan niệm về Đức Phật trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
Trụ trì, người giữ chùa
   II - Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Kinh nghiệm làm trụ trì
  III - Quan niệm về Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm Tam pháp ấn
CHƯƠNG III - Ý NGHĨA ĐỀ KINH HOA NGHIÊM Nét đẹp của Phật giáo Nam Tông Khơ Me
CHƯƠNG IV – BỒ TÁT ĐẠO
      I - Bồ tát Thập Tín
Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện đại
  II - Bồ tát Thập Trụ Điều thiết yếu của người tu : Sức khỏe tốt, trí sáng suốt và trái tim nhân ái
 III - Bồ tát Thập Hạnh An trụ pháp tịch diệt
IV - Bồ tát Thập Hồi hướng Hoằng pháp và trụ trì
 V - Bồ tát Thập Địa hay Thập Thánh Đạo đức hành chánh
VI - Bồ tát Thập Định Ba điểm quan trọng đối với tân Tỳ kheo
VII - Bồ tát Thập Thông Ý nghĩa thọ giới (Thuyết giảng tại chùa Phổ Quang)
VIII - Bồ tát Thập Nhẫn Ý nghĩa thọ giới (thuyết giảng tại chùa An Phước)
CHƯƠNG V – PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ : Học, tu và làm việc
   1- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Đức Vân Tỳ kheo Truyền trao giới pháp và lãnh thọ giới pháp đúng như pháp.
   2- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Vân Tỳ kheo Giới tánh Tỳ kheo
   3- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Trụ Tỳ kheo Lời tựa       
   4- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Di Già Tiểu sử
   5- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Giải Thoát Giới tánh tỳ kheo  
   6- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Tràng Tỳ kheo Hoằng pháp và trụ trì  
   7- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hưu Xã Ưu bà di An lành và tĩnh giác
   8- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa Nghĩ về sự thành đạo của Đức Phật
   9- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thắng Nhiệt Bà la môn Mùa Xuân đọc kinh Hoa Nghiêm
   10- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Từ Hạnh đồng nữ Sự lớn mạnh của Phật giáo song hành với thành phố phát triển 300 năm
   11- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Kiến Tỳ kheo Những quan niệm về Đức Phật
   12- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tự Tại Chủ đồng tử Thế giới tâm thức và thế giới hiện thực
   13- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Cụ Túc Ưu bà di Pháp phương tiện
   14- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Minh Trí Tụng kinh, lạy Phật, sám hối và thiền quán
   15- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Pháp Bửu Kế Đức hạnh của vị Tỳ kheo
   16- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Phổ Nhãn Hành trình tâm linh : nẻo về vĩnh hằng của người tu
   17- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Vô Yểm Túc Ý nghĩa Phật Đản PL. 2542 - 1998
   18- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Đại Quang Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật
   19- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bất Động Ưu bà di Nương nhờ đức từ của Tam bảo
   20- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Biến Hành ngoại đạo Ý nghĩa Kim Cang thừa trong Phật giáo
   21- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Ưu Bát La Hoa Cảm nghĩ về Đức Phật A Di Đà
   22- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thuyền trưởng Bà Thi La Ý nghĩa Vu Lan 1998
23.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Vô Thượng Thắng hay Di Lặc Bồ Tát Bồ Tát Đạo
24- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân Mùa An cư : sáu thời tịnh niệm
25- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với bà Tu Mật Đa nữ Tinh thần Phật giáo Đại thừa
26- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Tỳ Sắc Chi La Phật giáo hướng về tương lai
28.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Chánh Thu Ý nghĩa lễ Vu Lan PL 2542 - 1998 (thuyết giảng tại trường hạ chùa Hội Khánh)
27.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Quán Tự Tại Chơn thân – huyễn thân
29- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thần Đại Thiên Tư cách của vị trụ trì  
30- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Địa thần An Trụ Tâm từ bi của Đức Phật
31- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với chủ Dạ thần Bà San Bà Diễn Để 9 tuần tu học đồng đăng Cửu Phẩm Liên Hoa
32- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Dạ thần Khai Phu Nhứt Thiết Thọ Hoa và Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Nhứt Thiết Chúng Sanh Những việc cần làm trong 3 tháng An Cư
33- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thọ thần Diệu Đức Viên Mãn Những việc cần làm trong 3 tháng an cư Suy nghĩ về linh hồn trong Phật giáo
34- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ tát Di Lặc Hoằng pháp   
35- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Tìm hiểu ngôn ngữ của Đức Phật
36- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Phổ Hiền Bồ tát Mùa Xuân trên đất Bắc
CHƯƠNG VI – PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI – PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN Lời tựa        
16. Niết bàn theo kinh Pháp Hoa Ý nghĩa cầu an
17. Giáo dục của Phật Giáo Đại Thừa Hạnh nguyện Phổ Hiền
18. Những điều kiện tu Bồ Tát đạo Bản chất Niết bàn
19. Ngôi chùa tâm linh Niềm tin chân chánh
20. Hành trình về chân linh Hóa giải hận thù
21. Tu tâm Phật giáo và hòa bình thế giới
22. Canh tâm điền Quốc thái dân an
23. Đường về Yên Tử Giải tỏa oan ức
24. Nếp sống của một vị danh tăng Vững trước khen chê
25. Ý nghĩa Phật Đản Pl.2538 (Tứ Nhiếp Pháp) Ý nghĩa sức mạnh hòa hợp
26. Ý nghĩa lễ đức Phật thành đạo Âm siêu dương thạnh
27. Phật giáo Việt Nam đang hướng về phía trước trên tinh thần vô ngã vị tha Thực tập nhẫn nhục
28. Xuân hoan hỷ Thành công và thất bại
29. Xuân trong cửa thiền Chiến thắng chính mình
30. Xuân của hành giả Pháp Hoa Thân cận người trí
Lời tựa lược giải kinh Pháp Hoa Sống hạnh viễn ly
Lịch sử kinh Pháp Hoa Ý nghĩa bờ bên kia
Kinh đại thừa vô lượng nghĩa Hương thơm đức hạnh
Phẩm 1: Tựa Tòa án lương tâm
Phẩm 2: Phương tiện Củng cố niềm tin
Phẩm 3: Thí dụ Giá trị cuộc sống
Phẩm 4: Tín giải Giáo dục con cái
Phẩm 5: Dược thảo dụ Vượt qua tật bệnh
Phẩm 6: Thọ ký Đền ơn đáp nghĩa
Phẩm 7: Hóa thành dụ Thân phận con người
Phẩm 8,9: Ngũ bá đệ tử thọ ký, thọ học vô học nhơn ký Sức mạnh của ý chí
Phẩm 10: Pháp sư Quan niệm về Tịnh Độ
Phẩm 11: Hiện bảo tháp Cư trần lạc đạo
Phẩm 12: Đề Bà Đạt Đa Làm mới cuộc sống
Phẩm 13: Trì Lời tựa        
Phẩm 14: An lạc hạnh Ăn chay lợi cho sức khỏe và tâm linh
Phẩm 15: Tùng Địa Dũng Xuất Chuyển hóa sanh thân thành pháp thân
Phẩm 16: Như Lai thọ lượng Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam
Phẩm 17: Phân biệt công đức Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị Tổ sư người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam
Phẩm 18: Tùy hỷ công đức Mật tông tại Việt Nam
Phẩm 19: Pháp sư công đức Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng
Phẩm 20: Thường bất khinh Bồ Tát Phật giáo đi vào cuộc sống
Phẩm 21: Như Lai thần lực Sự hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ
Phẩm 22: Đà La Ni Sức mạnh hòa hợp
Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát bổn sự Tác động hỗ tương giữa thân và tâm
Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát Tận dụng phương tiện hiện đại trong việc hoằng pháp
Phẩm 25: Phổ môn Tứ chánh cần  
Phẩm 26: Diệu Trang nghiêm vương bổn sự Tu thiền tại Việt Nam
Phẩm 27: Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát Vai trò của ni giới Việt Nam trong xã hội hiện đại
Phẩm 28: Chúc lụy Ý nghĩa hóa thân Phật thuyết pháp
Preface Ý nghĩa kệ dâng y
Lời tựa lược giải kinh Duy Ma Ý nghĩa tập trung phân thân
Tổng luận lược giải kinh Duy Ma Ý nghĩa tịnh độ
Phẩm 1: Phật quốc Cầu nguyện mùa vu lan
Phẩm 2: Phương tiện   Cư sĩ Phật giáo
Phẩm 3: Thanh văn Đạo đức Phật giáo trong tương lai
Phẩm 4: Bồ Tát Điểm chung nhứt của Phật giáo nam truyền và bắc truyền  
Phẩm 5: Văn Thù Sư Lợi thăm bệnh Giới luật của người Phật tử tại gia
Phẩm 6: Bất tư nghì Bồ đề quyến thuộc
Phẩm 7: Quán chúng sanh Mối tương quan với thế giới siêu hình
Phẩm 8: Phật đạo Chân tinh thần Phật giáo Bắc tông
Phẩm 9: Nhập bất nhị pháp môn Trồng căn lành và sám hối
Phẩm 10: Phật Hương Tích Lợi ích của an cư kiết hạ
Phẩm 11: Bồ Tát đạo Tứ niệm xứ, tứ chánh cần
Phẩm 12: Kiến Phật A Súc Mùa xuân vĩnh hằng
Phẩm 13: Pháp cúng dường Kiến trúc Phật giáo
Phẩm 14: Chúc lụy Kiến trúc Phật giáo  
Lời tựa           Niềm tin của người phật tử Việt Nam
Lịch sử Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Sự an lạc trong gia đình
Ý nghĩa Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Báo đáp ơn nghĩa sinh thành
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ I Quan niệm về tịnh độ của kinh Di Đà
Ý nghĩa phương tiện và chân thật Tam pháp ấn  
Ý nghĩa Thí Dụ Tinh thần từ bi hỷ xả, con đường tốt nhất đi đến hòa bình, phát triển và an lạc cho nhân loại
Ý nghĩa phẩm Pháp Sư thứ 10 Từ bi và hòa bình trong Phật ngọc
Ý nghĩa phẩm An Lạc Hạnh thứ 14 Tình yêu và giới tính theo tinh thần Pháp Hoa
Ý nghĩa phẩm Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ mười lăm Xây chùa, tô tượng, đúc chuông
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ mười sáu Xuân trong cửa đạo
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, phẩm Pháp Sư công đức thứ 19 Bồ Tát Thích Quảng Đức, một bậc danh tăng siêu việt của thế kỷ 20
Bồ Tát hạnh: Dược Vương Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Diệu Trang Nghiêm Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Cái chết đối với người phật tử
Lời tựa           Giáo dục ở tự viện
Pháp Hội 33 : Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện Giới định tuệ
Pháp Hội 34 : Công Đức Bửu Hoa Phu Bồ Tát Khắc phục nghiệp, giữ chánh niệm, trụ chánh định
Pháp Hội 35 : Thiện Đức Thiên Tử Khởi nghiệp mưu sinh theo Phật giáo
Pháp Hội 36 : Thiện Trụ Ý Thiên Tử Lễ Phật theo bổn môn Pháp Hoa
Pháp Hội 37 : A Xà Thế Vương Tử Ngôi chùa tâm linh
Pháp hội 38: Đại Thừa Phương Tiện Nhập không môn, vào vô lượng nghĩa định
Pháp Hội 39 : Hiền Hộ Trưởng Giả Nữ giới Phật giáo và sự kết nối toàn cầu
Pháp Hội 40 : Tịnh Tín Đồng Nữ Pháp phục của tăng ni Việt Nam
Pháp Hội 41 : Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp Phật giáo và môi trường sinh thái  
Pháp Hội 42 : Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Phật giáo và phù đổng Thiên Vương
Pháp Hội 43 : Phổ Minh Bồ Tát Thâm nhập không môn
Pháp Hội 44 : Bửu Lương Tụ Trụ định, hành trang tối thiểu của người tu
Pháp Hội 45 : Vô Tận Huệ Bồ Tát Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng
Pháp Hội 46 : Văn Thù Thuyết Bát Nhã Tu vô lượng nghĩa kinh, sống trong vô lượng nghĩa định, thâm nhập hội Pháp Hoa.
Pháp Hội 47 : Bửu Kế Bồ Tát Vô lượng nghĩa kinh và vô lượng nghĩa xứ tam muội
Pháp Hội 48 : Thắng Man Phu Nhân Xây dựng đạo đức của người tu
Pháp Hội 49 : Quảng Bác Tiên Nhân Yếu nghĩa của phẩm pháp sư, kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 50 : Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm Hướng đi của Phật giáo Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
Pháp Hội 52 : Bửu Nữ Những điều tâm đắc về hoằng pháp ( thuyết giảng tại Bình Định)
Pháp Hội 53 : Bất Thuấn Bồ Tát Ý nghĩa Phật đản PL. 2550-2006
Pháp Hội 54 : Hải Huệ Bồ Tát Mỹ thuật Phật giáo
Pháp Hội 55 : Hư Không Tạng Bồ Tát Vai trò của người phụ nữa trong kinh Hoa Nghiêm
Pháp Hội 56 : Vô Ngôn Bồ Tát Những tư tưởng hòa bình, hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam
Pháp Hội 57 : Bất Khả Thuyết Bồ Tát Đức Phật hằng hữu trong mỗi chúng ta
Pháp Hội 58 : Bửu Tràng Bồ Tát Vai trò của Tăng già trong thời hiện đại
Pháp Hội 59 : Hư Không Mục Phật giáo trong nền toàn cầu hóa
Pháp Hội 60 : Nhựt Mật Bồ Tát Giáo dục Phật giáo
Pháp Hội 61 : Vô Tận Ý Bồ Tát Một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa
Lời tựa  Ý nghĩa cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa
Tiểu sử   Tịnh độ
Thọ giới, tu hành, nỗ lực thâm nhập dòng thác trí tuệ Hóa thành dụ
Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội Phật giáo Nam tông vá Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thức ăn tinh thần của người tu Phật giáo trong lòng nhân dân miền Nam
Thực tu, cảm hóa được chư thiên và quần chúng Vị trí của Pháp sư Huyền Trang trong Phật giáo
Trau dồi giới đức, siêng tu tam vô lậu học Xuân về trên cõi Tịnh
Lời tựa    Vãng sanh cực lạc
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2539 -1995 Cầu siêu bạt độ
Tam vô lậu học Công đức của kinh Pháp Hoa
Quý nhất trên đời Nghệ thuật trong Phật giáo  
Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng Hoằng pháp ở thế kỷ 21
Ý nghĩa Vu lan PL. 2539 - 1995 An cư dưỡng tánh - Thị phi phủi sạch
Nhìn về thế kỷ 21 Giữ giới và quán chiếu với tứ Thánh đế
Xuân Pháp Hoa Gắn tâm với Đức Phật, với giáo pháp và Hiền thánh tăng
Hướng về tương lai Bốn pháp giải thoát
Ý nghĩa Niết bàn Gạn sạch phiền não, nghiệp chướng, trần lao
Internet, những nỗi lo mới Sám hối nghiệp chướng
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2540 -1996 Pháp Hoa chân kinh
Cảm nghĩ về hoài bão của Đức Phật Ý nghĩa 12 đại nguyện của Đức Phật Dược Sư
Phật giáo và thực tiễn cuộc sống Vũ trụ quan theo Phật giáo
Sinh hoạt trong mùa An cư Sống an lạc, chết siêu thoát
Suy nghĩ về ý mã tâm viên Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng
Suy nghĩ về hoằng pháp Quan niệm về đức Phật theo kinh Pháp Hoa  
An lạc hạnh Pháp Phật và an toàn giao thông
Tam vô lậu học : Giới-Định-Tuệ Đức Phật của chúng ta
An cư kiết hạ   Đạo đức Phật giáo
Cơm Hương Tích Bồ tát hạnh theo kinh Pháp Hoa
Ý nghĩa lễ Vu lan Mùa xuân của hành giả phát tâm bồ đề
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2540 - 1996 Những điều tâm đắc về kinh Pháp Hoa
Ơn nghĩa đồng bào Ý nghĩa Phật Đản PL 2543 - 1999
Hướng về những người con tương lai của đất nước Kinh nghiệm hoằng pháp  
Hãy đến với Chương trình "Hiểu và Thương" Tìm hiểu xã hội học Phật giáo
Lòng từ của Bồ tát Quan Âm Theo dấu người xưa
Bồ đề tâm Những điều cần làm trong mùa An cư
Suy tư của người Phật tử về những vấn đề lớn Bốn bậc trưởng lão được kính trọng
Đầu tư - vấn đề nan giải Trở về viên minh tánh
Những điều tâm đắc trên đường về Điều kiện để có kinh Pháp Hoa
Lấy từ bi xóa hận thù Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại  
Thuận lợi và nguy cơ Ý nghĩa an cư kiết hạ
Lá thư Tổng Biên tập Bồ tát quả môn
Lá thư Xuân (trích Nguyệt san GN số 10) Mùa an cư - tiến tu tam vô lậu học
Ý Xuân Công việc của Tỳ kheo chân chánh
Lá thư Xuân (trích Báo GN số 41) Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ
Những suy nghĩ về Hội nghị kỳ 5 khóa III Trung ương Giáo hội Bất biến, tùy duyên
Năm mới với niềm hy vọng mới Bàn về nghi lễ
Trách nhiệm và chức vụ Tu hành đúng như pháp là tối thượng cúng dường
Thành quả của Đại hội Phật giáo TP. HCM kỳ V Chọn pháp tu an lạc
Sự đi lên của Phật giáo miền Trung Phát huy chân linh
Hướng phát triển tốt đẹp trong mùa An cư Nghĩ về Phật giáo Nhật Bản
Hướng về ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7 Ý nghĩa phẩm Tín giải trong kinh Pháp Hoa
Lễ Vu lan - ngày đền ơn đáp nghĩa của Đông phương Bồ đề tâm  
Thương tiếc danh tăng Đức Phật trong nền văn minh Ấn Độ
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2541 - 1997 Một chuyến đi về miền đất Phật
Mừng 52 năm, một chặng đường phát triển của đạo pháp Giác Ngộ với thiên niên kỷ 3
Vấn đề trẻ hóa lãnh đạo Suy nghĩ về số mệnh trong Phật giáo
Phật giáo Việt Nam, một tương lai tươi sáng Thiền trong đời thường
Kết quả Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV Hướng về Thánh tích của Phật giáo
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VI (1994)  

 

Cảm nghĩ về Đức Phật A Di Đà

         Kinh A Di Đà phát xuất từ kinh Quán Vô Lượng Thọ, theo đó Đức Phật xác định cuộc sống con người quá ngắn ngủi, nên Ngài chỉ người tìm về nơi có thọ mạng lâu dài, hay vô lượng thọ. Ngoài ra, kinh A Di Đà cũng phát sanh từ tinh thần mong muốn thoát khỏi thế giới khổ đau này để trở về sống ở cõi Cực Lạc vĩnh hằng.

Thật vậy, Đức Phật Thích Ca nói kinh này cho vua Tần Bà Sa La và hoàng hậu Vy Đề Hy nghe khi họ rơi vào tâm trạng khổ đau cùng cực, mạng sống mong manh như chỉ mành treo chuông, vì bị con là A Xà Thế soán ngôi, nhốt vô ngục. Trong lúc khổ sở vô cùng, vua và hoàng hậu mới thấm thía về lời Phật dạy về cuộc đời là khổ, giả tạm, vô thường. Lúc trước, Phật cũng dạy như vậy, nhưng còn ở ngôi vị có đầy quyền thế thì họ làm thế nào tin và nghe theo Phật được. Phải đến lúc lâm vào hoàn cảnh bi đát, tuyệt vọng cùng đường, họ chợt nhớ lời Phật dạy, thì không sợ khổ, sợ chết nữa và lóe sáng trước mắt nếp sống vĩnh hằng, an lạc ở thế giới phương Tây của Đức Phật Di Đà.

Kinh A Di Đà được Đức Phật thuyết ở Xá Vệ, lúc đó Ngài đâu còn ở Vương Xá mà nói kinh này cho vua nghe. Có thể hiểu rằng trong cảnh ngộ khổ đau quá sức, vua và hoàng hậu hết lòng hướng về Phật, tỏ ngộ được điều Phật dạy liền được giải thoát chứng Sơ quả. Họ nghe Phật dạy là nghe bằng tâm thanh tịnh và Phật đến với họ cũng bằng tâm thanh tịnh, từ bi. Vì vậy, kinh diễn tả là Phật hiện thân vô ngục nói pháp cho vua. Có thể nói kinh Di Đà thích hợp với hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm; vì Phật nói kinh này trong lúc bình yên, nhưng thực sự lúc gặp nguy biến, chúng ta mới cảm nhận ý Phật một cách sâu sắc.

Kinh Di Đà được phát triển mạnh khi truyền sang Trung Quốc và được ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Hán văn. Ngài Huệ Viễn lãnh hội yếu chỉ kinh và lập ra Tịnh độ tông. Khi tông này truyền sang Nhật Bản được ngài Pháp Nhiên và Thân Loan triển khai thành Tịnh độ tông và Chân tông, vẫn còn phát triển mạnh đến ngày nay. Ở Việt Nam không thành lập Tịnh độ tông, nhưng hầu hết các chùa từ thời Lê- Nguyễn là thời kỳ đen tối của Phật giáo đều có thờ cúng Đức Phật Di Đà. Cho đến thời cận đại, mặc dù chùa Việt Nam mang dáng dấp chùa Thiền và chư Tăng đều nhận hệ phả của Thiền tông, nhưng đa số các chùa đều tôn trí tượng Phật Di Đà, tụng kinh Di Đà và niệm hồng danh Phật A Di Đà hàng ngày. Phải chăng kinh Di Đà thích hợp, vì chúng ta không thể nào ưa thích thế giới khổ đau, nhiều bất trắc, nhất là trong cảnh nước mất nhà tan, mọi người hoàn toàn bất lực trước sóng gió khó khăn bủa vây dồn dập. Từ đó, chúng ta dễ dàng ước mơ được sống trong một thế giới an lạc. Rõ ràng có khổ mới mong được an vui, bị bức ngặt trong hạn hẹp mới ước mong vĩnh hằng. Vì vậy, Đức Phật nói kinh này thích hợp với người ở Ta bà, vì nơi đó mạng sống ngắn ngủi, vạn vật vô thường. Và xa hơn nữa, một số người diễn giải rằng sau Phật diệt độ, ở thời mạt pháp, tất cả kinh điển của Phật đều mất hết, chỉ còn kinh Di Đà tồn tại thêm một trăm năm. Và cuối cùng kinh Di Đà cũng mất, chỉ còn sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật.

Điều này được lý giải theo nhiều cách khác nhau. Nếu hiểu theo tinh thần tiêu cực, bi quan, họ cho rằng sau Phật diệt độ, giáo pháp sẽ suy vi và mất lần cho đến ngày nào đó thì bị tiêu luôn, không còn Phật pháp nữa. Bấy giờ, chúng ta chỉ còn cách duy nhất thực đáng thương là niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật để được vãng sanh. Tuy nhiên, theo tinh thần Đại thừa, đặc biệt là theo kinh Pháp Hoa, Đức Phật phương tiện hiện Niết bàn để mọi người tự nỗ lực tu hành, không ỷ lại có Phật bên cạnh lo cho ta. Mục tiêu của Phật nhằm chỉ dạy chúng ta con đường thăng hoa, phát triển xã hội, không phải đề ra tư tưởng tiêu cực dắt chúng ta vào ngõ cụt bi quan. Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật chỉ rõ sanh thân Thích Ca có nhập diệt, hay đó là hình ảnh của mạng người ngắn ngủi mà Ngài thường nhắc nhở chúng ta để đừng sanh tâm bám víu, tham đắm với thân hữu hạn ấy. Tuy nhiên, Đức Phật cho biết ngoài thân hạn hẹp, tạm bợ mà Ngài ứng hiện trên cuộc đời để độ sanh, Ngài còn có Báo thân viên mãn, nghĩa là thân phước đức trí tuệ vẹn toàn và Pháp thân vĩnh hằng bất tử.

Đức Phật giới thiệu với chúng ta Phật Di Đà có vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức; hay nói cách khác, đó là tiêu biểu của Báo thân Phật. Sở dĩ Phật Di Đà có ba điều quý báu vô giá ấy, vì Ngài đã trải qua vô lượng kiếp hành Bồ tát đạo, vun trồng hạt giống trí tuệ, hạt nhân khỏe mạnh và trồng cội công đức, mới hình thành được thân phước đức trí tuệ, tức Báo thân Phật. Điều đó mở ra cho chúng ta một định hướng mới rõ ràng của Phật giáo Đại thừa, theo đó chúng ta nỗ lực dấn thân trên con đường tự hành hóa tha để phát huy trí tuệ, kéo dài mạng sống, tạo mọi lợi ích cho đời, chứ không phải chỉ sống tiêu cực.

Thật vậy, trong kinh Bảo Tích nói rõ về tiền thân Đức Phật Di Đà trải qua quá trình tu hành, tự cải tạo cuộc sống thành tốt đẹp. Xưa kia, vì không có trí tuệ, Ngài cũng sống khổ đau, thọ mạng ngắn ngủi. Nhưng nhờ nương lời Phật dạy, Ngài phát huy trí tuệ, trở thành Pháp Tạng Tỳ kheo sáng suốt, giải thoát, an vui và từ đó bước chân vào đời, cứu khổ ban vui cho người, làm lợi ích cho đời, thì Ngài trở thành Pháp Tạng Bồ tát. Với phước đức trí tuệ của Bồ tát, Pháp Tạng dấn thân vào việc xây dựng thế giới Cực Lạc. Đến khi viên mãn hạnh nguyện Bồ tát, xây dựng xong Phật độ, Ngài trở thành Phật A Di Đà làm giáo chủ Tây phương Tịnh độ. Những gì Đức Phật Di Đà đã làm để thay đổi cuộc sống khổ đau thành an vui, đổi mạng sống ngắn ngủi thành lâu dài, thiết nghĩ không có gì là khó hiểu đối với chúng ta ngày nay. Trước kia, người sống đến 70 tuổi thì hiếm, nên người ta thường nói "Thất thập cổ lai hy”. Ngày nay, chúng ta sống đến 70,80 tuổi là việc bình thường. Nếu có sự hiểu biết về y học, biết giữ gìn sức khỏe, chúng ta dễ kéo dài được tuổi thọ. Chỉ một việc đơn sơ ấy, ta đã hình dung ra được đời sống ở thế giới Cực Lạc có vô lượng thọ như thế nào.

Theo tinh thần Pháp Hoa, nếu giáo pháp Phật cuối cùng chỉ gồm thu trong sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật thì điều đó có nghĩa là đạo Phật sống còn, tồn tại dài lâu với ba điều tiêu biểu quan trọng nhất: Trí tuệ, phước đức và sống lâu. Thiết nghĩ sức sống Phật giáo mang tính vĩnh hằng khi hàng đệ tử Phật trang bị vững vàng yếu tố trí tuệ (vô lượng quang), vì trí tuệ tồn tại mãi mãi, còn hình thức thì hữu hình hữu hoại. Đức Phật dạy đệ tử Ngài lấy trí tuệ làm sự nghiệp là nghĩa như vậy. Ngoài ra, đệ tử Phật hiện hữu để giúp đỡ và mang an vui cho người, làm lợi ích cho đời (là vô lượng công đức). Và chúng ta sống giản dị, nhưng khỏe mạnh và sống lâu (tức vô lượng thọ).

Kiến giải theo Pháp Hoa thì trí tuệ, công đức và sức khỏe tốt, sống lâu là thọ mạng của Phật pháp; nghĩa là chúng ta sinh hoạt như thế nào để đạo Phật phải là biểu tượng của phước đức và trí tuệ. Vì phước đức trí tuệ rọi vô tâm chúng sanh, biến chúng sanh thân thành Pháp thân để Phật pháp tồn tại. Nếu phước đức trí tuệ không có, nghĩa là hiểu biết của ta không bắt kịp mọi người, việc làm của ta chẳng lợi ích gì cho đời và cuộc sống của ta không bằng người, được coi như Phật nhập diệt.

Kết hợp Tịnh độ và Pháp Hoa nhìn về giáo pháp Phật mang tính vĩnh hằng bất tử là Pháp thân và Báo thân, thể hiện trong cuộc sống của hàng đệ tử Phật qua các thời đại. Vì vậy, dưới nhãn quan Pháp Hoa, không phải rời bỏ thế giới Ta bà đi đến thế giới cách đây mười muôn ức Phật độ mới có Đức Phật A Di Đà. Thiển nghĩ sinh hoạt của con người văn minh ngày nay cũng phải nhìn nhận rằng giáo lý chúng ta tuy đề cập nhiều vấn đề, nhưng nổi bật ba vấn đề là trí tuệ, công đức và sống lâu. Đó là những gì Phật dạy có giá trị thiết thực nhất trong mọi thời đại.

Tóm lại, trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật Thích Ca vẽ ra cho chúng ta thấy khổ đau hay an lạc, sáng suốt hay mê muội, sống lâu hay chết yểu, sống lợi ích cho đời hay vô dụng… đều do chính chúng ta quyết định. Một trong những vị tu hành đi theo dấu chân Phật, triển khai tư tưởng Tịnh độ theo chiều hướng tích cực nói trên có Tổ Huệ Đăng. Ngài dạy: Y theo giáo pháp Thích Ca

Tự nhiên bổn tánh Di Đà phóng quang.

Nghĩa là nếu hiểu rõ giáo pháp Thích Ca, ứng xử được tinh ba của giáo pháp trong cuộc sống thì chúng ta tỏ ngộ được bản tánh Di Đà là bản tánh sáng suốt của chính chúng ta. Chúng ta sáng suốt, tức Phật phóng quang, không phải Phật Di Đà bên ngoài phóng quang cho ta. Nương lời Phật dạy, trí chúng ta được khai mở, sáng suốt thì hết khổ đau, sống an lạc. Tinh thần trong sáng sẽ chỉ đạo cho ta có được việc làm thánh thiện, lợi lạc cho đời và sống an vui; đó là con đường mà Đức Phật Thích Ca, Phật Di Đà cùng chư Phật mười phương đều trải qua khi hành Bồ tát đạo giáo hóa chúng sanh vậy.