cool hit counter


Lời giới thiệu Hoằng pháp
Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa Những điều tâm đắc về hoằng pháp
Nguyện hương Kinh nghiệm hoằng pháp
Đảnh lễ Phật Hoằng pháp theo nhân duyên
Lễ Phật quá khứ Ý nghĩa thuyết pháp
Đảnh lễ Phật hiện tại Giáo dục và hoằng pháp
Lễ Phật vị lai Lời tựa     
Đảnh lễ Bồ tát Ý nghĩa kinh hành niệm Phật
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh hoằng thông liệt vị Tổ sư Ý nghĩa tĩnh tâm
Đảnh lễ Pháp Hoa kinh thủ hộ thiện thần Lục hòa
Sám hối Sáu pháp ba la mật
Phát nguyện Tịnh độ theo kinh Duy Ma
Ý nghĩa thọ trì 7 phẩm Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Tam minh
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ nhất Hồi hướng theo kinh hoa nghiêm
Ý nghĩa phẩm Pháp sư Xử thế của đạo Phật
Ý nghĩa phẩm Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15 Tam bảo
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 Nhập thế của đạo Phật
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17 Tứ hoằng thệ nguyện
Ý nghĩa phẩm Phổ Môn thứ 25 Xuân Di Lặc
Ý nghĩa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28 Báo hiếu theo kinh vu lan
Hồi hướng Phật giáo và pháp luật
Ý nghĩa tụng thủ hộ thần chú Khái niệm về giới luật của người phật tử tại gia
Ý Nghĩa Quy Y Tam Bảo Ý nghĩa xuất gia
Năm Giới Của Người Phật Tử Tại Gia Ngọn đuốc xuân
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Pháp Hoa Và Tụng Bổn Môn Pháp Hoa Kinh Ngũ uẩn
Ý Nghĩa Lạy Hồng Danh Sám Hối Hòa thượng Thích Quảng Đức, một con người bất tử
Ý Nghĩa Tụng Kinh Dược Sư Và Niệm Phật Dược Sư Mông sơn thí thực
Ý Nghĩa Niệm Phật Di Đà Tính cách pháp lý của giáo hội
Lời nói đầu Những thành quả của giáo hội Phật giáo Việt Nam
I. Lý do chọn 21 ngày tu gia hạnh Phổ Hiền
Ý nghĩa đại trai đàn
II. Ý nghĩa của sự khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày thành đạo của Phật Di Đà là ngày 17 tháng 11 và kết thúc vào ngày thành đạo của Phật Thích Ca là ngày mùng 8 tháng 12 Ý nghĩa phương tiện trong kinh Pháp Hoa
III. Kết luận Lắng tâm, tịnh niệm
Lời tựa Nghĩ đến việc tốt, làm việc tốt, tâm thanh tịnh.
Tổng luận Ngũ ấm ma trong chúng ta
Pháp hội 1 : Tam Tụ Luật Nghi Phát huy đạo lực
Pháp hội 2: Vô Biên Trang Nghiêm Đà la ni Phước đức và trí tuệ
Pháp hội 3 : Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Tấm gương sáng của tổ Huệ Đăng
Pháp hội 5: Vô Lượng Thọ Như Lai Tâm tạo ra tất cả
Pháp hội 6: Bất Động Như Lai Tu bồi cội phúc
Pháp hội 7: Mặc Giáp Trang Nghiêm Tùy duyên
Pháp hội 8: Pháp Giới Thể Tánh Vô Sai Biệt Thể nghiệm tinh ba của Phật pháp
Pháp hội 9 : Đại Thừa Thập Pháp Thiền định phóng quang và đàm kinh nhập diệu
Pháp hội 10: Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn Đoạn phiền não – tâm bình an
Pháp hội 11: Xuất Hiện Quang Minh & Pháp hội 12 : Bồ Tát Tạng Giàu đạo đức, giàu tuệ giác
Pháp hội 14: Phật Thuyết Nhập Thai Tạng Giới đức pháp thân
Pháp hội 15: Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký An trụ tịch diệt tướng
Pháp hội 16: Bồ Tát Kiến Thiệt Ý nghĩa Phật Đản theo kinh Pháp Hoa
Pháp hội 17: Phú Lâu Na Phật giáo và dân tộc Việt Nam
Pháp hội 18: Hộ Quốc Bồ Tát Hoằng pháp ở thế kỷ XXI
Pháp hội 19: Úc Già Trưởng Giả Dòng chảy miên viễn của Thiền
Pháp hội 20: Vô Tận Phục Tạng Đức Phật sống mãi với chúng ta
Pháp hội 21: Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La Đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật
Pháp hội 23: Ma Ha Ca Diếp Chùa mục đồng ở Nam bộ
Pháp hội 24: Ưu Ba Ly Thầy hiền, bạn tốt là yếu tố quyết định của mọi thành công
Pháp hội 25: Phát Thắng Chí Nguyện Phật giáo, con đường dẫn đến sự sống hòa bình, phát triển, an lạc, hạnh phúc cho nhân loại.
Pháp hội 26: Thiện Tý Bồ Tát Sức sống Thiền của Trần Thái Tông
Pháp hội 27 : Thiện Thuận Bồ Tát Sống trong tỉnh giác
Pháp hội 28: Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả Quan niệm về kinh tế trong Phật giáo
Pháp hội 29: Ưu Đà Diên Vương Những nét đẹp của Phật giáo Lý Trần
Pháp hội 30: Diệu Huệ Đồng Nữ Nghệ thuật trong Phật giáo
Pháp hội 31: Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di Ý nghĩa nhà lửa tam giới trong kinh pháp hoa
Pháp hội 32: Vô Úy Đức Bồ Tát Ý nghĩa lễ tắm Phật
1. Lời tựa Trang bị tâm Quan Âm, hạnh Quan Âm sẽ nhận được lực gia bị của Quan Âm
2. Khái niệm về kinh Duy Ma Ý nghĩa Vu Lan  
3. Quán chúng sanh theo kinh Duy Ma Công đức của mắt và tai theo kinh Pháp Hoa
4. Bất Nhị pháp môn trong kinh Duy Ma Nhứt Phật thừa
5. Ý nghĩa phẩm Phật Hương Tích trong kinh Duy Ma Quán tứ niệm xứ
6. Quan niệm về đức Phật trong kinh Hoa Nghiêm Tứ chánh cần
7. Ý nghĩa lễ Phật theo kinh Hoa Nghiêm Tứ như ý túc
8. Ý nghĩa phương tiện theo kinh Pháp Hoa Ngũ căn ngũ lực
9. Ý nghĩa thí dụ ba xe và nhà lửa trong kinh Pháp Hoa Thất Bồ đề phần
10. Ý nghĩa hóa thành dụ trong kinh Pháp Hoa Thúc liễm thân tâm
11. Pháp sư của kinh Pháp Hoa Tùy duyên  
12. Ý nghĩa Long Nữ dâng châu trong kinh Pháp Hoa Thanh tịnh hóa thân tâm
13. An Lạc Hạnh theo kinh Pháp Hoa Nhứt thiết Chúng sanh Hỷ kiến Bồ Tát
14. Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất Chánh kiến
15. Cảm niệm về Bồ Tát Phổ Hiền Tam quy và pháp niệm Phật
Lời tựa Khai Thị 2009 Hài hòa để cùng tồn tại và phát triển
Xuân trong Phật đạo Hạnh khiêm cung và bát kỉnh pháp
Phước Lộc Thọ An lạc hạnh  
Hạnh xuất gia Những kinh nghiệm giảng dạy
Vai trò người phụ nữ trong Phật giáo Kinh nghiệm giảng dạy Kinh Hoa Nghiêm
Hạnh nguyện Quan Âm Một số đề tài gợi ý cho những bài thuyết giảng của Tăng Ni sinh Khóa Giảng sư
Tàm Quý Nổ lực tự học để kế thừa và phát huy được tinh ba của Thầy, Tổ.
Họa phước vô môn Một số phương hướng cho ngành Hoằng pháp
An cư kiết hạ Vài suy nghĩ về Hoằng pháp trong thời hiện đại
Phật giáo và vấn đề tác hại của thuốc lá Hoằng pháp trong thế kỷ 21
Phật giáo và bảo vệ môi trường Nhà Hoằng pháp và giáo dục tiêu biểu trong thế kỷ XX
Phật giáo và thiếu nhi Hoằng pháp ở thế kỷ 21(thuyết giảng ngày 20 – 24 tháng 6 năm 2007)
Nói không với ma túy Điểm chung nhứt của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền
Đạo đức ở tại gia Mô hình Hoằng pháp tại nước nhà trong thời đại ngày nay
Mỉm cười trong đau khổ Tư cách của vị trụ trì
Phật giáo và dân số Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại
Kính lão đắc thọ Ý nghĩa trụ trì
Hành trì giới luật Trụ trì, người giữ chùa
Ý nghĩa Vu lan Kinh nghiệm làm trụ trì
Hạnh nguyện Địa Tạng Bồ tát Tam pháp ấn
Nối vòng tay lớn Nét đẹp của Phật giáo Nam Tông Khơ Me
Niềm vui của tuổi già Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện đại
Kiến thức và trí tuệ Điều thiết yếu của người tu : Sức khỏe tốt, trí sáng suốt và trái tim nhân ái
Tình người An trụ pháp tịch diệt
Hạnh nguyện Bồ tát hay Bồ tát đạo Hoằng pháp và trụ trì
Tha lực và tự lực Đạo đức hành chánh
Hạnh nguyện Dược Sư Ba điểm quan trọng đối với tân Tỳ kheo
Ơn Thầy Ý nghĩa thọ giới (Thuyết giảng tại chùa Phổ Quang)
Vượt qua mặc cảm Ý nghĩa thọ giới (thuyết giảng tại chùa An Phước)
Nghề nghiệp chân chánh Phát huy sức mạnh của Tỳ kheo trẻ : Học, tu và làm việc
Lời tựa Lược giải Kinh Hoa Nghiêm Truyền trao giới pháp và lãnh thọ giới pháp đúng như pháp.
CHƯƠNG I – LỊCH SỬ KINH HOA NGHIÊM
        I - Khái niệm về lịch sử kinh Hoa Nghiêm
Giới tánh Tỳ kheo
    II - Lịch sử truyền thừa và phát triển kinh Hoa Nghiêm Lời tựa       
  III - Nội dung kinh Hoa Nghiêm Tiểu sử
CHƯƠNG II – QUAN NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT THEO KINH HOA NGHIÊM
       I - Quan niệm về Đức Phật trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
Giới tánh tỳ kheo  
   II - Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Hoằng pháp và trụ trì  
  III - Quan niệm về Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm An lành và tĩnh giác
CHƯƠNG III - Ý NGHĨA ĐỀ KINH HOA NGHIÊM Nghĩ về sự thành đạo của Đức Phật
CHƯƠNG IV – BỒ TÁT ĐẠO
      I - Bồ tát Thập Tín
Mùa Xuân đọc kinh Hoa Nghiêm
  II - Bồ tát Thập Trụ Sự lớn mạnh của Phật giáo song hành với thành phố phát triển 300 năm
 III - Bồ tát Thập Hạnh Những quan niệm về Đức Phật
IV - Bồ tát Thập Hồi hướng Thế giới tâm thức và thế giới hiện thực
 V - Bồ tát Thập Địa hay Thập Thánh Pháp phương tiện
VI - Bồ tát Thập Định Tụng kinh, lạy Phật, sám hối và thiền quán
VII - Bồ tát Thập Thông Đức hạnh của vị Tỳ kheo
VIII - Bồ tát Thập Nhẫn Hành trình tâm linh : nẻo về vĩnh hằng của người tu
CHƯƠNG V – PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI Ý nghĩa Phật Đản PL. 2542 - 1998
   1- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Đức Vân Tỳ kheo Tiếp nối sự nghiệp của Đức Phật
   2- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Vân Tỳ kheo Nương nhờ đức từ của Tam bảo
   3- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Trụ Tỳ kheo Ý nghĩa Kim Cang thừa trong Phật giáo
   4- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Di Già Cảm nghĩ về Đức Phật A Di Đà
   5- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Giải Thoát Ý nghĩa Vu Lan 1998
   6- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hải Tràng Tỳ kheo Bồ Tát Đạo
   7- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Hưu Xã Ưu bà di Mùa An cư : sáu thời tịnh niệm
   8- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa Tinh thần Phật giáo Đại thừa
   9- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thắng Nhiệt Bà la môn Phật giáo hướng về tương lai
   10- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Từ Hạnh đồng nữ Ý nghĩa lễ Vu Lan PL 2542 - 1998 (thuyết giảng tại trường hạ chùa Hội Khánh)
   11- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thiện Kiến Tỳ kheo Chơn thân – huyễn thân
   12- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tự Tại Chủ đồng tử Tư cách của vị trụ trì  
   13- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Cụ Túc Ưu bà di Tâm từ bi của Đức Phật
   14- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Minh Trí 9 tuần tu học đồng đăng Cửu Phẩm Liên Hoa
   15- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Pháp Bửu Kế Những việc cần làm trong 3 tháng An Cư
   16- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Phổ Nhãn Những việc cần làm trong 3 tháng an cư Suy nghĩ về linh hồn trong Phật giáo
   17- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Vô Yểm Túc Hoằng pháp   
   18- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với vua Đại Quang Tìm hiểu ngôn ngữ của Đức Phật
   19- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bất Động Ưu bà di Mùa Xuân trên đất Bắc
   20- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Biến Hành ngoại đạo Lời tựa        
   21- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với trưởng giả Ưu Bát La Hoa Ý nghĩa cầu an
   22- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thuyền trưởng Bà Thi La Hạnh nguyện Phổ Hiền
23.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Vô Thượng Thắng hay Di Lặc Bồ Tát Bản chất Niết bàn
24- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân Niềm tin chân chánh
25- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với bà Tu Mật Đa nữ Hóa giải hận thù
26- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với cư sĩ Tỳ Sắc Chi La Phật giáo và hòa bình thế giới
28.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Chánh Thu Quốc thái dân an
27.- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ Tát Quán Tự Tại Giải tỏa oan ức
29- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với thần Đại Thiên Vững trước khen chê
30- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Địa thần An Trụ Ý nghĩa sức mạnh hòa hợp
31- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với chủ Dạ thần Bà San Bà Diễn Để Âm siêu dương thạnh
32- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Dạ thần Khai Phu Nhứt Thiết Thọ Hoa và Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Nhứt Thiết Chúng Sanh Thực tập nhẫn nhục
33- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Thọ thần Diệu Đức Viên Mãn Thành công và thất bại
34- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Bồ tát Di Lặc Chiến thắng chính mình
35- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Thân cận người trí
36- Thiện Tài đồng tử cầu đạo với Phổ Hiền Bồ tát Sống hạnh viễn ly
CHƯƠNG VI – PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI – PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN Ý nghĩa bờ bên kia
16. Niết bàn theo kinh Pháp Hoa Hương thơm đức hạnh
17. Giáo dục của Phật Giáo Đại Thừa Tòa án lương tâm
18. Những điều kiện tu Bồ Tát đạo Củng cố niềm tin
19. Ngôi chùa tâm linh Giá trị cuộc sống
20. Hành trình về chân linh Giáo dục con cái
21. Tu tâm Vượt qua tật bệnh
22. Canh tâm điền Đền ơn đáp nghĩa
23. Đường về Yên Tử Thân phận con người
24. Nếp sống của một vị danh tăng Sức mạnh của ý chí
25. Ý nghĩa Phật Đản Pl.2538 (Tứ Nhiếp Pháp) Quan niệm về Tịnh Độ
26. Ý nghĩa lễ đức Phật thành đạo Cư trần lạc đạo
27. Phật giáo Việt Nam đang hướng về phía trước trên tinh thần vô ngã vị tha Làm mới cuộc sống
28. Xuân hoan hỷ Lời tựa        
29. Xuân trong cửa thiền Ăn chay lợi cho sức khỏe và tâm linh
30. Xuân của hành giả Pháp Hoa Chuyển hóa sanh thân thành pháp thân
Lời tựa lược giải kinh Pháp Hoa Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam
Lịch sử kinh Pháp Hoa Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông – vị Tổ sư người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam
Kinh đại thừa vô lượng nghĩa Mật tông tại Việt Nam
Phẩm 1: Tựa Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng
Phẩm 2: Phương tiện Phật giáo đi vào cuộc sống
Phẩm 3: Thí dụ Sự hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ
Phẩm 4: Tín giải Sức mạnh hòa hợp
Phẩm 5: Dược thảo dụ Tác động hỗ tương giữa thân và tâm
Phẩm 6: Thọ ký Tận dụng phương tiện hiện đại trong việc hoằng pháp
Phẩm 7: Hóa thành dụ Tứ chánh cần  
Phẩm 8,9: Ngũ bá đệ tử thọ ký, thọ học vô học nhơn ký Tu thiền tại Việt Nam
Phẩm 10: Pháp sư Vai trò của ni giới Việt Nam trong xã hội hiện đại
Phẩm 11: Hiện bảo tháp Ý nghĩa hóa thân Phật thuyết pháp
Phẩm 12: Đề Bà Đạt Đa Ý nghĩa kệ dâng y
Phẩm 13: Trì Ý nghĩa tập trung phân thân
Phẩm 14: An lạc hạnh Ý nghĩa tịnh độ
Phẩm 15: Tùng Địa Dũng Xuất Cầu nguyện mùa vu lan
Phẩm 16: Như Lai thọ lượng Cư sĩ Phật giáo
Phẩm 17: Phân biệt công đức Đạo đức Phật giáo trong tương lai
Phẩm 18: Tùy hỷ công đức Điểm chung nhứt của Phật giáo nam truyền và bắc truyền  
Phẩm 19: Pháp sư công đức Giới luật của người Phật tử tại gia
Phẩm 20: Thường bất khinh Bồ Tát Bồ đề quyến thuộc
Phẩm 21: Như Lai thần lực Mối tương quan với thế giới siêu hình
Phẩm 22: Đà La Ni Chân tinh thần Phật giáo Bắc tông
Phẩm 23: Dược Vương Bồ Tát bổn sự Trồng căn lành và sám hối
Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát Lợi ích của an cư kiết hạ
Phẩm 25: Phổ môn Tứ niệm xứ, tứ chánh cần
Phẩm 26: Diệu Trang nghiêm vương bổn sự Mùa xuân vĩnh hằng
Phẩm 27: Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát Kiến trúc Phật giáo
Phẩm 28: Chúc lụy Kiến trúc Phật giáo  
Preface Niềm tin của người phật tử Việt Nam
Lời tựa lược giải kinh Duy Ma Sự an lạc trong gia đình
Tổng luận lược giải kinh Duy Ma Báo đáp ơn nghĩa sinh thành
Phẩm 1: Phật quốc Quan niệm về tịnh độ của kinh Di Đà
Phẩm 2: Phương tiện   Tam pháp ấn  
Phẩm 3: Thanh văn Tinh thần từ bi hỷ xả, con đường tốt nhất đi đến hòa bình, phát triển và an lạc cho nhân loại
Phẩm 4: Bồ Tát Từ bi và hòa bình trong Phật ngọc
Phẩm 5: Văn Thù Sư Lợi thăm bệnh Tình yêu và giới tính theo tinh thần Pháp Hoa
Phẩm 6: Bất tư nghì Xây chùa, tô tượng, đúc chuông
Phẩm 7: Quán chúng sanh Xuân trong cửa đạo
Phẩm 8: Phật đạo Bồ Tát Thích Quảng Đức, một bậc danh tăng siêu việt của thế kỷ 20
Phẩm 9: Nhập bất nhị pháp môn Cái chết đối với người phật tử
Phẩm 10: Phật Hương Tích Giáo dục ở tự viện
Phẩm 11: Bồ Tát đạo Giới định tuệ
Phẩm 12: Kiến Phật A Súc Khắc phục nghiệp, giữ chánh niệm, trụ chánh định
Phẩm 13: Pháp cúng dường Khởi nghiệp mưu sinh theo Phật giáo
Phẩm 14: Chúc lụy Lễ Phật theo bổn môn Pháp Hoa
Lời tựa           Ngôi chùa tâm linh
Lịch sử Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Nhập không môn, vào vô lượng nghĩa định
Ý nghĩa Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Nữ giới Phật giáo và sự kết nối toàn cầu
Ý nghĩa phẩm Tựa thứ I Pháp phục của tăng ni Việt Nam
Ý nghĩa phương tiện và chân thật Phật giáo và môi trường sinh thái  
Ý nghĩa Thí Dụ Phật giáo và phù đổng Thiên Vương
Ý nghĩa phẩm Pháp Sư thứ 10 Thâm nhập không môn
Ý nghĩa phẩm An Lạc Hạnh thứ 14 Trụ định, hành trang tối thiểu của người tu
Ý nghĩa phẩm Bồ Tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ mười lăm Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng
Ý nghĩa phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ mười sáu Tu vô lượng nghĩa kinh, sống trong vô lượng nghĩa định, thâm nhập hội Pháp Hoa.
Ý nghĩa phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, phẩm Pháp Sư công đức thứ 19 Vô lượng nghĩa kinh và vô lượng nghĩa xứ tam muội
Bồ Tát hạnh: Dược Vương Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Diệu Trang Nghiêm Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát Xây dựng đạo đức của người tu
Lời tựa           Yếu nghĩa của phẩm pháp sư, kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 33 : Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện Bổn Môn Pháp Hoa Kinh
Pháp Hội 34 : Công Đức Bửu Hoa Phu Bồ Tát Nghi thức Hồng Danh sám hối
Pháp Hội 35 : Thiện Đức Thiên Tử Kinh Dược Sư
Pháp Hội 36 : Thiện Trụ Ý Thiên Tử Nghi thức Cầu an
Pháp Hội 37 : A Xà Thế Vương Tử Nghi thức Cầu siêu
Pháp hội 38: Đại Thừa Phương Tiện Nghi thức Vu Lan - Báo hiếu
Pháp Hội 39 : Hiền Hộ Trưởng Giả Kinh Bát Đại Nhân Giác
Pháp Hội 40 : Tịnh Tín Đồng Nữ Hướng đi của Phật giáo Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
Pháp Hội 41 : Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp Những điều tâm đắc về hoằng pháp ( thuyết giảng tại Bình Định)
Pháp Hội 42 : Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Ý nghĩa Phật đản PL. 2550-2006
Pháp Hội 43 : Phổ Minh Bồ Tát Mỹ thuật Phật giáo
Pháp Hội 44 : Bửu Lương Tụ Vai trò của người phụ nữa trong kinh Hoa Nghiêm
Pháp Hội 45 : Vô Tận Huệ Bồ Tát Những tư tưởng hòa bình, hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam
Pháp Hội 46 : Văn Thù Thuyết Bát Nhã Đức Phật hằng hữu trong mỗi chúng ta
Pháp Hội 47 : Bửu Kế Bồ Tát Vai trò của Tăng già trong thời hiện đại
Pháp Hội 48 : Thắng Man Phu Nhân Phật giáo trong nền toàn cầu hóa
Pháp Hội 49 : Quảng Bác Tiên Nhân Giáo dục Phật giáo
Pháp Hội 50 : Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm Một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 52 : Bửu Nữ Ý nghĩa cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa
Pháp Hội 53 : Bất Thuấn Bồ Tát Tịnh độ
Pháp Hội 54 : Hải Huệ Bồ Tát Hóa thành dụ
Pháp Hội 55 : Hư Không Tạng Bồ Tát Phật giáo Nam tông vá Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Pháp Hội 56 : Vô Ngôn Bồ Tát Phật giáo trong lòng nhân dân miền Nam
Pháp Hội 57 : Bất Khả Thuyết Bồ Tát Vị trí của Pháp sư Huyền Trang trong Phật giáo
Pháp Hội 58 : Bửu Tràng Bồ Tát Xuân về trên cõi Tịnh
Pháp Hội 59 : Hư Không Mục Vãng sanh cực lạc
Pháp Hội 60 : Nhựt Mật Bồ Tát Cầu siêu bạt độ
Pháp Hội 61 : Vô Tận Ý Bồ Tát Công đức của kinh Pháp Hoa
Lời tựa  Nghệ thuật trong Phật giáo  
Tiểu sử   Hoằng pháp ở thế kỷ 21
Thọ giới, tu hành, nỗ lực thâm nhập dòng thác trí tuệ An cư dưỡng tánh - Thị phi phủi sạch
Thỏa hiệp với thân, với bạn đồng tu và xã hội Giữ giới và quán chiếu với tứ Thánh đế
Thức ăn tinh thần của người tu Gắn tâm với Đức Phật, với giáo pháp và Hiền thánh tăng
Thực tu, cảm hóa được chư thiên và quần chúng Bốn pháp giải thoát
Trau dồi giới đức, siêng tu tam vô lậu học Gạn sạch phiền não, nghiệp chướng, trần lao
Lời tựa    Sám hối nghiệp chướng
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2539 -1995 Pháp Hoa chân kinh
Tam vô lậu học Ý nghĩa 12 đại nguyện của Đức Phật Dược Sư
Quý nhất trên đời Vũ trụ quan theo Phật giáo
Những việc làm trong mùa mưa của chư Tăng Sống an lạc, chết siêu thoát
Ý nghĩa Vu lan PL. 2539 - 1995 Phật lực, pháp lực và gia trì lực của chư Tăng
Nhìn về thế kỷ 21 Quan niệm về đức Phật theo kinh Pháp Hoa  
Xuân Pháp Hoa Pháp Phật và an toàn giao thông
Hướng về tương lai Đức Phật của chúng ta
Ý nghĩa Niết bàn Đạo đức Phật giáo
Internet, những nỗi lo mới Bồ tát hạnh theo kinh Pháp Hoa
Ý nghĩa Phật Đản PL. 2540 -1996 Mùa xuân của hành giả phát tâm bồ đề
Cảm nghĩ về hoài bão của Đức Phật Những điều tâm đắc về kinh Pháp Hoa
Phật giáo và thực tiễn cuộc sống Ý nghĩa Phật Đản PL 2543 - 1999
Sinh hoạt trong mùa An cư Kinh nghiệm hoằng pháp  
Suy nghĩ về ý mã tâm viên Tìm hiểu xã hội học Phật giáo
Suy nghĩ về hoằng pháp Theo dấu người xưa
An lạc hạnh Những điều cần làm trong mùa An cư
Tam vô lậu học : Giới-Định-Tuệ Bốn bậc trưởng lão được kính trọng
An cư kiết hạ   Trở về viên minh tánh
Cơm Hương Tích Điều kiện để có kinh Pháp Hoa
Ý nghĩa lễ Vu lan Vai trò của trụ trì trong giai đoạn hiện tại  
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2540 - 1996 Ý nghĩa an cư kiết hạ
Ơn nghĩa đồng bào Bồ tát quả môn
Hướng về những người con tương lai của đất nước Mùa an cư - tiến tu tam vô lậu học
Hãy đến với Chương trình "Hiểu và Thương" Công việc của Tỳ kheo chân chánh
Lòng từ của Bồ tát Quan Âm Hành trang của người xuất gia: đức hạnh và trí tuệ
Bồ đề tâm Bất biến, tùy duyên
Suy tư của người Phật tử về những vấn đề lớn Bàn về nghi lễ
Đầu tư - vấn đề nan giải Tu hành đúng như pháp là tối thượng cúng dường
Những điều tâm đắc trên đường về Chọn pháp tu an lạc
Lấy từ bi xóa hận thù Phát huy chân linh
Thuận lợi và nguy cơ Nghĩ về Phật giáo Nhật Bản
Lá thư Tổng Biên tập Ý nghĩa phẩm Tín giải trong kinh Pháp Hoa
Lá thư Xuân (trích Nguyệt san GN số 10) Bồ đề tâm  
Ý Xuân Đức Phật trong nền văn minh Ấn Độ
Lá thư Xuân (trích Báo GN số 41) Một chuyến đi về miền đất Phật
Những suy nghĩ về Hội nghị kỳ 5 khóa III Trung ương Giáo hội Giác Ngộ với thiên niên kỷ 3
Năm mới với niềm hy vọng mới Suy nghĩ về số mệnh trong Phật giáo
Trách nhiệm và chức vụ Thiền trong đời thường
Thành quả của Đại hội Phật giáo TP. HCM kỳ V Hướng về Thánh tích của Phật giáo
Sự đi lên của Phật giáo miền Trung Birds
Hướng phát triển tốt đẹp trong mùa An cư Jharana
Hướng về ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7 Journey to Nanjing (Part 1)
Lễ Vu lan - ngày đền ơn đáp nghĩa của Đông phương Air
Thương tiếc danh tăng Aster
Ý nghĩa lễ Vu lan PL. 2541 - 1997 Flowing Energy
Mừng 52 năm, một chặng đường phát triển của đạo pháp Journey to Nanging (Part 2)
Vấn đề trẻ hóa lãnh đạo Jacaranda
Phật giáo Việt Nam, một tương lai tươi sáng Tao
Kết quả Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV Journey to Nanjing (Part 3)
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VI (1994) Garden Of Bliss
Tham luận của Thành hội PG TP. HCM tại Đại hội MTTQ TP lần thứ VII (1999) Phul Ko Thunga
Cảm niệm cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa Haawa
Cảm niệm ân sư Veta Dosha
Đức Pháp chủ là biểu tượng đoàn kết các hệ phái Phật giáo Earth
Cảm niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ Samudera
Cảm niệm về Hòa thượng Thích Thiện Hào Kapha Dosha
Duyên kỳ ngộ Sankhya
Hồi tưởng về đức hạnh của Hòa thượng Thích Tâm Thông Knowledge Of Life
Sáng niềm tin Garden Of Bliss (Reprise)
Một hình ảnh khó quên trong cuộc đời hoằng pháp của tôi Track 1
Cảm niệm ân sư (Kỷ niệm lễ chung thất Hòa thượng Thích Trí Đức) Track 2
Những kỷ niệm với Hòa thượng Thích Thiện Châu Track 3
Nghĩ về Hòa thượng Thích Thanh Kiểm Track 4
Tưởng niệm Ni trưởng Huê Lâm Track 5
Ni sư Huỳnh Liên Track 6
Nghĩ về Ni trưởng Như Hòa nhân ngày Tiểu tường Track 7
Lời nói đầu   Track 8

 

Đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật

                  
Đầu Xuân, chúng ta về chùa Bửu Thiền ở Long Thành gợi cho Thầy nhớ đến sự hành đạo của Hòa thượng Trí Đức cách đây tám mươi năm. Vào thời kỳ ấy, Pháp đang đô hộ nước ta, đạo Phật còn bị hạn chế sinh hoạt rất nhiều. Hòa thượng hành đạo đầu tiên không phải ở chùa này, nhưng ở chùa Cô Hồn, thuộc xã Phước Long. Chùa có tên như vậy vì không có Thầy tu ở. Mỗi năm, Phật tử trong vùng mời ban kinh sư chẩn tế cô hồn để cầu phúc cho nhân dân địa phương. Dân ở đây không hiểu giáo lý, không tu, họ chỉ nghĩ đơn giản rằng cô hồn đói khát hay quậy phá, nên cúng cho ăn để phò hộ cho người trong làng được bình yên.
Hòa thượng Trí Đức từ chùa Huê Nghiêm lên đây, thấy ngôi miếu cô hồn trống vắng, ngài mới ở đây tu. Là bậc chân tu chuyên tụng kinh Pháp Hoa, ngài không quan tâm đến việc ăn, mặc, ở và quên cả sự hiện hữu của mình. Ở ngôi miếu bỏ hoang ấy, ngài nhiếp tâm niệm Phật. Sự quyết tâm tu của ngài đã khiến cho Long thiên Hộ pháp phải cảm động. Trong một đêm, nhiều người dân làng nằm mộng thấy thần Hộ pháp mách bảo rằng nên đến cúng dường một Thầy tu ở miếu cô hồn. Họ liền tìm đến ngôi miếu hoang thì thấy Hòa thượng không có một vật dụng gì, không có cả thức ăn. Họ mới có niềm tin đối với ngài và Hòa thượng đã ở đó, làm thuốc nam cứu người, chữa được nhiều bệnh nan y, nổi tiếng là vị thầy thuốc giỏi, đạo đức. Dân chúng ở Long Thành quý mến hạnh đức của Hòa thượng, nên khi ngài về chùa Huê Nghiêm, Thủ Đức, hàng năm Phật tử đều tập trung về thăm viếng, đảnh lễ ngài.
Thầy nghĩ rằng nếu chúng ta quyết tâm tu, kinh Pháp Hoa gọi là vì đạo không tiếc thân mạng, mới đến được với đạo. Chúng ta tu không được kết quả tốt vì chưa hoàn toàn thực sự vì đạo, còn nghĩ đến cuộc sống vật chất, nghĩ đến thân chúng ta nhiều hơn và nghĩ đến tài sản của ta, gia đình con cháu ta. Vì thế, tâm chúng ta không tập trung được, bị cảnh vật chi phối, kéo chúng ta vào cuộc sống vật chất, khiến chúng ta phải luôn ở trong sanh tử luân hồi; sanh tử từ một hơi thở, một sát na tâm của chúng ta.
 Theo Pháp Hoa, Phật dạy rằng Ngài đắc đạo, đạt quả vị Toàn giác, mới thấy rõ trong tam giới, chúng sanh không có sanh tử. Đức Phật từ sanh tử mà chứng được Niết bàn. Trong khi chúng ta ở trong Niết bàn của chư Phật mà lại hiện ra sanh tử. Thật vậy, trong tam giới không có sanh tử, nhưng vì vô minh, vọng kiến ngăn che, nên sanh ra các tánh ham muốn khác nhau, tạo tội sai biệt. Đó chính là nguyên nhân làm cho chúng ta ở trong sanh tử và khổ đau. Rồi sống trong sanh tử, bị dày xéo bởi những ham muốn khác nhau, nên chúng sanh đã tạo các tội lỗi khác nhau, họ mới gánh chịu vô số cái khổ khác nhau. Tuy nhiên, theo Phật huệ thì vô vàn khổ đau trên cuộc đời trong sanh tử giống như cái khổ trong giấc chiêm bao mà thôi. Có một câu chuyện nổi tiếng nói lên ý này. Ông Lô Sanh có ham muốn rất lớn, mới đặt ra mục tiêu phấn đấu cho mình là phải ráng học giỏi, thi đỗ cao, tạo được sự nghiệp công danh để hưởng thụ cuộc sống sung sướng. Trên đường đi thi, ông ghé vào quán trọ, nhưng đã hết thức ăn, chủ quán bảo ông chờ họ nấu cháo kê. Mệt mỏi, ông ngủ thiếp đi và nằm mơ thấy mình thi đỗ trạng nguyên, được vua gả công chúa, được phong làm phò mã. Rồi ông lãnh binh đánh thắng trận, lại được vua nước đó phong cho làm phò mã. Vậy là ông làm phò mã của hai nước và thống nhất giang sơn. Sau đó, ông bị một người nổi loạn giết chết. Khi bị chém đầu, ông giựt mình thức dậy. Ông liền tỉnh ngộ, đi tu vì nhận ra cuộc đời ngắn ngủi, phù du, không thực, giống như một giấc mộng. Ông làm bài thơ nổi tiếng "Giấc mộng kê vàng” như sau:
Công danh phú quý
     Ngũ thập dư niên
Bất quá phiến thùy
Mộng lý huỳnh lương
Du dị thục.
Nghĩa là trong giấc chiêm bao, mộng thấy suốt một đời ông nỗ lực tạo dựng công danh phú quý trên năm mươi năm, nhưng tỉnh dậy sau một giấc ngủ thiếp đi, thì nồi cháo kê của người chủ quán nấu cho ông cũng chưa chín. Đời người cũng vậy, chỉ là một giấc chiêm bao, hiện hữu trong một khoảnh khắc nào đó để rồi biến mất.
Hòa thượng Nhất Hạnh trong chuyến viếng thăm chùa Ấn Quang vừa qua, ngài nói với Thầy rằng nhớ lại năm mươi năm trước đã tu ở đây, nhưng nay thì người quen biết chỉ còn tên, còn hình trên bàn thờ. Nếu quả tình một kiếp người sống như vậy thì có nghĩa gì. Đức Phật và các vị Thánh Tăng, các bậc cổ đức nhận ra cuộc đời tạm bợ như thế, các Ngài đã sống và tìm về thế giới vĩnh hằng, tìm con người thực của mình. Và con người thực ấy, theo Phật dạy thì trong tam giới không có sanh tử. Tăng Ni, Phật tử tu hành, trước sau gì cũng đạt đến quả vị không sanh tử là con người thực của chúng ta. Từ nghìn xưa cho đến ngày nay và mãi đến nghìn sau, con người thực này không thay đổi. Thật vậy, trong phẩm Tựa thứ nhất của kinh Pháp Hoa, Phật khẳng định rằng từ thời Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh xa xưa, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi và Di Lặc đã hiện hữu và đến thời Phật Thích Ca, Văn Thù và Di Lặc Bồ tát cũng vẫn hiện hữu. Di Lặc Bồ tát từ thời Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh và thời Phật Thích Ca là một người, không phải hai người khác. Văn Thù Bồ tát cũng vậy, cũng là một người từ thời Phật quá khứ cho đến thời Phật Thích Ca. Văn Thù và Di Lặc này bất tử, nhưng không phải chỉ có Văn Thù và Di Lặc Bồ tát bất tử. Tất cả chúng ta cũng ở trạng thái bất tử, nhưng vì chúng ta để vô minh, vọng kiến ngăn che, sanh khởi, mà có hiện tượng sanh tử khổ đau. Nhận chân được con người thực không có sanh tử và chúng ta cũng hành đạo trên con người không có sanh tử, không có vọng kiến thì mới đạt đến quả vị Phật được. Còn hành đạo trên con người vọng kiến ngăn che là tam độc tham sân si ngăn che tâm chúng ta, nên chúng ta không nhận ra được con người thực của mình. Phần nhiều chúng ta nhận ngũ uẩn là ta, nhận cái ngăn che con người thực là ta. Vô minh, vọng kiến đã tạo nên con người sanh tử của chúng ta thay hình đổi dạng trăm kiếp ngàn đời, trong khi con người thực không sanh tử của chúng ta không thay đổi.
Và khi đã mang thân sanh tử rồi, thì ở trong sanh tử, chúng ta lại hành sử theo tham, sân, si, tạo ra vô số tội sai biệt, nên phải thọ lãnh quả báo sanh tử, phải khổ đau. Từ nặng nhất là sự khổ đau của Vô gián địa ngục, là khổ hoàn toàn, không có gì mình bằng lòng và bị hành hạ liên tục, cái khổ không lúc nào dừng lại. Thí dụ như những người tù binh, những người Do Thái bị Đức Quốc xã hành hạ, giết chóc. Cho đến những cái khổ nhẹ hơn, khổ trong ngạ quỷ, súc sanh, A tu la. Không ai hành hạ, nhưng chính sự đói khát làm họ khổ, hoàn cảnh sống tồi tệ, ai cũng ghét bỏ, gây khó khăn, v.v… khiến họ khổ.
Chúng sanh khổ may mắn gặp Phật pháp, được Phật khai ngộ, bắt đầu tự tạo cuộc sống thoát khổ, sẽ được an vui. Khởi đầu, Phật tử tu hành, cần đóng kín cửa ba đường ác và mở rộng con đường nhơn thiên để đi. Không nhận ra con đường này, vẫn tu trong sanh tử khổ đau. Thực tế có người nói rằng tu suốt đời sao vẫn khổ. Họ tụng kinh, lạy Phật, cúng dường, nhưng phần nhiều làm trong ảo giác, trong vọng kiến. Ngài Nhật Liên gọi đó là người phá pháp tội chướng. Vì nếu tu đúng pháp, cúng dường Phật, phải được phước. Chúng ta bố thí, cúng dường, thì xem kết quả có đúng với lời Phật dạy hay không. Thí dụ mua chim phóng sanh để tạo cơ hội cho người ta bắt chim, làm sao có phước được.
Đối với người tu Pháp Hoa, Phật dạy phải đúng như pháp tu hành là tối thượng cúng dường Phật. Khi chưa biết đạo, chưa quy y, gia đình bất hòa; nhưng biết tu rồi, gia đình phải hòa thuận, vui vẻ. Thầy thường quan sát những Phật tử trong đạo tràng Pháp Hoa, người nào dắt dẫn con cháu đến chùa được, nhìn nét mặt họ, cuộc sống của họ, của gia đình họ là biết nhân địa tu hành của họ. Theo Pháp Hoa, Bồ đề quyến thuộc rất quan trọng. Nhờ tu mà sanh con thông minh, đạo đức, có năng lực. Bốn thế hệ từ ông bà đến con cháu đều tốt là biết họ tu tốt. Tu hành của chúng ta là làm cho người trong nhà và người ngoài phát tâm. Tánh tình hiền lành của chúng ta, sự nhẫn nhịn của chúng ta, con cái học giỏi, gia đạo tốt, v.v… là cách cúng dường Phật tốt nhất. Còn vật dụng cúng dường có hay không cũng được, vì vật chất là phù vân, hợp tan, không thực.
Tu tạo được phước báo nhơn thiên và quả vị Niết bàn là con đường Phật vẽ ra cho hàng đệ tử theo. Phước báo nhơn thiên có trước. Phật dạy chúng ta nên sống thực tế, đoạn tuyệt tham sân si. Sống thực tế là có gì ăn đó, có gì mặc đó, tùy hoàn cảnh mình mà sống. Điển hình như Hòa thượng Huê Nghiêm ở am cô hồn, không lo toan đời sống vật chất, nhưng phước báo sanh ra, dân chúng mang gạo đến cúng. Chánh báo như thế nào thì y báo theo đó tương ưng. Không khởi lòng tham, mới nhận ra con người thực của mình ở trong sanh tử mà không kẹt sanh tử. Không khởi vọng tâm điên đảo thì nhận được Phật lực gia bị, chúng ta mới sáng suốt, có trái tim nhân ái và sức khỏe. Đó là ba điều căn bản trong nhơn thiên mà chúng ta tu tạo để làm hành trang trên bước đường theo dấu chân Phật. Chúng ta cần phát huy được ba phước này thì đạo Phật chúng ta sáng thêm. Có lòng thương và sức khỏe tốt để giúp người, có thông minh để biết đúng, làm đúng; việc của chúng ta sẽ tốt lần và gia đình, xã hội sẽ trở nên tốt theo việc tốt của chúng ta. Chúng ta không làm gì cho Phật, nhưng dùng trí thông minh, trái tim nhân ái và sức khỏe tốt làm cho gia đình bình an, làm cho người phát tâm, kính trọng Phật, tu theo Phật đạo, thì đó là công đức lớn nhất.
Thầy cầu mong tất cả mọi người đều được Phật hộ niệm để thông minh giải quyết được mọi khó khăn, được khỏe mạnh để làm việc tốt và ai cũng tạo được công đức dâng cúng Phật.